Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn tháng 3 và quý I năm 2024

Thứ sáu - 29/03/2024 05:22
Quý I năm 2024, chỉ số sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng 2,77% so với cùng kỳ.
Ngay từ đầu năm, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt về thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2024. Thực hiện chủ trương tập trung cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, tạo bước chuyển biến mới trong thu hút đầu tư, tỉnh tích cực hỗ trợ các tập đoàn, doanh nghiệp triển khai các dự án đầu tư trọng điểm. Hoạt động sản xuất công nghiệp cơ bản ổn định, nhiều doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ và các hợp đồng đặt hàng. Hoạt động thương mại diễn ra sôi động, nhất là trong dịp tết Nguyên đán, giá cả các mặt hàng cơ bản ổn định, hàng hóa phong phú, đa dạng, bảo đảm phục vụ nhu cầu của người dân, không có hiện tượng thiếu hàng cũng như tăng giá đột biến. Tiến độ gieo trồng cây trồng vụ Xuân đảm bảo theo khung thời vụ, thời tiết tuy có rét đậm, rét hại nhưng không kéo dài, xen kẽ với các đợt nắng ấm, có mưa, cây trồng sinh trưởng phát triển tốt, sản lượng vụ Đông tăng so với cùng kỳ. Nhu cầu vật tư phân bón, giống cây trồng được đáp ứng đầy đủ. Kết quả tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2024 đạt được một số kết quả như sau:
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
1.1. Nông nghiệp

Trong quý I, người dân tập trung thu hoạch các cây rau màu vụ Đông năm 2023, làm đất, gieo trồng vụ Xuân 2024, chủ động chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại. Tiến độ gieo trồng cây trồng vụ Xuân đảm bảo tiến độ theo khung thời vụ, thời tiết tuy có rét đậm, rét hại nhưng không kéo dài, xen kẽ với các đợt nắng ấm, có mưa, cây trồng vụ Đông (rau các loại, khoai tây) sinh trưởng phát triển tốt, sản lượng tăng so với cùng kỳ. Nhu cầu vật tư phân bón, giống cây trồng được đáp ứng đầy đủ. Hệ thống kênh mương cơ bản đều đã được tu sửa, nạo vét, thông nước tưới đến mặt ruộng, phục vụ kịp thời cho gieo cấy vụ Xuân. Hiện nay lượng nước từ các ao, hồ, sông suối cơ bản đáp ứng được cho nhu cầu sản xuất. Công tác vệ sinh tiêu độc khử trùng môi trường chăn nuôi, phòng, chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được triển khai thường xuyên, giảm thiệt hại và lây lan phát sinh. Công tác bảo vệ và phát triển rừng thực hiện có hiệu quả; công tác quản lý giống cây lâm nghiệp thường xuyên được cập nhật, theo dõi. Hoạt động khai thác thuỷ sản được duy trì, phong trào nuôi cá ao, hồ, nuôi cá lồng trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển ổn định.
1.1.1. Trồng trọt
* Cây hằng năm
- Thu hoạch vụ Đông
Tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm vụ Đông năm 2024 thực hiện được 4.437,63 ha, tăng 8,16% (+334,82 ha) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích gieo trồng tăng chủ yếu ở cây ớt cay, thuốc lá do thị trường tiêu thụ, xuất khẩu ổn định, đem lại giá trị kinh tế nên người dân mở rộng diện tích gieo trồng.
Cây ngô: Tổng diện tích gieo trồng thực hiện được 259,43 ha, tăng 21,32% (+45,59 ha) so với cùng kỳ năm trước. Cây ngô vụ Đông được trồng chủ yếu ở huyện Hữu Lũng (+68 ha), Chi Lăng (+2,8 ha). Năng suất đạt 44,49 tạ/ha, giảm 2,96% (-1,35 tạ/ha). Sản lượng đạt 1.154,08 tấn, tăng 17,72% (+173,76 tấn) so với cùng kỳ.
Cây lấy củ có chất bột: Diện tích gieo trồng thực hiện được 796,02 ha, tăng 21,03% (+138,3 ha) so với cùng kỳ, diện tích cây lấy củ có chất bột tăng chủ yếu ở diện tích gieo trồng cây khoai tây (+134,05 ha). Diện tích gieo trồng cây khoai tây thực hiện được 746,9 ha, diện tích gieo trồng tăng chủ yếu ở các huyện Tràng Định (+13,65 ha) và huyện Cao Lộc (+47,06 ha); năng suất đạt 129,91 tạ/ha, tăng 1,67% (+2,13 tạ/ha); sản lượng đạt 9.703,19 tấn, tăng 23,91% (+1.872,15 tấn) so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng cây khoai lang đạt 47,31 ha, tăng 11,95% (+5,05 ha) so với cùng kỳ, diện tích tăng chủ yếu ở huyện Hữu Lũng (+17,27 ha) và huyện Cao Lộc (+1,79 ha); năng suất đạt 70,0 tạ/ha, tăng 4,23% (+47,35 tạ/ha); sản lượng đạt 331,17 tấn (+47,35 tấn) so với cùng kỳ. Trong các sản phẩm trồng trọt thì sản phẩm khoai, cây lấy củ chất bột chủ yếu phục vụ tiêu dùng tại địa phương.
Cây thuốc lá: Gieo trồng được 301,2 ha, tăng 27,89% (+65,69 ha) so với cùng kỳ năm trước, diện tích tăng chủ yếu ở các huyện Bắc Sơn (+19,26 ha) và huyện Hữu Lũng (+43,52 ha). Thuốc lá đem lại giá trị kinh tế cao cho người nông dân, một số nơi được ký hợp đồng thu mua, trợ cấp phân bón,... khuyến khích người dân mở rộng diện tích trồng thuốc lá. Năng suất đạt 23,5 tạ/ha (-0,35 tạ/ha). Sản lượng đạt 707,82 tấn tăng 26,02% (+146,13 tấn) so với cùng kỳ. 
Rau các loại: Diện tích gieo trồng thực hiện được 2.320,01 ha, tăng 5,45% (+119,95 ha) so với cùng kỳ; năng suất đạt 131,23 tạ/ha, giảm 2,36%; sản lượng đạt 30.445,14 tấn, tăng 2,97% (+877,31 tấn) so với cùng kỳ. Trong đó, rau lấy lá diện tích gieo trồng thực hiện được 1.632,99 ha, tăng 3,61% (+56,91 ha) so với cùng kỳ; năng suất đạt 138,20 tạ/ha, giảm 2,5%; sản lượng đạt 22.567,31 tấn, tăng 1,02% (+228,34 tấn) so với cùng kỳ.
Cây ớt cay, tổng diện tích gieo trồng đạt 620,65 ha (+125,72 ha) so với cùng kỳ, chủ yếu ở Chi Lăng (+81,29 ha) và Lộc Bình (+67,99 ha), đây là loại cây dễ trồng, dễ chăm sóc và có giá cả thị trường ổn định, dao động từ 20.000 - 25.000 đồng/kg, dễ tiêu thụ nên bà con mở rộng diện tích trồng. Những năm gần đây, mô hình trồng ớt theo tiêu chuẩn được duy trì, phát triển, đẩy mạnh giới thiệu, quảng bá sản phẩm; thương nhân đến thu mua tập trung. Năng suất đạt 73,72 tạ/ha (-3,85 tạ/ha). Sản lượng đạt 4.951,5 tấn, tăng 49,4% (+1.637,16 tấn) so với cùng kỳ. 
Cung ứng giống cây trồng, phân bón các loại đảm bảo phục vụ sản xuất trên địa bàn tỉnh; giá các vật tư phân bón có xu hướng giảm nhẹ so với cùng kỳ (Phân ure có biến động giảm 15 - 20%, các loại phân bón khác tương đương so vời cùng kỳ), giá các loại giống tăng từ 3 - 5% do giá lương thực tăng cao.
- Diện tích gieo trồng vụ Xuân 2024
Thời tiết trong tháng, có mưa thuận lợi cho khâu làm đất, gieo cấy vụ Xuân. Sau thời gian nghỉ tết Nguyên đán, nhân dân tiếp tục khẩn trương gieo trồng lúa, ngô, rau các loại...Gieo cấy lúa đạt 3.476,0 ha, giảm tăng 4,07% (+136 ha) so với cùng kỳ; diện tích gieo trồng ngô ước 7.666 ha, tăng 0,53% (+40,11 ha) so với cùng kỳ. Cây khoai lang, diện tích gieo trồng ước 129,95 ha, tăng 1,64% (+2,1 ha) so với cùng kỳ. Cây mía, diện tích gieo trồng ước 74,07 ha, tăng 3,16% (+2,27 ha) so với cùng kỳ. Cây rau các loại diện tích gieo trồng ước 920,06 ha, tăng 4,37% (+38,56 ha) so với cùng kỳ. 

* Cây lâu năm: Trong quý I, diện tích cây lâu năm cho sản phẩm đều cho năng suất và sản lượng cao so với cùng kỳ, đảm bảo đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như: Chuối đạt 2.420,83 tấn, tăng 3,01% (+70,78 tấn) so cùng kỳ năm trước; bưởi thu hoạch ước đạt 191,45 tấn, tăng 4,62%; cam ước đạt 98,32 tấn, tăng 2,81%;... Trong quý I, các loại quả phục vụ nhu cầu tiêu dùng trước, trong và sau Tết mẫu mã, chất lượng quả ngày càng được quan tâm đầu tư trong quá trình trồng, chăm sóc, thu hoạch nên cho giá trị kinh tế cao. Đối với cây chè, năm nay thời tiết có mưa, chè thu hoạch vụ Xuân tăng so với cùng kỳ, sản lượng thu hoạch ước đạt 802,28 tấn, tăng 0,65% so với cùng kỳ.
Diện tích các loại cây ăn quả có xu hướng tăng như thanh long, cam, bưởi; cây lâu năm cho giá trị kinh tế cao như hồi tiếp tục tăng về diện tích và sản lượng thu hoạch. Cây thanh long với diện tích hiện có 126,4 ha, tăng 13,46% (+15 ha) so với cùng kỳ và được trồng nhiều ở huyện Hữu Lũng, giống thanh long ruột đỏ thích hợp với điều kiện tự nhiên cho năng suất cao. Cây cam là 726,96 ha, tăng 0,91% (+6,56 ha), được trồng nhiều ở huyện Chi Lăng, Hữu Lũng, giống cam được trồng chủ yếu là cam đường Canh, cam Vinh do cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên nên sinh trưởng, phát triển tốt. Cây vải thiều diện tích hiện có 1.517,93 ha, tăng 1,04% (+15,66 ha) so với cùng kỳ năm trước. Cây công nghiệp lâu năm: Diện tích chè hiện có 387,88 ha, tăng 0,65% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích trồng tập trung chè búp chủ yếu vùng thị trấn Nông trường Thái Bình của huyện Đình Lập, ngoài ra còn phân bố rải rác một số huyện như huyện Bình Gia, Bắc Sơn, Lộc Bình.
Bên cạnh đó, một số diện tích cây ăn quả đã già cỗi, cho năng suất giá trị sản phẩm thấp vì chất lượng quả kém khó tiêu thụ nên diện tích giảm. Cây chuối diện tích ước 1.113,23 ha, giảm 2,79% (-31,97 ha); cây bưởi hiện có 1.329,52 ha, giảm 4,98% (-69,68 ha), giống bưởi diễn, bưởi da xanh hiện nay được trồng nhiều ở huyện Chi Lăng, Hữu Lũng;  cây xoài diện tích hiện có 382,65 ha, giảm 2,27% (-8,9 ha). Cây dứa diện tích hiện có 229,02 ha, giảm 1,28% (-2,98 ha). 
1.1.2. Chăn nuôi
Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh, đàn gia súc, gia cầm phát triển ổn định, không có dịch bệnh lớn xảy ra, dịch Tả lợn châu Phi (TLCP) có xu hướng giảm, được kiểm soát so với các tháng giữa năm 2023. Từ ngày 10/01-07/02/2024, phát sinh 03 ổ dịch TLCP thuộc địa bàn huyện Tràng Định, huyện Văn Lãng và huyện Lộc Bình, tổng số lợn buộc phải tiêu hủy 50 con với tổng trọng lượng 2.470 kg, đến nay các ổ dịch đã qua 21 ngày, hiện trên địa bàn tỉnh không có dịch TLCP. Điều kiện chăn nuôi tương đối thuận lợi, tuy nhiên vẫn có xảy ra đợt rét đậm, rét hại, gây thiệt hại chăn nuôi. Người dân đã tận dụng rơm khô, cỏ khô tích trữ từ đầu vụ Đông làm thức ăn cho trâu, bò, ủ, giữ ấm cho đàn vật nuôi, hạn chế thiệt hại về số lượng vật nuôi. Cuối quý, số lượng đàn lợn, gà có xu hướng giảm so với cùng kỳ do trong quý trùng dịp nghỉ tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024 và thời gian tổ chức các lễ hội lớn trên địa bàn tỉnh. Sau dịp tổ chức lễ hội, nhân dân tiếp tục tái đàn lợn, gia cầm để phục vụ nhu cầu gia đình và chuẩn bị dịp tết Thanh minh.
Tổng đàn trâu: Ước tính số đầu con trâu hiện có 57.895 con, giảm 6,27% (-3.876 con) so với cùng kỳ; lũy kế hết quý I số con xuất chuồng đạt 4.655 con, giảm 3,34% so với cùng kỳ; sản lượng xuất chuồng ước đạt 1.340,59 tấn, giảm 2,32%.
Tổng đàn bò: Số con hiện có 28.099 con, tăng 2,8% (+766 con) so với cùng kỳ. Số bò xuất chuồng quý I ước 1.467 con, tương đương với sản lượng thịt hơi xuất chuồng 403,47 tấn, tăng 2,35% (+9,26 tấn) so với cùng kỳ. 
Tổng đàn lợn: số con hiện có 174.125 con, giảm 5,45% (-10.041 con) so với cùng kỳ. Số con xuất chuồng trong quý ước 86.255 con, tăng 4,51% (+3.720 con) so với cùng kỳ. Sản lượng hơi xuất chuồng đạt 6.641,66 tấn, tăng 3,83% (+245,2 tấn) so với cùng kỳ. 
Tổng đàn gia cầm ước 4.957 nghìn con, giảm 4,95% so với cùng kỳ (trong đó, tổng đàn gà là 4.468 nghìn con). Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng ước 4.687,71 tấn. Sản lượng trứng gia cầm đạt 16,3 triệu quả (trong đó, số lượng trứng gà đạt 13,4 triệu quả). 
 
1.2. Lâm nghiệp
Công tác quản lý, bảo vệ rừng, chăm sóc rừng trồng, khoanh nuôi tái sinh rừng được các chủ rừng thực hiện thường xuyên theo quy chế quản lý rừng. Chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp tại vườn ươm và ngoài hiện trường thường xuyên được kiểm tra, giám sát, cơ bản đảm bảo nguồn cây giống phục vụ chương trình trồng rừng của địa phương và xuất bán ra thị trường các tỉnh lân cận. “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” xuân Giáp Thìn năm 2024 được tổ chức tại 11/11 huyện, thành phố. Tình hình thời tiết tại các vùng trên địa bàn tỉnh, kịp thời cập nhật cảnh báo tới chính quyền các cấp, chủ rừng; người dân chủ động thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng.
Diện tích rừng trồng mới tập trung quý I ước đạt 2.901,59 ha, tăng 3,32% (+93,24 ha) so với cùng kỳ. Lũy kế từ đầu năm, trên địa bàn tỉnh chưa xảy ra vụ cháy rừng, thiệt hại rừng.
Khai thác gỗ tròn các loại trong quý I ước 59,01 nghìn m3, tăng 8,32% (+4,5 nghìn m3) so cùng kỳ. Khác thác gỗ từ đầu năm tăng cao, diện tích trồng rừng sản xuất ngày càng mở rộng do trồng rừng mang lại hiệu quả kinh tế, cây lâm nghiệp được trồng chủ yếu là keo, mỡ, bạch đàn; các cơ sở chế biến gỗ ép ngày càng tăng công suất, đáp ứng được đầu ra cho người dân tại địa phương.
Củi các loại: Ước khai thác 167,8 nghìn ste, tăng 2,13% so cùng kỳ, củi chủ yếu tận thu từ khai thác gỗ, phát cành từ rừng sản xuất đáp ứng nhu cầu sử dụng củi đun trong sinh hoạt.
1.3. Thủy sản
Thời tiết thuận lợi đảm bảo lượng nước đầy đủ cho công tác nuôi trồng thủy sản của nhân dân và hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn. Sản phẩm thủy sản trên địa bàn tỉnh chủ yếu khai thác từ các ao, hồ đang nuôi thả; người dân tập trung chăm sóc đàn cá đã thả theo đúng quy trình kỹ thuật và tăng cường phòng, chống rét; tiếp tục chăm sóc, nuôi vỗ đàn cá bố, mẹ theo đúng quy trình kỹ thuật, đảm bảo cá phát triển tốt. 
Tiếp tục thực hiện cung ứng cá giống đảm bảo chất lượng cho nông dân nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh, trong quý, thực hiện cung ứng 42.500 con cá giống các loại phục vụ nhu cầu sản xuất trên địa bàn tỉnh cá giống các loại (mè, trôi, trắm, chép, chim, trê, vược…) cho người dân trên địa bàn tỉnh. Giá bán thủy sản đánh bắt từ sông, suối ổn định phục vụ nhu cầu tiêu thụ của nhân dân trên địa bàn, chưa có thương lái thu mua hay tiêu thụ ở số lượng lớn. Lũy kế, quý I sản lượng thủy sản ước đạt 505,3 tấn. Sản lượng cá trong quý ước đạt 485,12 tấn, tăng 2,06% so với cùng kỳ; thủy sản khai thác nội địa đạt 75,71 tấn; thủy sản nuôi trồng đạt 429,59 tấn, tăng 2,03% so với cùng kỳ, sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng tăng là do nhu cầu tiêu dùng.
2. Sản xuất công nghiệp
2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3 năm 2024

2.1.1. So với tháng trước
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3 năm 2024 tăng 33,88% so với tháng trước, chủ yếu tăng ở ngành công nghiệp khai khoáng tăng 27,69%, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 32,46%, ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 47,64%, do nhiều doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ của người dân và đảm bảo các hợp đồng, các đơn đặt hàng.
Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 27,69%, trong đó: Khai thác than tăng 56,69%, do nhu cầu tiêu thụ than của Công ty cổ phần Nhiệt điện Na Dương tăng. Khai khoáng khác tăng 9,31% (tăng ở sản phẩm đá xây dựng) do các doanh nghiệp khai thác đá hoạt động sản xuất ổn định trở lại sau thời gian nghỉ tết Nguyên đán nên dự kiến sản xuất tăng.
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 32,46%, nguyên nhân chính nhóm ngành này tăng là do các công ty, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động trở lại sau thời gian nghỉ tết Nguyên đán. Một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao như: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 26,92%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế), sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 42,99%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 166,69%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 42,86%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 18,44%, các nhóm ngành có chỉ số tăng đều do nguyên nhân các cơ sở hoạt động trở lại sau thời gian nghỉ tết; riêng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 53,15%, do Công ty TNHH Long Hoa dự kiến tháng 3 tăng sản xuất do nhận được thêm đơn hàng.  
 
Ngành sản xuất và phân phối điện có chỉ số sản xuất tăng 47,64%, trong đó: Điện sản xuất tăng 57,25% (+26,69 triệu KWh), điện thương phẩm tăng 4,56% (+2,87 triệu KWh) so với tháng trước, do các hoạt động sản xuất kinh doanh trở lại hoạt động, nhu cầu tiêu thụ điện cho hoạt động sản xuất kinh doanh tăng.
Ngành cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải nước thải có chỉ số sản xuất giảm 0,74%; trong đó thoát nước và xử lý nước thải giảm 7,37%, do doanh nghiệp sửa chữa đường ống nước nên sản lượng giảm.
2.1.2. So với cùng kỳ
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3 năm 2024 so với cùng kỳ tăng 9,81%, tăng chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 29,95%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 1,02% so với cùng kỳ. 
Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 3,11%, trong đó hoạt động khai thác than cứng và than non giảm 13,97%, do nhu cầu tiêu thụ than của Công ty cổ phần Nhiệt điện Na Dương giảm so với cùng kỳ; hoạt động khai khoáng khác tăng 9,47%, do nhu cầu vật liệu đá xây dựng tăng nhằm phục vụ cho các dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh.
 Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 29,95%, một số sản phẩm sản xuất tăng khá so với tháng cùng kỳ như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 22%, do tết Nguyên đán năm 2024 muộn hơn năm 2023, một số lễ hội lớn của tỉnh kéo dài, nhu cầu tiêu thụ thực phẩm tăng so với cùng kỳ; sản xuất trang phục tăng 20,67%, do các cơ sở may nhận được thêm nhiều đơn hàng may quần áo dân tộc; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 58,65%, do đơn hàng gia công từ các doanh nghiệp trong nước tăng; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 84,37%, do nguyên liệu tại địa phương đáp ứng đủ cho quá trình sản xuất, các cơ sở chủ động ký kết các đơn hàng, nhu cầu tiêu thụ tăng, các doanh nghiệp tăng sản lượng sản xuất; in, sao chép bản ghi các loại tăng 96,26%, do doanh nghiệp chuyển địa điểm, mở rộng sản xuất, nhu cầu tiêu thụ tăng nên sản lượng tăng cao hơn so cùng kỳ; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 143,91%, do tháng 11 năm 2022 Công ty TNHH Long Tân gặp sự cố cháy xưởng, tháng 3 cùng kỳ, trong thời gian khắc phục sự cố mặc dù có sản xuất nhưng sản lượng ít, Công ty Long Tân là một trong những doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất sản phẩm ngành hoá chất và sản phẩm hoá chất, năm 2024 công ty hoạt động ổn định trở lại nên sản lượng tăng cao so với cùng kỳ. Sản xuất kim loại tăng 42,26%, sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 28,71%, sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 53,85%, do các ngành này có đơn hàng trước nên các cơ sở tập trung hoàn thành theo thời gian đã ký kết với đối tác.
 
Ngành sản xuất và phân phối điện giảm 8,67%, do nguyên liệu sản xuất nhiệt điện không đảm bảo, doanh nghiệp phải nhập khẩu than từ nước ngoài với chi phí cao, nên sản xuất giảm so cùng kỳ.
Trong ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,02%: Hoạt động khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 1,25%, thoát nước và xử lý nước thải tăng 3,56%, hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải; tái chế phế liệu tăng 0,58% so với cùng kỳ.
2.2. Chỉ số sản xuất công nghiệp Quý I năm 2024
Quý I năm 2024, chỉ số sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng 2,77% so với cùng kỳ. Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 2,24%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,79%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện giảm 16,07%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 1,07%. Mức tăng chủ yếu của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tập trung ở các sản phẩm: Da, chế biến gỗ, các sản phẩm in khác, nhựa thông, ống tuýp, ống dẫn, màng PE, hạt nhựa, chỉ thỏi… 
Một số sản phẩm có mức tăng trưởng khá cao góp phần thúc đẩy chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng như: Sản xuất chế biến thực phẩm, sản xuất trang phục phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong tết Nguyên đán, các các lễ hội Xuân trên địa bàn tỉnh; dịch vụ sản xuất thuộc, sơ chế da do hoạt động gia công sản phẩm cho một số công ty trong nước, nhu cầu đặt hàng gia công tăng cao; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ do chủ động về nguồn nguyên liệu, các cơ sở ký kết được thêm đơn hàng, nhu cầu tiêu thụ tăng, sản lượng tăng; in, sao chép bản ghi các loại do doanh nghiệp chuyển địa điểm, mở rộng sản xuất, nhu cầu tiêu thụ tăng; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất, quý I năm 2023 doanh nghiệp gặp sự cố cháy xưởng, quý I năm 2024 doanh nghiệp hoạt động ổn định trở lại nên sản lượng tăng. Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic do doanh nghiệp nhận được đơn hàng tăng; sản xuất kim loại tăng do cùng kỳ năm trước doanh nghiệp tạm ngừng sản xuất do thiếu nguyên liệu; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn như hoạt động hàn xì, sản xuất cửa hoa, cửa sắt, hàn xì lợp mái tôn, hoạt động xây dựng trong dân cư tăng; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng do đơn hàng gia công linh kiện điện tử tăng.
Sản phẩm chủ lực của tỉnh: Sản phẩm Xi măng Portland đen ước đạt 218,2 nghìn tấn, giảm 15,54% (khoảng 40,1 nghìn tấn) so với cùng kỳ, sản phẩm xi măng cơ bản đáp ứng nhu cầu về vật liệu xây dựng cho hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh và cung cấp cho một số tỉnh lân cận, tuy nhiên còn khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm nên doanh nghiệp cắt giảm sản lượng sản xuất. Sản phẩm clanhke xi măng giảm 33,97% (khoảng 63,5 nghìn tấn) so với cùng kỳ do lợi nhuận mang lại từ sản xuất không cao như cùng kỳ, doanh nghiệp cắt giảm sản lượng, chủ yếu sản xuất trực tiếp xuất kho chế biến tiếp sản phẩm xi măng. Sản lượng điện sản xuất chiếm tỷ trọng lớn là của Công ty cổ phần Nhiệt điện Na Dương trong quý I năm 2024 sản lượng điện đạt 195,15 triệu Kwh, giảm 18,78% so với cùng kỳ, do nguyên liệu sản xuất nhiệt điện không đảm bảo, doanh nghiệp phải nhập khẩu than từ nước ngoài với chi phí cao, nên sản xuất giảm so cùng kỳ; sản lượng khai thác than của Công ty Than Na Dương quý I năm 2024 đạt 126,28 nghìn tấn, giảm 18,30% so với cùng kỳ do nhu cầu tiêu thụ than của Công ty Nhiệt điện giảm so với cùng kỳ.
2.3. Chỉ số tiêu thụ, tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3 năm 2024 giảm 1,05% so với cùng kỳ; quý I năm 2024 tăng 11,64% so với cùng kỳ, do một số ngành khối lượng sản xuất tăng, nhu cầu tiêu thụ tăng như: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (+50,59%); chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (+45,96%); in, sao chép bản ghi các loại (+169,66%); sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất (+210,3%); sản xuất kim loại (+98,45%); sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (+35,98%). Những ngành này đều có chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ.
Chỉ số tồn kho ngành chế biến chế tạo tháng 3 năm 2024 tăng 24,07% so với tháng trước và tăng 117,77% so với cùng kỳ, chỉ số tồn kho tăng chủ yếu ở một số ngành như: Sản xuất chế biến thực phẩm (+172,66%), sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (+198,26%), Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (+17,02%), sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (+37,37%), sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu (+24,02%) do sản phẩm khó tiêu thụ nên tồn kho tăng; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa; sản xuất kim loại; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn, do doanh nghiệp sản xuất khối lượng lớn chờ tiêu thụ nên tồn kho tăng.
2.4. Chỉ số sử dụng lao động 
Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 3 năm 2024 tăng 0,48% so với tháng trước và giảm 3,28% so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động giảm so với cùng kỳ do một số doanh nghiệp có sản phẩm khó tiêu thụ, giảm sản lượng sản xuất nên cắt giảm lao động, doanh nghiệp lớn sử dụng nhiều lao động thực hiện tinh giảm lao động theo kế hoạch của Tổng công ty1 , doanh nghiệp chuyển đổi chủ sở hữu nên thực hiện cắt giảm lao động2 . Chỉ số sử dụng lao động ngành khai khoáng tăng 2,19%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 8,57%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,98%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,53%. Chỉ số sử dụng lao động trong doanh nghiệp nhà nước tăng 1,12%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh giảm 8,45%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 15,9%.
2.5. Xu hướng sản xuất kinh doanh quý I năm 2024
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên tổng số 33 doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo hỏi về xu hướng kinh doanh. Đánh giá chung về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý I năm 2024 so với quý trước: 21,21% doanh nghiệp đánh giá tốt lên; 51,52% doanh nghiệp giữ ổn định; 27,27% số doanh nghiệp cho rằng sản xuất kinh doanh khó khăn hơn. Trong đó, khu vực FDI 20% doanh nghiệp đánh giá tốt lên, 60% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất giữ ổn định, 20% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh khó khăn hơn; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước: 21,43% đánh giá tốt lên và 50% giữ ổn định, 28,57% doanh nghiệp đánh giá khó khăn hơn quý trước. 
Chia theo ngành kinh tế: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan, sản xuất phương tiện vận tải khác là 02 ngành doanh nghiệp đánh giá tốt lên, tiếp đến là sản xuất và chế biến thực phẩm với 50% đánh giá tốt lên; các ngành sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất, sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu 100% đánh giá giữ ổn định, tiếp đến là sản xuất đồ uống, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác, công nghiệp chế biến, chế tạo khác 66,67% đánh giá giữ ổn định; một số ngành đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh khó khăn hơn như sản xuất kim loại, sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học.
3. Đầu tư, xây dựng
Thực hiện chủ trương tập trung cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, tạo bước chuyển biến mới trong thu hút đầu tư, tỉnh Lạng Sơn đang tích cực hỗ trợ các tập đoàn, doanh nghiệp triển khai các dự án đầu tư trọng điểm trên địa bàn như: Dự án Đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp VSIP Lạng Sơn; Dự án đầu tư xây dựng tuyến cao tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn) - Trà Lĩnh (Cao Bằng); Dự án nâng cấp đoạn Km18-Km80 quốc lộ 4B…đã và đang được triển khai. Các dự án lớn tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, giải quyết được nhu cầu mặt bằng sản xuất của doanh nghiệp, qua đó tăng cường năng lực cạnh tranh, giải quyết việc làm cho người lao động trong tỉnh.
Tình hình đăng ký doanh nghiệp: Từ đầu năm đến hết tháng 02 năm 2024, có 482 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 741,54% so với cùng kỳ. Tổng số vốn đăng ký kinh doanh là 1.111,6 tỷ đồng, tăng 365,46% so với cùng kỳ. Doanh nghiệp gửi thông báo tạm ngừng hoạt động 206 doanh nghiệp tăng 152,59%. Doanh nghiệp thông báo giải thể 28 doanh nghiệp tăng 155,56% so với cùng kỳ.
3.1. Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý quý I năm 2024
Đối với các công trình, dự án thuộc nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý, Uỷ ban nhân dân (UBDN) tỉnh đã thực hiện bố trí, điều hành vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước theo đúng quy định của Chính phủ cũng như của các bộ, ngành và địa phương. Kế hoạch đầu tư công năm 2024 của tỉnh ban hành kèm theo Quyết định số 2068/QĐ-UBND ngày 12/12/2023 của UBND tỉnh về việc giao chỉ tiêu kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước năm 2024 tiếp tục được các cơ quan Nhà nước có liên quan, các chủ đầu tư, các đơn vị thi công thực hiện khẩn trương, nghiêm túc vì vậy các hạng mục công trình thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đã được thực hiện đảm bảo đúng tiến độ đề ra. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh quý I năm 2024 ước thực hiện 571,4 tỷ đồng, giảm 4,02% (-23,9 tỷ đồng) so với cùng kỳ, đạt 14,12% so với kế hoạch, gồm: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 347,6 tỷ đồng, giảm 6,88% (-25,7 tỷ đồng); vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 223,8 tỷ đồng, tăng 0,80% (+1,8 tỷ đồng). 
3.2. Tình hình vốn đầu tư thực hiện quý I năm 2024
Trong quý I năm 2024 tình hình thực hiện vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định và có mức tăng khá so với cùng kỳ. Đầu năm 2024, UBND tỉnh yêu cầu thúc đẩy tiến độ của các dự án khởi công mới trong năm, các chủ đầu tư phải khẩn trương hoàn thiện thủ tục pháp lý theo quy định để khởi công mới các dự án; các sở chuyên ngành phải thường xuyên bám sát việc triển khai dự án của chủ đầu tư, khẩn trương thực hiện thẩm định các dự án theo quy định. Vốn đầu tư thực hiện quý I năm 2024 ước đạt 4.232,5 tỷ đồng, tăng 9,44% (+365 tỷ đồng) so với cùng kỳ. Trong đó vốn Nhà nước trên địa bàn ước đạt 787,3 tỷ đồng, giảm 8,54% (-73,5 tỷ đồng) so với cùng kỳ. Vốn ngoài Nhà nước 3.445 tỷ đồng, tăng 14,89% (+446,5 tỷ đồng) so với cùng kỳ. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 120 triệu đồng. 
3.3. Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh quý IV năm 2023
Nguồn vốn đầu tư trong quý chủ yếu tập trung vào các dự án chuyển tiếp như: Cải tạo, nâng cấp QL.4B (đoạn Km3+700-Km18); Hạ tầng cơ bản phát triển toàn diện các tỉnh Đông Bắc: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn - Tiểu dự án tỉnh Lạng Sơn (4 hợp phần); Đường tránh ngập vào trung tâm các xã nghèo miền núi 30A, Cường Lợi, Đồng Thắng, Lâm Ca (GĐ2); Dự án Mở rộng đường vận chuyển hàng hóa chuyên dụng tại khu vực mốc 1119-1120 cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị; Đường tránh ĐT.226 (đoạn qua thị trấn Bình Gia, Văn Mịch) và khu TĐC, DC thị trấn Bình Gia; Hệ thống trạm bơm điện Bản Chúc, huyện Văn Lãng, Văn Quan…Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh đạt 7.302,4 tỷ đồng, tăng 9,50% (tương đương tăng 633,7 tỷ đồng) so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn thực hiện đạt 1.542,7 tỷ đồng, giảm 11,33% (tương đương giảm 197,2 tỷ đồng so với cùng kỳ). Vốn ngoài Nhà nước: Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn ngoài Nhà nước quý IV năm 2023 đạt 5.747,8 tỷ đồng, tăng 16,69% (tương đương tăng 822 tỷ đồng). Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn đầu tư trưc tiếp nước ngoài quý IV năm 2023 đạt 11,9 tỷ đồng.
* Các công trình trọng điểm mới khởi công trên địa bàn 
Dự án đầu tư xây dựng tuyến cao tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn) - Trà Lĩnh (Cao Bằng) khởi công ngày 01/01/2024 là công trình thuộc nhóm A được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư vào tháng 8/2020 theo hình thức đối tác công-tư (PPP). Dự án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh chủ trương đầu tư tại Quyết định số 20/QĐ-TTg ngày 16/1/2023 với chiều dài toàn tuyến khoảng 121 km, tổng vốn đầu tư hơn 23.000 tỷ đồng.  
Dự án Cao tốc Đồng Đăng – Trà Lĩnh

Dự án nâng cấp đoạn Km18 - Km80 quốc lộ 4B được Bộ Giao thông vận tải quyết định phê duyệt có tổng mức đầu tư 2.296 tỷ đồng do Sở Giao thông vận tải tỉnh Lạng Sơn làm Chủ đầu tư, thời gian thực hiện dự án: Năm 2024. Dự án có tổng chiều dài khoảng 62,56km, trong đó, đoạn qua địa bàn huyện Lộc Bình dài khoảng 22,3km, đoạn qua địa bàn huyện Đình Lập dài khoảng 40,26km. 
Dự án Đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp VSIP Lạng Sơn với tổng mức đầu tư của dự án khu công nghiệp VSIP Lạng Sơn là hơn 6.361 tỷ đồng: Khu công nghiệp VSIP Lạng Sơn có tổng diện tích khoảng 600 ha, nằm trên địa bàn 2 xã Hồ Sơn và Hòa Thắng, huyện Hữu Lũng. Phía bắc dự án giáp thôn Na Ví và thôn Đồng Gia, xã Hồ Sơn; phía nam giáp thôn Suối Ngang 1, xã Hòa Thắng; phía đông giáp đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn; phía tây giáp đường cao tốc Bắc Giang - Lạng Sơn. 
4. Tài chính, ngân hàng    
4.1. Tài chính3

- Về thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn
Năm 2024 là năm tăng tốc, bứt phá, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII. Các cơ quan chức năng tập trung chỉ đạo quyết liệt, triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp thu năm 2024; tổ chức thực hiện thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản phải thu theo kết quả Kiểm toán, Thanh tra và cơ quan bảo vệ pháp luật. Thực hiện tốt các Luật thuế, tập trung rà soát các nguồn thu trên địa bàn, lĩnh vực hoạt động sản xuất, kinh doanh; đẩy mạnh công tác chống thất thu, chống chuyển giá, trốn thuế; ... Các sở, ngành liên quan và Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố rà soát, hoàn thiệu thủ tục, đẩy nhanh tiến độ tổ chức đấu giá các khu đất, tài sản công theo kế hoạch.
Tổ chức kiểm tra phân bổ dự toán ngân sách nhà nước năm 2024 và công tác quyết toán năm 2023  tại các huyện, thành phố để kịp thời nắm bắt tình hình, triển khai những nhiệm vụ trong thời gian tới và xử lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến công tác lập, phân bổ, quyết toán ngân sách. Thẩm tra quyết toán các dự án khi đầy đủ hồ sơ, trình phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành đảm bảo theo quy định.
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện quý I năm 2024 là 1.895,6  tỷ đồng, đạt 25,7% so với dự toán Trung ương giao, đạt 25,3% so với dự toán tỉnh giao, bằng 112,6% so với cùng kỳ, trong đó:
Thu nội địa: 645,0 tỷ đồng, đạt 27% dự toán Trung ương giao, đạt 26% so với dự toán tỉnh giao, bằng 103,5% so với cùng kỳ. Ngay từ đầu năm, các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh đã tập trung triển khai các giải pháp thu hút đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh, duy trì ổn định và tăng trưởng các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Thị trường hàng hoá diễn ra sôi động, đa dạng và phong phú, các hoạt động vận tải, dịch vụ, du lịch trên địa bàn tỉnh tiếp tục được cải thiện, nâng cao về chất lượng, lượng khách du lịch tăng mạnh góp phần vào tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh. 
Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu: 1.250,0 tỷ đồng, đạt 25% so với dự toán giao, tăng 18,1% so với cùng kỳ. Những tháng đầu năm 2024, tình hình hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực, các cơ quan, đơn vị chức năng tại cửa khẩu đã tăng cường phối hợp, bố trí lực lượng trực, tích cực triển khai các nhiệm vụ, giải pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho thông quan hàng hoá, kết hợp công tác tuần tra, kiểm soát, chống buôn lậu, gian lận thương mại, đảm bảo an ninh, trật tự khu vực cửa khẩu, biên giới, nhất là dịp trước, trong và sau tết Nguyên đán. 
Các khoản huy động, đóng góp: 0,6 tỷ đồng. 

- Về chi ngân sách địa phương
Chi ngân sách nhà nước được điều hành chủ động, linh hoạt, đảm bảo chặt chẽ, tiết kiệm; theo dõi sát diễn biến cung cầu, báo cáo kịp thời tình hình giá cả trên địa bàn, kiểm soát chặt chẽ giá cả hàng hóa, nhất là các mặt hàng thiết yếu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong dịp tết Nguyên đán; chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan đẩy mạnh các hoạt động kiểm tra việc niêm yết, kê khai giá, chấp hành các quy định của pháp luật về phí, lệ phí, giá, góp phần chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả.
Tổng chi ngân sách địa phương ước quý I năm 2024 thực hiện là 2.251,0 tỷ đồng, đạt 16% dự toán giao đầu năm, bằng 108,5% so với cùng kỳ, trong đó: Chi trong cân đối ngân sách địa phương là 1.801,0 tỷ đồng, đạt 15,8% dự toán giao đầu năm và bằng 100,6% so cùng kỳ; chi các chương trình mục tiêu và một số nhiệm vụ khác là 450 tỷ đồng đạt 16,9% dự toán, bằng 251,6% so với cùng kỳ.
4.2. Ngân hàng4
Các tổ chức tín dụng chấp hành nghiêm túc các quy định của nhà nước và pháp luật về hoạt động ngân hàng, tiếp tục thực hiện các giải pháp tăng cưởng huy động vốn, mở rộng đầu tư tín dụng phát triển sản xuất kinh doanh, chủ động thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho người dân và doanh nghiệp, tăng khả năng hấp thụ vốn cho nền kinh tế. Ước thực hiện đến 31/3/2024: Tổng huy động vốn ước đạt 44.174 tỷ đồng, tăng 0,8% so với 31/12/2023. Dư nợ tín dụng của các ngân hàng trên địa bàn ước đạt 41.928 tỷ đồng, giảm 4,1% so với 31/12/2023. 
Lãi suất huy động bằng VND đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 01 tháng đao động ở mức 0,1 - 0,2%/năm; đối với kỳ hạn từ 01 tháng đến dưới 06 tháng dao động từ 2,5-3,8%/năm; kỳ hạn từ 06 tháng đên dưới 12 tháng dao động từ 3,4-5,1%/năm; tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên ở mức 4,8- 5,4%/năm. Lãi suất huy động bằng USD tối đa đối với cá nhân và tổ chức là 0%/năm theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Cho vay ngắn hạn bằng VND đối với 05 lĩnh vực ưu tiên tối đa là 4,0%/năm; cho vay ngắn hạn sản xuất kinh doanh phổ biến ở mức 7,0- 9,0%/năm; cho vay ngắn hạn khác phổ biến ở mức 8,0-10,0%/năm; cho vay trung, dài hạn sản xuất kinh doanh phổ biến ở mức 9,0-11,0%/năm; cho vay trung dài hạn khác phổ biến ở mức 9,5-11%/năm.
Chỉ nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Lạng Sơn áp dụng mức lãi suất riêng theo quy định; lãi suất cho vay thấp nhất là 3%/năm, lãi suất cho vay cao nhất là 9%/năm.
5. Thương mại và dịch vụ
Quý I năm 2024, hoạt động thương mại diễn ra sôi động, nhất là trong dịp tết Nguyên đán. Tại các chợ truyền thống, trung tâm thương mại, siêu thị, các cửa hàng tiện lợi, các hệ thống phân phối hàng hoá đảm bảo nguồn hàng cung ứng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và trên địa bàn tỉnh không có hiện tượng khan hiếm hàng hoá hoặc tăng giá đột biến, nhiều chương trình khuyến mãi giảm giá các sản phẩm để kích cầu tiêu dùng.
Từ những ngày đầu tháng 02, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, giải trí Mừng Đảng - Mừng Xuân Giáp Thìn năm 2024 mở đầu là chương trình khai mạc Lễ hội Hoa đào Xứ Lạng 2024 với chủ đề “Lung linh sắc đào - Tỏa sáng vươn xa”. Các chương trình, hoạt động đón Tết cổ truyền, lễ hội Xuân ở các địa phương trên địa bàn tỉnh được tổ chức quy mô, đa dạng, phong phú góp phần tôn vinh giá trị truyền thống phong tục tập quán của địa phương, đảm bảo giữ gìn đậm đà bản sắc dân tộc, tạo khí thế vui tươi, phấn khởi cho Nhân dân trong dịp Tết đến Xuân về. Các hoạt động thể dục, thể thao quần chúng, chuyên nghiệp được quan tâm, tổ chức như giải Việt dã Mùa Xuân và biểu diễn Võ thuật, Lân rồng, giải đua Bè mảng trên Sông Kỳ Cùng năm 2024; giải chạy việt dã, chủ đề “Mẫu Sơn Mount Paths” đã thu hút đông đảo khách du lịch, vận động viên tham gia các giải thể thao; từ đó thúc đẩy thương mại, dịch vụ du lịch phát triển so với cùng kỳ.
 

Tình hình xuất nhập khẩu5 (XNK) diễn ra tương đối thuận lợi, tiếp tục triển khai thực hiện tốt công tác giám sát quản lý về hải quan, đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước về hải quan, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động XNK hàng hoá qua địa bàn. Xây dựng quy trình giám sát đặc thù đối với hàng hóa XNK qua địa bàn cửa khẩu Bình Nghi; tăng cường công tác lý đối với loại hình gia công; xử lý các tờ khai quá hạn đưa hàng về bảo quản; triển khai Quyết định ban hành sử dụng nền tảng Cửa khẩu số của Uỷ ban nhân dân tỉnh.
Tổng kim ngạch hàng hóa (XNK) qua địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong quý I năm 2024 của tất cả các loại hình XNK (kinh doanh, quá cảnh, chuyển cửa khẩu, vận chuyển độc lập) đạt 10.667,69 triệu USD tăng 24% so với cùng kỳ, trong đó: Kim ngạch hàng hóa XNK mở tờ khai tại Cục Hải quan Lạng Sơn đạt 818,84 triệu USD, tăng 36,72% so với cùng kỳ (xuất khẩu đạt 357,18 triệu USD, tăng 30,35% so với cùng kỳ; kim ngạch nhập khẩu đạt 461,65 triệu USD, tăng 42,09% so với cùng kỳ). Kim ngạch hàng hóa XNK tăng do dịp tết Nguyên đán nên nhu cầu XNK hàng hóa tiêu dùng, nông sản, các mặt hàng thiết yếu phục vụ Tết được doanh nghiệp nhập khẩu để tiêu thụ tăng. Hành khách xuất nhập cảnh phát sinh trong quý là 410.541 lượt (khách xuất cảnh là 202.563 lượt, khách nhập cảnh là 207.978 lượt). Thu phí sử dụng hạ tầng cửa khẩu đạt 78,5 tỷ đồng với 80.689 lượt phương tiện.
5.1. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 3 năm 2024 dự ước đạt 2.607,0 tỷ đồng, so với tháng trước giảm 1,45% và so với cùng kỳ tăng 19,38%. Cụ thể: Nhóm lương thực, thực phẩm giảm 0,05%; nhóm hàng may mặc giảm 2,76%; nhóm đồ dùng dụng cụ, trang thiết bị gia đình giảm 16,02%; nhóm đá quý, kim loại và sản phẩm giảm 17,18% và nhóm doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, xe máy và xe có động cơ khác giảm 5,77%... nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng của người dân trong tháng giảm. Ngoài những mặt hàng giảm trên, có nhiều mặt hàng tăng như nhóm xăng, dầu các loại tăng 10,76% do nhu cầu đi lại tăng; nhóm nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 12,19% để phục vụ những nơi tập trung đông người, lễ hội như khu vui chơi giải trí, nhà hàng, đền chùa, trung tâm thương mại.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa quý I năm 2024, tổng mức bản lẻ hàng hóa và doanh thu tiêu dùng ước đạt 9.169,1 tỷ đồng, tăng 18,07% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 8.039,3 tỷ đồng (chiếm 87,68%), tăng 20,73% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 713 tỷ đồng (chiếm 7,78%), tăng 12,46% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lữ hành ước đạt 6 tỷ đồng, tăng 12,32% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 410,8 tỷ đồng, bằng 87,84% so với cùng kỳ.
5.2. Dịch vụ
* Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành
Sau Tết, du khách thập phương tập trung đến tỉnh Lạng Sơn để trải nghiệm ẩm thực, tham quan các lễ hội tại những địa điểm linh thiêng và lịch sử như Chùa Thành, Chùa Tam Thanh, Đền Mẫu Đồng Đăng, Chùa Tân Thanh...  tạo tiền để phát triển cho dịch vụ lưu trú và ăn uống của tỉnh.
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 3 năm 2024 ước đạt 237,7 tỷ đồng, tăng 0,53% so với tháng trước và tăng 20,74% so với cùng kỳ. Chia ra: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 14,8 tỷ đồng, tăng 4,99% so với tháng trước và tăng 23,96% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 222,9 tỷ đồng, tăng 0,25% so với tháng trước và tăng 20,53% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 2 tỷ đồng, tăng 2,57% so với tháng trước và tăng 12,32% so với cùng kỳ. Tính chung 3 tháng đầu năm, doanh thu lưu trú và ăn uống, lữ hành đạt 719 tỷ đồng, tăng 12,46% so với cùng kỳ.
*  Doanh thu dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác Quý I ước đạt 410,8 tỷ đồng, giảm 12,16% so với cùng kỳ. Trong đó, dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 27,53%; dịch vụ bất động sản giảm 26,41%. Ngoài những nhóm dịch vụ giảm trên có dịch vụ tăng cao như: dịch vụ vui chơi giải trí tăng 28,24%; dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 14,94%.
5.3. Vận tải
Hoạt động vận tải trong tháng 3 tiếp tục tăng so với tháng trước, tổng doanh thu dịch vụ vận tải tháng 3 ước đạt 205,8 tỷ đồng, tăng 2,61% so với tháng trước và tăng 8,09% so với cùng kỳ . Trong đó, doanh thu vận tải hành khách tháng 3 dự ước đạt 27,5 tỷ đồng tăng 0,72% so với tháng trước và tăng 13,72% so với cùng kỳ do số lượng khách đi du lịch sau Tết và sinh viên, người lao động di chuyển đi học, đi làm nên doanh thu tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu vận tài hàng hóa tháng 3 dự ước đạt 95,9 tỷ đồng tăng 2,34% so với tháng trước và tăng 8,69% so với cùng kỳ, do nhu cầu tiêu dùng của người dân và các doanh nghiệp thi công công trình sau Tết. Hoạt động vận tải kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải dự ước đạt 82,09 tỷ đồng, tăng 3,58% so với tháng trước và tăng 5,66% so với cùng kỳ, do hoạt động xuất nhập khẩu thuận lợi, lưu lượng xe chở hàng hóa thông quan tăng dẫn đến nhu cầu lưu bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng.
Nhu cầu di chuyển của khách du lịch đến với Lạng Sơn cùng với tâm lý của người dân “không sử dụng rượu, bia khi tham gia giao thông” đã tạo tiền đề cho ngành dịch vụ vận tải taxi phát triển. Hiện tại ngành taxi điện của Lạng Sơn đã và đang được triển khai trên điạ bàn tỉnh, bổ sung nguồn cung dịch vụ cho người dân địa phương nói riêng và du khách thập phương nói chung, tốt cho sức khỏe con người và môi trường. Dự ước quý I năm 2024 doanh thu vận tải ước đạt 612,3 tỷ đồng, tăng 8,02% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 81,4 tỷ đồng, tăng 10,89% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 284,9 tỷ đồng, tăng 8,84% so với cùng kỳ; doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 245,2 tỷ đồng, tăng 6,18% so với cùng kỳ; Doanh thu hoạt động bưu chính, chuyển phát ước đạt 0,8 tỷ đồng, tăng 3,13% so với cùng kỳ.
6. Chỉ số giá 
6.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chung toàn tỉnh tháng 3 năm 2024 giảm  0,18% so với tháng trước, cụ thể:

* Nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước, gồm:
Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống -0,75% so với tháng trước, chia ra: Chỉ số giá nhóm lương thực +0,57% so với tháng do mặt hàng gạo +1,09%, nhóm lương thực chế biến -0,13%, mì, phở, cháo ăn liền -0,04%, bột ngô -2,85%.... Chỉ số giá nhóm thực phẩm -1,06% so với tháng trước, giảm chủ yếu ở một số mặt hàng như: Thịt lợn -2,69%, thịt bò -0,82%, nội tạng động vật -0,8%; thịt gia cầm -2,77%; thịt chế biến -0,21%; trứng các loại -2,25% và dầu mỡ ăn và chất béo khác -0,5%, thuỷ sản tươi sống -0,03%... Đây cũng là nhóm luôn có chỉ số biến động vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mùa vụ, thiên tai, dịch bệnh và nguồn cung ứng đầu vào...

Chỉ số giá nhóm ăn, uống ngoài gia đình -0,36% so với tháng trước, giảm chủ yếu là mặt hàng phở, do tháng 02 là thời điểm sau Tết  nhiều hộ chưa kinh doanh, các loại thực phẩm chưa có nhiều. Sang tháng 3 hoạt động kinh doanh trở lại bình thường nên chỉ số giá giảm, giá cả các loại thực phẩm cũng đã giảm nhẹ hơn tháng trước.
Chỉ số giá nhóm  may mặc, mũ nón, giày dép -0,03% so với tháng trước, tập trung ở 1 số nhóm  như: Quần áo may sẵn -0,07%, may mặc khác và mũ nón -0,06%, các nhóm khác nhìn chung là ổn định  so với tháng trước.  
Chỉ số giá nhóm bưu chính viễn thông -0,22% so với tháng trước, thiết bị điện thoại -0,81% (chủ yếu là giảm ở mặt hàng điện thoại và máy tính bảng). 
* Một số nhóm hàng hóa chủ yếu có chỉ số giá tăng so với tháng trước
Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá +0,12% so với tháng trước cụ thể: Nước khoáng +0,51%, rượu các loại +0,28%, bia các loại +0,67%, thuốc hút +0,06%. 
Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng +0,44% so với tháng trước. Diễn biến giá một số mặt hàng trong nhóm như sau: Vật liệu bảo dưỡng nhà ở +0,57%, nước sinh hoạt +0,80%, điện sinh hoạt +0,81%, Giá gas và các loại chất đốt khác +0,94%.
Chỉ số giá nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình +0,05% so với tháng trước, do một số mặt hàng tăng như: Bình nước nóng nhà tắm +0,47%, máy vi tính và phụ kiện +0,16%, bàn là điện +0,64%, gương treo tường +1,59%... nhóm này luôn có biến động tăng giảm vì các siêu thị, các cửa hàng, các hộ kinh doanh cá thể luôn áp dụng chương trình khuyến mại, xả hàng để kích cầu tiêu dùng.
Chỉ số giá nhóm  thuốc và dịch vụ y tế +0,01% so với tháng trước, trong đó thuốc các loại +0,10%, các nhóm còn lại nhìn chung là ổn định do các cơ sở y tế đã áp dụng Thông tư 22/2023/TT- BYT quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc. 
Chỉ số giá nhóm  giao thông +0,2% so với tháng trước, giá xăng, dầu biến động tăng, giảm liên tục theo giá nhiên liệu thế giới và mức thuế bảo vệ môi trường. Trong tháng có 3 kỳ điều chỉnh (chỉnh ngày 7/3, chỉnh ngày 14/3, chỉnh ngày 21/3).
6.2. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 năm 2024 so với cùng kỳ
CPI tháng 3 năm 2024 so với cùng kỳ năm trước + 2,5%. Trong 11 nhóm hàng tiêu dùng có 10 nhóm tăng giá và 01 nhóm giảm giá. Trong 10 nhóm hàng tăng giá so với cùng kỳ: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống +2,75%, đồ uống và thuốc lá +3,92%; nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép +1,0%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng +2,74%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình +0,6%; nhóm thuốc và dụng cụ y tế +11,21%; nhóm giao thông +1,27%; nhóm giáo dục +0,62%; nhóm văn hoá, giải trí, du lịch +0,73%; hàng hoá và dịch vụ khác +2,94% . Trong các nhóm tăng, nhóm thuốc và dụng cụ y tế có chỉ số giá tăng cao nhất do các cơ sở y tế áp dụng Thông tư 22/2023/TT- BYT quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc từ tháng 11/2023. 
CPI Tháng 3 năm 2024 
6.3. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I năm 2024 so với cùng kỳ 
Chỉ số giá tiêu dùng quý I năm 2024 so với cùng kỳ +2,02% (khu vực thành thị +1,76%; khu vực nông thôn +2,16%), gồm 10 nhóm tăng giá và 01 nhóm giảm giá. Nguyên nhân chính tác động tăng chỉ số giá trong quý I năm 2024 là do tết Nguyên đán rơi vào những ngày đầu tháng 02, nhu cầu mua sắm chuẩn bị đón Tết tăng. Giá cả một số nhóm hàng tăng như: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống +1,63% (lương thực +6,78%; thực phẩm +1,12%; ăn uống ngoài gia đình +0,78%); nhóm đồ uống, thuốc lá +3,31%; nhóm may mặc, mũ nón giầy dép +0,78%; nhóm thiết bị, đồ dùng gia đình +0,62%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng +2,65%; thuốc và dụng cụ y tế +11,40%, nhóm giao thông +0,89%, nhóm giáo dục +0,61%; nhóm văn hoá, giải trí và du lịch + 0,79%; nhóm hàng hoá và dịch vụ khác +3,19%. 
6.3. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
Giá vàng trong nước tiếp tục biến động tăng, giảm theo giá vàng thế giới. Trên xu hướng giá vàng trong nước tăng cao trong thời gian vừa qua, giá vàng trên địa bàn +4,52% so với tháng trước, +19,52% so với cùng kỳ, +70,31% so với giá gốc 2019. Bình quân quý I năm 2024, chỉ số giá vàng +15,01% so với quý cùng kỳ.
Trong tháng, đồng đô la Mỹ so với tháng trước +0,85%, so với cùng kỳ năm trước -0,52% và +6,71% so với năm gốc năm 2019. Bình quân quý I năm 2024, chỉ số giá đô la Mỹ -0,6% so với cùng kỳ.
7. Một số tình hình xã hội 
7.1. Giải quyết việc làm và bảo đảm an sinh xã hội6

* Giải quyết việc làm
Giới thiệu 03 đơn vị tới Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh để hỗ trợ tuyển dụng công nhân đi lao động ngoài tỉnh. Khảo sát địa bàn, tổ chức tư vấn, hướng dẫn hoạt động đưa người lao động đi làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng tại Văn Quan và Bình Gia. Tổ chức phiên giao dịch việc làm chuyên đề hỗ trợ cho người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng tại xã Hữu Lễ, huyện Văn Quan. 
Tư vấn về việc làm, học nghề, chính sách pháp luật lao động với 6.019 lượt người, số người đăng ký tìm việc làm là 1.278 người; số người được giới thiệu việc làm là 658 người, số người nhận được việc làm là 600 người; tổ chức 20 phiên giao dịch việc làm, trong đó 12 phiên hàng tuần tại Trung tâm Dịch vụ việc làm; 07 phiên giao dịch việc làm lưu động tại các huyện; 01 phiên giao dịch việc làm trực tuyến. Hướng dẫn, tiếp nhận và chuyển hồ sơ người lao động đăng ký tham dự kỳ thi tiếng Hàn đợt 1 năm 2024 theo Chương trình EPS, với 545 người đăng ký, có 09 lao động xuất cảnh. Duy trì tiếp nhận hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp và thực hiện các quy trình có liên quan đến giải quyết chính sách bảo hiểm thất nghiệp, kết quả: Số người nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp là 1.041 người tăng 8,2% so với cùng  kỳ; số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp là 1.103 người; số kinh phí chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề là 13,8 tỷ đồng.
* Bảo đảm an sinh xã hội
Thực hiện trợ cấp thường xuyên cho 10.843 lượt người có công và thân nhân với kinh phí 25,7 tỷ đồng. Tiếp nhận,giải quyết hồ sơ người có công với cách mạng và thân nhân; người hoạt động kháng chiến là 250 hồ sơ. Nhân dịp tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024 thực hiện chuyển quà tặng của Chủ tịch nước tới 7.111 đối tượng chính sách Người có công, kinh phí là 2,2 tỷ đồng, chuyển quà của Tỉnh đến 7.111 đối tượng, kinh phí là 4,3 tỷ đồng. Lãnh đạo tỉnh trực tiếp thăm, tặng quà 40 gia đình chính sách người có công, kinh phí 100 triệu đồng, thăm, chúc tết 55 đơn vị lực lượng vũ trang, một số cơ quan, đơn vị, kinh phí 275 triệu đồng. Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố và các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn thăm, tặng 2.209 suất quà, kinh phí 853,2 triệu đồng cho các gia đình chính sách.
Thực hiện tặng quà cho các hộ gia đình thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo bảo trợ xã hội, người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em với các đơn vị bảo trợ xã hội, cơ sở cai nghiện ma tuý với 23.480 suất quà trị giá 12,4 tỷ đồng. Toàn tỉnh đã thực hiện cứu đói Tết cho 3.302 hộ với tổng số gạo là 160 tấn. Kịp thời chi trả trợ cấp cho trên 37.000 đối tượng hưởng chính sách bảo trợ xã hội với kinh phí trên 17 tỷ đồng. 
7.2. Hoạt động y tế và sức khỏe cộng đồng7
* Công tác y tế dự phòng 
Trong quý I, trên địa bàn tỉnh, không có dịch bệnh lớn xảy ra, không có tử vong do mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm xảy ra; Ghi nhận 01 ca tử vong do bệnh Dại; các bệnh truyền nhiễm khác phân bố rải rác, không có yếu tố dịch tễ gây dịch hay ổ dịch.
Số trẻ dưới 01 tuổi được tiêm đầy đủ các loại vắc xin tháng 02 năm 2024 là 573/800 trẻ, số liệu cộng dồn là 1.318/1.600 trẻ, tăng 77,8% so với cùng kỳ; số trẻ em được tiêm vắc xin phòng bệnh viêm gan B < 24 giờ trong tháng là 639/739 trẻ, số liệu cộng dồn là 1.408/1.597 trẻ, tăng 83,5% so với cùng kỳ; số phụ nữ có thai tiêm đủ AT2+ trong tháng là 602/8.000 người, số liệu cộng dồn là 1.192/1.600 người, tăng 69,7% so với cùng kỳ. 
* Công tác khám chữa bệnh
Các đơn vị tiếp tục nâng cao chất lượng khám chữa bệnh; thực hiện nghiêm túc quy chế chuyên môn; đảm bảo thuốc, vật tư y tế, hóa chất, sinh phẩm phục vụ công tác khám chữa bệnh và phòng chống dịch bệnh; thực hiện nghiêm túc chế độ thường trực và chế độ báo cáo trong dịp tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024 theo chỉ đạo của UBND tỉnh và đảm bảo các nguồn lực phục vụ công tác đảm bảo y tế trước, trong và sau tết Nguyên đán Giáp Thìn.
Kết quả  trong  quý,  khám được  280.217 lượt  đạt 19,4% kế hoạch năm, điều trị nội trú bệnh viện và lưu trú tại trạm y tế xã 30.196 lượt đạt 19,6% kế hoạch năm, điều trị ngoại trú 29.692 lượt đạt 32,3% kế hoạch năm.
Khám chữa bệnh tại các phòng khám đa khoa ngoài công lập: 70.297  lượt, trong đó khám bảo hiểm y tế 59.569 lượt; chuyển viện 3.287 lượt; khám sức khỏe 6.417 lượt (trong đó, khám sức khỏe là 2.925 lượt, khám sức khỏe lái xe là 3.492 lượt).
Công tác giám định y khoa được thực hiện tốt, trong quý đã khám được 319 người, tăng 54,11% so với cùng kỳ. Các đối tượng khám là người khuyết tật, nghỉ hưu trước tuổi, tai nạn lao động, người tham gia kháng chiến có liên quan đến phơi nhiễm chất độc hoá học, khám theo yêu cầu.
7.3. Hoạt động văn hoá, thể thao và du lịch8
Về văn hóa dân tộc: Tổ chức Lễ hội hoa Đào và các hoạt động mừng Đảng mừng Xuân 2024, tổ chức Cuộc thi vườn Đào đẹp, cây Đào đẹp; tổ chức Chương trình gặp mặt văn nghệ sĩ, trí thức và các cơ quan báo chí xuân Giáp Thìn 2024.
Về hoạt động Thư viện: Tổ chức Hội Báo xuân Xứ Lạng; trưng bày phòng đọc sách Hồ Chí Minh, tổ chức phòng đọc Báo Xuân Giáp Thìn; Trưng bày, triển lãm sách, báo Mừng Đảng quang vinh - Mừng Xuân Giáp Thìn năm 2024 tại Thư viện tỉnh.
Về hoạt động Bảo tàng: Đón tiếp, phục vụ  khách tham quan nghiên cứu, học tập tại Bảo tàng đạt: 12.582/15.000 lượt  khách. Tổ chức  triển lãm chuyên đề: “Nghe dòng sông kể chuyện; không gian văn hoá chợ phiên Kỳ Lừa”. Thực hiện chỉnh lý gian khánh tiết, gian trưng bày quan hệ Việt Nam - Triều Tiên; gian trưng bày bia Thủy Môn Đình. Phân loại 296 mẫu vật do Trung tâm Thông tin lưu trữ và Bảo tàng Địa chất thuộc Cục Địa chất Việt Nam bàn giao.   
Về điện ảnh: Xây dựng 03 clip phóng sự hình, biên tập, phát hành và thực hiện thu âm 15 nội dung tuyên truyền. Tổ chức triển khai 02 Đợt phim, Tuần phim trên địa bàn các huyện và rạp Đông Kinh như: Đợt phim “Mừng  Đảng, mừng Xuân Giáp Thìn”; Tuần phim “Chào mừng Kỷ niệm 71 năm Ngày thành lập ngành Điện ảnh cách mạng Việt Nam (15/3/1953 - 15/3/2024)”.
Về nghệ thuật biểu diễn: Tổ chức giao lưu 02 chương trình nghệ thuật với nước Trung Quốc: Giao lưu "Đêm văn nghệ chào Xuân Việt -Trung năm 2024" nhân dịp tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024 tại thị Bằng Tường, Quảng Tây, Trung Quốc; giao lưu nghệ thuật năng 2024 giữa đoàn nghệ thuật Thị Bằng Tường,  Quảng Tây, Trung  Quốc  với Trung tâm Văn hóa nghệ thuật chào mừng Lễ hội Kỳ cùng - Tả phủ.
Về mỹ thuật nhiếp ảnh và triển lãm: Trưng bày triển lãm tại Bảo tàng 190 hiện vật; Ban Quản lý Công viên Địa chất và Trung tâm Văn hoá Nghệ thuật tỉnh, Trung tâm Phát hành phim và Chiếu bóng trưng bày, tuyên truyền 29 hiện vật.
Lĩnh vực thể dục, thể thao: Tham dự giải Bóng đá Chào năm mới Trung Quốc - Việt Nam “Cúp Hữu Nghị” năm 2024 tại Thị Bằng Tường, Quảng Tây, Trung Quốc từ ngày 27-28/02/2024. Tham gia tổ chức thành công giải  chạy  “Mẫu  Sơn  Mount Paths” năm 2024. Giải Việt dã Mùa Xuân, Biểu diễn võ thuật, đua bè mảng trên sông Kỳ Cùng năm 2024.
Tổng lượng khách du lịch quý I năm 2024 đạt 1.521 nghìn lượt khách, tăng 12,7% so với cùng kỳ, đạt 37,5% so với kế hoạch năm, trong đó: Khách quốc tế đạt 39 nghìn lượt khách, tăng 334% so với cùng kỳ, đạt 24,4% so với kế  hoạch năm; khách trong nước đạt 1.482 nghìn lượt khách, tăng 10,5% so với  cùng kỳ, đạt 38% so với kế hoạch năm.
7.4. Giáo dục
Tổ chức Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia trung học phổ thông (THPT) năm học 2023- 2024. Tổ chức Hội thảo về dạy học tích hợp, tổ chức hoạt động trải nghiệp, công tác dạy học, kiểm tra đánh giá đối với các trường THPT, các trung tâm giáo dục thường xuyên đáp ứng yêu cầu thi tốt nghiệp của Bộ giáo dục đào tạo (GDĐT). Tập huấn triển khai Chương trình giáo dục, truyền thông nâng cao nhận thức về nước sạch, bảo vệ môi trường và nâng cao sức khoẻ cho học sinh tiểu học giai đoạn 2023- 2025. Tổ chức thi đấu các môn đợt 1, Hội khỏe Phù đổng tỉnh Lạng Sơn lần thứ XI năm 2024. Phát động đợt thi đua cao điểm "Thi đua hoàn thành xây dựng và phê duyệt đề án vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở GDĐT".
7.5. Trật tự - An toàn giao thông9
Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với tội phạm. Tháng 3 năm 2024, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã xảy ra 29 vụ tai nạn giao thông đường bộ; làm 06 người chết, 31 người bị thương. Cộng dồn quý I năm 2024 toàn tỉnh xảy ra 112 vụ tai nạn giao thông làm 23 người chết, 113 người bị thương. Nguyên nhân tai nạn chủ yếu là do phóng nhanh vượt ẩu của người điều khiển phương tiện đã không làm chủ được tốc độ.
7.6. Môi trường
Trong tháng phát hiện 15 vụ vi phạm môi trường, giảm 24 vụ so với cùng kỳ năm trước, giảm 2l vụ so với tháng trước. Trong tổng số vụ vi phạm, 01 vụ đã xử lý hình sự (khởi tố 01 vụ, 02 bị can về tội Hủy hoại rừng) và 04 vụ xử phạt hành chính với số tiền xử phạt 12 triệu đồng, giảm 26,55 triệu đồng so với tháng trước. Lũy kế quý I năm 2024, trên địa bàn tỉnh phát hiện 91 vụ, đã xử lý 26 vụ với tông số tiền phạt là 61,55 triệu đồng.
7.7. Thiệt hại do thiên tai: Trong tháng, trên khu vực tỉnh Lạng Sơn không xảy ra thiên tai.


[1] Doanh nghiệp ngành 36 Khai thác, xử lý và cung cấp nước.
[2] Doanh nghiệp ngành 23 Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác.
[3] Nguồn: Sở Tài chính
[4] Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Lạng Sơn
[5] Nguồn: Cục Hải quan.
[6] Nguồn: Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh.
[7] Nguồn: Sở Y tế.
[8] Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh.
 [9] Nguồn: Ban An toàn giao thông tỉnh

 

Tác giả bài viết: Cục Thống kê tỉnh Lạng Sơn

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây