1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
1.1 Nông nghiệp
* Trồng trọt
Cây lúa: Trong tháng người dân đẩy nhanh tiến độ làm đất, gieo cấy lúa Mùa để đảm bảo đúng khung thời vụ, đồng thời sử dụng các giống lúa chất lượng như bao thai, nếp các loại..., phù hợp với điều kiện thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương cho năng suất và chất lượng tốt. Diện tích gieo cấy lúa vụ Mùa ước đạt 32.875,7 ha, tăng 1,67% so với cùng kỳ.
Cây ngô: Tổng diện tích gieo trồng đến tháng 8 ước thực hiện 20.062,8 ha, tăng 0,24% so với cùng kỳ.
Cây khoai lang: Tổng diện tích gieo trồng ước thực hiện 1.413,2 ha, tăng 3,94% so với cùng kỳ.
Rau các loại: Tổng diện tích gieo trồng ước thực hiện 9.046,2 ha, tăng 3,62% so với cùng kỳ. Hiện nay, diện tích trồng rau an toàn ngày càng mở rộng, mang lại hiệu quả kinh tế cao vì thị trường rau sạch đáp ứng được nhu cầu của người tiêu thụ, giá bán ổn định.
Diện tích gieo trồng một số cây hằng năm đến tháng 8 năm 2025 so với cùng kỳ

Đậu các loại: Tổng diện tích gieo trồng ước thực hiện được 838,1 ha, tăng 2,22% so với cùng kỳ.
Trong tháng, chịu ảnh hưởng từ áp thấp nhiệt đới và cơn bão số 5, trên địa bàn tỉnh xảy ra mưa lớn gây thiệt hại về người, nhà cửa, sản xuất nông nghiệp. Trong đó: 1.124,6 ha diện tích lúa bị thiệt hại, 645,07 ha diện tích hoa màu bị thiệt hại, 1.574 con gia súc, gia cầm bị chết, cuốn trôi.
Giá một số vật tư nông nghiệp đầu vào có xu hướng tăng nhẹ nhất là phân đạm và phân lân: Đạm Ure 12.200 - 14.000 đồng/kg (tăng 200 - 600 đồng/kg so với tháng trước và tăng 1.100 - 2.200 đồng/kg so với cùng kỳ); supe lân 6.720 - 10.160 đồng/kg (tăng 200 - 400 đồng/kg so với tháng trước và tăng 1.600 - 4.580 đồng/kg so với cùng kỳ). Phân NPK giữ mức tương đương so với tháng trước và tăng 50 -100 đồng/kg so với cùng kỳ tùy hàm lượng. Phân kali giá bán 10.800 đồng/kg, tương đương so với tháng trước, nhưng giảm 1.600 đồng/kg so với cùng kỳ.
* Chăn nuôi
Dịch tả lợn Châu Phi trên địa bàn tỉnh diễn biến phức tạp, đã xảy ra tại 1.416 hộ/235 thôn/55 xã, phường, tổng số ốm, chết và tiêu hủy 5.939 con, với tổng trọng lượng 324.766 kg. Lũy kế từ đầu năm đến nay bệnh xảy ra tại 3.421 hộ/813 thôn/65 xã, phường. Tổng số tiêu hủy 12.224 con, với tổng trọng lượng 654.600 kg; 35/65 xã, phường công bố dịch; 12/65 xã, phường đã qua 21 ngày không phát sinh dịch.
Số lượng một số sản phẩm chăn nuôi chủ yếu thời điểm tháng 8 năm 2025 so với cùng kỳ

Tổng đàn trâu, đàn bò toàn tỉnh ước tính thời điểm tháng 8/2025 hiện có: Đàn trâu hiện 48.115 con, giảm 14,22% so với cùng kỳ, đàn bò hiện có 28.223 con, giảm 2,0%. Do cầu sử dụng sức kéo bằng gia súc giảm và môi trường chăn thả bị thu hẹp, xu hướng đàn trâu giảm mạnh so với các năm trước; hiện nay các hộ dân cư chủ yếu nuôi trâu bò vỗ béo, lấy thịt.
Tổng đàn lợn số con hiện có dự ước 159.533 con, tăng 2,69% so với cùng kỳ. Chăn nuôi lợn đang phát triển theo hướng chăn nuôi tập trung, an toàn sinh học.
Đàn gia cầm ước hiện có 5.306 nghìn con, tăng 7,12% so với cùng kỳ; trong đó, tổng đàn gà là 4.761 nghìn con, tăng 6,64% so với cùng kỳ. Do nhu cầu tiêu thụ thịt gia cầm cho hoạt động sinh hoạt, thương mại tăng.
1.2. Lâm nghiệp
Công tác trồng rừng được duy trì, do đem lại hiệu quả kinh tế cao, sản phẩm gỗ có thị trường tiêu thụ ổn định. Công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng thường xuyên được tỉnh quan tâm, cập nhật tình hình thời tiết tại các vùng trên địa bàn tỉnh, kịp thời cảnh báo tới chính quyền các cấp, các chủ rừng và người dân chủ động thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng. Diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng ước thực hiện 275,5 ha, tăng 4,03% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác gỗ đạt 41.130 m3, tăng 3,01% so với cùng kỳ, cộng dồn từ đầu năm đạt 349.043 m2, tăng 1,38% so cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác tăng do trồng rừng sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao, diện tích rừng sản xuất duy trì, phát triển qua các năm theo định hướng, quy hoạch của tỉnh.
1.3. Thủy sản
Sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh ổn định. Lượng nước tại các sông, suối, ao hồ tăng do mưa nhiều, tạo môi trường thuận lợi cho sinh trưởng, phát triển nuôi trồng, khai thác thuỷ sản. Các địa phương tiếp tục quan tâm đầu tư, tập trung thu hoạch và chăm sóc đàn cá.
2. Sản xuất công nghiệp
2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 8/2025
* So với tháng trước
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8/2025 giảm 7,3% so với tháng trước, mức giảm này chủ yếu do ngành khai khoáng giảm 10,07% và ngành sản xuất và phân phối điện giảm 27,05% làm giảm đáng kể mức tăng chung của toàn ngành. Tuy nhiên, một số ngành công nghiệp chủ lực vẫn duy trì mức tăng trưởng tích cực như: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,67%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,67%.
Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 10,07%, chủ yếu giảm ở hoạt động khai thác than giảm 39,05%, do Công ty Cổ phần Nhiệt điện Na bảo dưỡng lò hơi định kỳ, kết hợp điều kiện thời tiết mưa nhiều làm ảnh hưởng đến tiến độ khai thác than. Ngược lại, khai khoáng khác (đặc biệt đá xây dựng) tăng 4,94% nhờ nhu cầu đá phục vụ các công trình hạ tầng lớn trên địa bàn tỉnh.
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dự ước tăng 1,67% so với tháng trước nhờ các nhóm ngành chủ lực tăng trưởng tích cực: sản xuất kim loại tăng 191,46%, sản xuất trang phục tăng 7,61%, sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 7,14%. Nguyên nhân là các doanh nghiệp nhận thêm đơn đặt hàng nên tăng công suất sản xuất. Bên cạnh đó, có một số ngành có chỉ số giảm như: sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 29,2% do công ty TNHH DK Việt Nhật thiếu nguyên liệu lắp ráp; nhóm ngành sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 8% do sản phẩm khó tiêu thụ.
Ngành sản xuất và phân phối điện có chỉ số sản xuất giảm 27,05%, trong đó: Điện sản xuất giảm 33,28% (giảm 19,96 triệu kwh) do Nhà máy Nhiệt điện Na Dương dừng một lò để bảo dưỡng theo kế hoạch của EVN. Ngược lại, điện thương phẩm tăng 0,64% (tăng 0,52 triệu kwh) nhờ nhu cầu điện cho sản xuất, sinh hoạt tăng.
Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,67%.Trong đó khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 1,16%, thoát nước và xử lý nước thải giảm 2,34%, hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải, tái chế phế liệu tăng 2,73%

* So với cùng kỳ
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8/2025 so với cùng kỳ tăng 12,96%, mức tăng này chủ yếu nhờ hoạt động sản xuất phục hồi, nhiều doanh nghiệp nhận được thêm đơn hàng và nhu cầu thị trường tăng nên sản xuất tăng so với cùng kỳ.
Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 18,98%, trong đó: hoạt động khai thác than tăng 99,9%, do Công ty Nhiệt điện Na Dương tăng huy động sản lượng nhờ giá nhiên liệu đầu vào ổn định hơn; hoạt động khai khoáng khác (đá xây dựng) tăng 6,05%, do năm 2025 trên địa bàn tỉnh có nhiều dự án, công trình xây dựng lớn, sản phẩm có thị trường tiêu thụ nên các doanh nghiệp tăng sản lượng sản xuất so với cùng kỳ.
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,75%, chủ yếu do tác động tăng của một số ngành: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 80,56%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 38,93%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 37,95% do nhu cầu vật liệu xây dựng tăng, trong xu hướng tăng từ đầu năm, các đơn đặt hàng từ các nhà phân phối tăng so với cùng kỳ; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 12,29% nhờ mở rộng quy mô sản xuất, tận dụng nguồn nguyên liệu trồng rừng ổn định; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 11,66%; sản xuất máy móc thiết bị tăng 9,52%; do các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể nhận thêm đơn hàng mới nên tăng sản lượng sản xuất so với cùng kỳ.
Ở chiều ngược lại, trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo một số nhóm ngành có chỉ số giảm, cụ thể: Ngành in, sao chép bản ghi các loại giảm 44,85%; ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 43,9%; ngành giường tủ, bàn ghế giảm 35,92%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo khác giảm 15,02% do đầu ra gặp nhiều khó khăn, thị trường tiêu thụ chậm, các cơ sở sản xuất giảm quy mô hoạt động; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 13,82% do công ty TNHH DK Việt Nhật thiếu linh kiện lắp ráp nên sản lượng giảm; sản xuất đồ uống giảm 9,68% do nhu cầu tiêu thụ chậm, doanh nghiệp tập trung tiêu thụ hàng tồn kho nên sản xuất giảm so với cùng kỳ.
Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 24,49%, trong đó: điện sản xuất tăng 32,33% do năm 2025, giá và chất lượng than khai thác ổn định hơn so với năm trước, doanh nghiệp tăng huy động sản xuất điện nên sản lượng tăng cao so cùng kỳ; Điện thương phẩm tăng 6,48%.
Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,46%: Hoạt động khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 0,58% do lượng mưa nhiều; thoát nước và xử lý nước thải tăng 2,78%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải, tái chế phế liệu tăng 3,06% so với cùng kỳ.
* Cộng dồn 8 tháng năm 2025 so với cùng kỳ
Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp dự ước 8 tháng đầu năm 2025 tăng 6,05% so với cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu là do nhu cầu thị trường tăng, các doanh nghiệp nhận được thêm đơn hàng nên tăng sản lượng sản xuất để đáp ứng yêu cầu, trong đó một số ngành có chỉ số sản xuất tăng, như: Khai thác than cứng và than non tăng 18,31%. Khai khoáng khác tăng 12,56%, chủ yếu là khai thác đá, do nhu cầu đá xây dựng phục vụ cho các dự án đầu tư, xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh tăng, các doanh nghiệp tăng sản lượng khai thác. Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 12,15%, do doanh nghiệp mở rộng sản xuất ngành chế biến gỗ nên tăng sản lượng so cùng kỳ. Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 25,88%, do nhu cầu xây dựng phục vụ cho các dự án công trình của tỉnh và xây dựng trong dân cư tăng, doanh nghiệp tăng sản lượng sản xuất clanhke, xi măng để đáp ứng nhu cầu, đơn đặt hàng và đảm bảo nguồn cung cho hoạt động xây dựng. Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 16,06%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 14,73%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 20,85%, do doanh nghiệp nhận được thêm đơn hàng nên tăng sản xuất so với cùng kỳ.
Sản lượng một số sản phẩm chủ lực của tỉnh tăng so với cùng kỳ: Sản lượng khai thác than của Công ty Than Na Dương 8 tháng đầu năm ước đạt 322,91 nghìn tấn, tăng 18,31%, do nhu cầu tiêu thụ than của Công ty Nhiệt điện Na Dương tăng so với cùng kỳ. Sản phẩm gỗ lạng (có độ dày không quá 6mm) ước đạt 82,24 nghìn m3, tăng 14,72%; ván ép từ gỗ và các vật liệu tương tự ước đạt 35,88 nghìn m3, tăng 27,67%, Sản phẩm clanhke ước đạt 550 nghìn tấn, tăng 34,21%, xi măng Portland đen ước đạt 907,6 nghìn tấn, tăng 24,54% so với cùng kỳ.
2.2. Chỉ số sử dụng lao động
Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 8/2025 giảm 0,07% so với tháng trước và giảm 0,18% so với cùng kỳ.
Chia theo ngành: Chỉ số sử dụng lao động ngành khai khoáng tăng 0,36%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,71% so với cùng kỳ. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,86%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,69% so với cùng kỳ.
Chia theo loại hình sở hữu: chỉ số sử dụng lao động trong doanh nghiệp nhà nước tăng 1,17%, doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 0,12%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 7,23% so với cùng kỳ.
3. Đầu tư, xây dựng
3.1. Thực hiện vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước
Dự ước vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh tháng 8 năm 2025 ước đạt 618,5 tỷ đồng, đạt 9,39% kế hoạch năm 2025, tăng 8,27% so với tháng trước và tăng 64,59% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 569,4 tỷ đồng, tăng 70,75%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 49,1 tỷ đồng, tăng 16,02% so với cùng kỳ.
Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh 8 tháng năm 2025 ước thực hiện 3.226,3 tỷ đồng, đạt 48,99% kế hoạch năm, tăng 49,21% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 2.907,3 tỷ đồng, tăng 54,75%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 318,9 tỷ đồng, tăng 12,47% so với cùng kỳ.
* Tiến độ thực hiện một số dự án trên địa bàn tỉnh
Dự án tuyến Cao tốc cửa khẩu Hữu Nghị - Chi Lăng theo hình thức BOT công trình có tổng mức đầu tư 11.024 tỷ đồng (trong đó, nguồn vốn Nhà nước do địa phương quản lý 5.500 tỷ đồng), lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 8/2025 ước thực hiện được 2.207,8 tỷ đồng, đạt 40,14% so với kế hoạch.
Dự án Đường giao thông kết nối Quốc lộ 4B đến Quốc lộ 18: Tổng mức đầu tư 338,9 tỷ đồng, lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 8/2025 ước thực hiện được 324,3 tỷ đồng, đạt 95,68% kế hoạch.
Dự án Khu liên hợp thể thao (Hạng mục: Sân vận động trung tâm và nhà thi đấu đa năng), công trình có tổng mức đầu tư 500,3 tỷ đồng, lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 8/2025 ước thực hiện được 82,5 tỷ đồng, đạt 16,49% so với kế hoạch.
Dự án đường Lý Thái Tổ kéo dài và khu dân cư, tái định cư thành phố Lạng Sơn, tổng mức đầu tư 690,3 tỷ đồng, lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 8/2025 ước thực hiện được 154,7 tỷ đồng, đạt 22,42% kế hoạch.
3.2. Tình hình đăng ký doanh nghiệp
Từ đầu năm đến hết tháng 7/2025 có 504 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 36,84% so với cùng kỳ. Tổng số vốn đăng ký kinh doanh là 3.879,2 tỷ đồng, giảm 36,77% so với cùng kỳ. Số doanh nghiệp gửi thông báo tạm ngừng hoạt động là 397 doanh nghiệp, giảm 16,95%; số doanh nghiệp thông báo giải thể là 66 doanh nghiệp, giảm 30,53% so với cùng kỳ.
4. Thương mại và dịch vụ
4.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ
Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh 8 tháng năm 2025 đạt 28.565,4 tỷ đồng (chưa bao gồm doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông và chuyên môn khoa học), tăng 16,43% so với cùng kỳ.

* Tổng mức bán lẻ hàng hóa
So với tháng trước: Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 8/2025 ước tính đạt 3.145 tỷ đồng, tăng 0,38%. Các nhóm mặt hàng tăng như: Nhóm lương thực, thực phẩm tăng 1,02%; nhóm hàng may mặc tăng 0,92%; nhóm vật phẩm, văn hóa, giáo dục tăng 2,68% do nhu cầu mua trang phục, đồng phục chuẩn bị năm học mới; nhóm đồ dùng dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 2,28%....
So với cùng kỳ: Nhìn chung các nhóm hàng trong tổng mức bán lẻ hàng hoá đều tăng, tổng mức bán lẻ hàng hoá tăng 19,31% so với cùng kỳ cụ thể: Lương thực, thực phẩm tăng 25,26%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 13,95%; gỗ và vật liệu xây dưng tăng 20,3%; ô tô các loại (loại 9 chỗ ngồi trở xuống) tăng 13%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 97,44%; hàng hoá khác tăng 30,18%; dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 19,22%,…
Dự ước 8 tháng đầu năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 25.140,5 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước tăng 16,66%. Tăng chủ yếu ở các nhóm hàng hóa: Lương thực, thực phẩm tăng 23,14%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 15,02%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 10,53% và xăng, dầu các loại tăng 13,97%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 78,12%, hàng hóa khác tăng 20,46% do nhu cầu mua sắm của nhân dân tăng cao;…
* Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành
Trong tháng 8 tỉnh Lạng Sơn tập trung phát triển các loại hình du lịch thế mạnh như: du lịch văn hóa - tâm linh - lễ hội; du lịch biên giới, cửa khẩu kết hợp mua sắm; du lịch văn hóa cộng đồng; du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng... Hiện nay, trên địa bàn tỉnh các khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng đang được chú trọng đầu tư và phát triển thu hút khách du lịch từ mọi miền đến thăm quan và du lịch, nghỉ dưỡng các cơ sở hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống cũng được trang bị cơ sở vật chất đầy đủ đáp ứng được nhu cầu của người dân.
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 8 năm 2025 ước đạt 269,4 tỷ đồng, tăng 1,76% so với tháng trước và tăng 19,12% so với cùng kỳ. Chia ra: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 15,7 tỷ đồng, tăng 0,59% so với tháng trước và tăng 10,2% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 253,7 tỷ đồng, tăng 1,84% so với tháng trước và tăng 19,72% so với cùng kỳ.
Doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 843 triệu đồng, tăng 10% so với tháng trước và giảm 0,09% so với cùng kỳ.
Cộng dồn 8 tháng năm 2025 ước đạt 2.191,6 tỷ đồng, tăng 19,16% so với cùng kỳ;
* Doanh thu dịch vụ khác
Doanh thu dịch vụ khác tháng 8 năm 2025 ước đạt 157,6 tỷ đồng, giảm 0,51% so với tháng trước và tăng 7,14% so với cùng kỳ. Luỹ kế 8 tháng doanh thu dịch vụ ước đạt 1.225,9 tỷ đồng tăng 7,75% so với cùng kỳ.
4.2. Vận tải
Dự ước tổng doanh thu vận tải, kho bãi tháng 8 đạt 241,7 tỷ đồng, tăng 0,14% so với tháng trước và tăng 14,64% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 28,2 tỷ đồng, tăng 0,33% so với tháng trước và tăng 8,3% so với cùng kỳ do nhu cầu đi lại của người dân tăng cao; doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 100,1 tỷ đồng, tăng 0,22% so với tháng trước và tăng 20,07% so với cùng kỳ; doanh thu hoạt động bưu chính, chuyển phát ước đạt 0,46 tỷ đồng, tăng 8,59% so với tháng trước và tăng 52,54% so với cùng kỳ.
Dự ước tổng doanh thu vận tải, kho bãi 8 tháng năm 2025 ước đạt 1.895,1 tỷ đồng, tăng 12,86% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 238,2 tỷ đồng, tăng 10,41%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 880,4 tỷ đồng, tăng 10,38%; doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 773,3 tỷ đồng, tăng 16,51%; doanh thu hoạt động bưu chính, chuyển phát ước đạt 3,2 tỷ đồng, tăng 45,52% so với cùng kỳ.
5. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
5.1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
* Chỉ số giá tiêu dùng so với tháng trước: Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tăng 0,16%, cụ thể:
Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,11%, nhóm lương thực tăng 0,12%, nhóm thực phẩm tăng 0,14%; Do nhu cầu mua sắm đầu năm học mới tăng, khiến cho chỉ số giá nhóm may mặc mũ nón, giày dép tăng 0,43%; nhu cầu mua đồ dùng học tập và văn phòng phẩm tăng kéo theo chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 0,11%;
Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,09%; Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,34%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,25%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; nhóm bưu chính viễn thông tăng 0,05%; chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,22%; nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,14%.
* Chỉ số giá tiêu dùng so với cùng kỳ: Chỉ số giá tháng 8/2025 tăng 1,23%. Trong 11 nhóm hàng tiêu dùng có 09 nhóm tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,35%,( lương thực tăng 1,49%, thực phẩm tăng 3,03%), đồ uống và thuốc lá tăng 0,50%; nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,57%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,68%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,05%; nhóm thuốc và dụng cụ y tế tăng 6,27%; nhóm bưu chính viễn thông tăng 0,32%; nhóm văn hoá, giải trí, du lịch tăng 0,91%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 1,18%.
Có 02 nhóm giảm giá so với cùng kỳ, gồm: Nhóm giao thông giảm 2,45%và nhóm giáo dục giảm 14,62%,
* Chỉ số giá tiêu dùng 8 tháng năm 2025: So với cùng kỳ tăng 1,73% do chỉ số giá một số nhóm hàng tăng, như: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,33%, (lương thực tăng 4,88%, thực phẩm tăng 5,34%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,35%); Do nhu cầu tiêu thụ tăng nên giá nhiều mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng so với cùng kỳ năm trước như thịt gia súc, thuỷ sản chế biến. Nhóm đồ uống, thuốc lá tăng 1,57%. Nhóm may mặc, mũ nón giầy dép tăng 0,31%. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,05%. Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,20%. Thuốc và dụng cụ y tế tăng 6,34%, nhóm này có chỉ số giá tăng do giá dịch vụ y tế tăng theo Nghị quyết 28/2024/NQ -HĐND ngày 31/12/2024 của HĐND tỉnh Lạng Sơn, áp dụng từ ngày 01/01/2025. Nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,98%. Nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 3,24%,
5.2. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
Tháng 8/2025, giá vàng trong nước tiếp tục biến động tăng, giảm theo giá vàng thế giới. Trên xu hướng giá vàng trong nước tăng trong thời gian qua, chỉ số giá vàng trên địa bàn tăng 0,19% so với tháng trước, tăng 42,54% so với cùng kỳ năm trước, so với giá gốc 2019 tăng 175,77%. Chỉ số giá vàng bình quân 8 tháng đầu năm 2025 tăng 41,47% so với cùng kỳ.
Trong tháng 8/2025, đồng đô la Mỹ tăng 0,35% so với tháng trước, tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước, so với năm gốc năm 2019 tăng 13,42%. Chỉ số giá đô la Mỹ bình quân 8 tháng đầu năm 2025 tăng 3,41% so với cùng kỳ.
6. Tài chính, ngân hàng
6.1. Tài chính1
- Về thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện tháng 8 năm 2025 là 1.294,3 tỷ đồng. Luỹ kế ước thực hiện 8 tháng đầu năm 2025 là 10.600,1 tỷ đồng, tăng 2,7% so với dự toán tỉnh giao, tăng 47,0% so với cùng kỳ. Trong đó:
Thu nội địa: 2.543,0 tỷ đồng, đạt 69,4% so với dự toán Trung ương giao, đạt 69,4% dự toán tỉnh giao, tăng 30,3% so với cùng kỳ. Do các cấp, các ngành tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2025; Kế hoạch thực hiện kịch bản tăng trưởng kinh tế năm 2025; đẩy mạnh phát triển kinh tế cửa khẩu, thương mại, dịch vụ, du lịch, công nghiệp, tái cơ cấu ngành nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới gắn với phát triển kinh tế số; tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng.
Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu: 7.727,5 tỷ đồng, tăng 19,8% so với dự toán giao, tăng 63,6% so với cùng kỳ. Các cơ quan, đơn vị tăng cường phối hợp, tích cực tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho thông quan hàng hóa, kết hợp công tác kiểm soát, chống buôn lậu, gian lận thương mại, đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn khu vực cửa khẩu biên giới, thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn.
Các khoản huy động, đóng góp: 15,5 tỷ đồng.

- Về chi ngân sách địa phương
Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện 8 tháng năm 2025 là 11.834,9 tỷ đồng, đạt 62,1% dự toán giao đầu năm, tăng 71,4% so cùng kỳ năm, trong đó: Chi trong cân đối ngân sách địa phương là 9.459,9 tỷ đồng, đạt 65,3% dự toán giao đầu năm và tăng 63,3% so với cùng kỳ. Chi các chương trình mục tiêu và một số nhiệm vụ khác 2.375,0 tỷ đồng đạt 51,9% dự toán, tăng 113,7% so với cùng kỳ.
Chi ngân sách địa phương được kiểm soát chặt chẽ, các khoản chi ngân sách đảm bảo đúng theo định mức, chế độ. Chi đầu tư phát triển được điều hành có trọng điểm, tập trung giải ngân cho các công trình chuyển tiếp, các dự án đã có khối lượng hoàn thành và một số công trình cấp thiết thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục, giao thông trên địa bàn các đơn vị hành chính mới sắp xếp. Việc giải ngân được thực hiện gắn với kiểm soát chặt chẽ tiến độ, hiệu quả đầu tư, tránh dàn trải, thất thoát. Các khoản chi thường xuyên được thực hiện tiết kiệm, có trọng tâm, ưu tiên chi cho hoạt động thiết yếu, chi trả lương và các khoản có tính chất lương, tiếp tục tăng so với cùng kỳ chủ yếu do tăng chi kinh phí chi trả chế độ chính sách cho các đối tượng nghỉ việc theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP ngày 31/12/2024 của Chính phủ, chi khắc phục hậu quả thiên tai, chi tổ chức Đại hội đảng bộ cấp xã nhiệm kỳ 2025 - 2030, các chế độ, chương trình, đề án của tỉnh, đảm bảo duy trì bộ máy hành chính sau sắp xếp, không để xảy ra ách tắc trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị.
6.2. Ngân hàng2
Các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn tiếp tục tập trung thực hiện kế hoạch và nhiệm vụ kinh doanh; huy động vốn và dư nợ tín dụng tăng trưởng tốt; tập trung vốn cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Các dịch vụ ngân hàng số ngày càng phổ biến, hình thành thói quen thanh toán không dùng tiền mặt đối với người dân trên địa bàn tỉnh. Tổng nguồn vốn huy động của các TCTD trên địa bàn tỉnh ước thực hiện đến 31/8/2025 ước đạt 54.712 tỷ đồng, tăng 16,2% so với cùng kỳ năm 2024, tăng 9,4% so với 31/12/2024. Tổng dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đến 31/8/2025 ước đạt 47.850 tỷ đồng, tăng 12,6% so với cùng kỳ, tăng 5,0% so với 31/12/2024.
Tình hình thực hiện lãi suất: Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5 ban hành Công văn số 1941/KV5-TH ngày 19/8/2025 về việc ổn định lãi suất tiền gửi, giảm lãi suất cho vay. TCTD công khai, minh bạch quy trình, hồ sơ, áp dụng các thủ tục vay vốn đã được đơn giản hóa, tăng cường ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đẩy nhanh tiến độ xử lý hồ sơ của khách hàng; đưa ra nhiều gói tín dụng với lãi suất ưu đãi nhằm kích cầu tín dụng, nhất là cho vay tiêu dùng, cho vay nhà ở xã hội đối với người nghèo, người thu nhập thấp, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng theo đúng quy định.
+ Về lãi suất huy động: Phổ biến ở mức 0,1-0,5%/năm đối với các khoản tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 1,5-4,0%/năm đối với kỳ hạn từ 1 đến dưới 6 tháng; 2,8-5,5%/năm đối với kỳ hạn từ 6 đến dưới 12 tháng; 3,75-6,0%/năm đối với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên.
+ Về lãi suất cho vay VNĐ: Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên là 4,0%/năm. Lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh ở mức 7,29%/năm, giảm 0,41%/năm so với cuối năm 2024.
7. Một số tình hình xã hội
7.1. Giải quyết việc làm và bảo đảm an sinh xã hội3
Tổ chức Hội nghị tập huấn thu thập, cập nhật, điều chỉnh, tổng hợp thông tin về người lao động và xây dựng cơ sở dữ liệu về việc tìm người - người tìm việc năm 2025 với hơn 170 đại biểu tham dự; Hội nghị tập huấn thu thập, lưu trữ, tổng hợp thông tin thị trường lao động trên địa bàn tỉnh năm 2025 với hơn 150 đại biểu tham dự.
Thẩm định chấp thuận 12 vị trí công việc được sử dụng người lao động nước ngoài trên địa bàn tỉnh của 03 lượt doanh nghiệp. Thẩm định, cấp giấy phép lao động (GPLĐ) cho 04 người lao động nước ngoài thuộc 02 doanh nghiệp, trong đó: Cấp mới 03 GPLĐ, cấp lại 01 GPLĐ. Thu hồi 01 GPLĐ của 01 NLĐ tại 01 doanh nghiệp.
Tổ chức 01 lớp huấn luyện ATVSLĐ cho người quản lý, người làm công tác ATVSLĐ với 46 người tham dự.
7.2. Hoạt động y tế và sức khỏe cộng đồng4
Các đơn vị tiếp tục thực hiện nghiêm túc quy chế chuyên môn; đảm bảo thuốc, vật tư y tế, hóa chất, sinh phẩm phục vụ công tác khám chữa bệnh và phòng chống dịch bệnh. Duy trì thực hiện Đề án 1816, khám chữa bệnh từ xa, đảm bảo y tế cho các sự kiện lớn của tỉnh.
Công tác khám, chữa bệnh: Khám chữa bệnh công lập, trong tháng 8 khám được 90.373 lượt, cộng dồn đạt 822.090/1.031.687 lượt, đạt 81,5% kế hoạch năm; điều trị nội trú bệnh viện và lưu trú tại trạm y tế xã trong tháng 8 đạt 12.253 lượt, cộng dồn 99.277 lượt/159.368, đạt 38,5% kế hoạch năm; điều trị ngoại trú tháng 8 đạt 9.318 lượt, cộng dồn 84.934/68.228 lượt đạt 124,5% kế hoạch năm. Khám chữa bệnh tại các phòng khám đa khoa ngoài công lập, trong tháng khám được 34.117 lượt (cộng dồn 182.270 lượt), trong đó khám bảo hiểm y tế 30.091 lượt, cộng dồn 161.065 lượt; chuyển tuyến 1.214 lượt, cộng dồn 14.562 lượt.
Công tác phòng chống dịch bệnh: Hoạt động y tế dự phòng, phòng chống dịch bệnh được duy trì và kiểm soát tốt. Trong tháng trên địa bàn tỉnh ghi nhận 02 ổ dịch sốt xuất huyết tại xã Yên Bình. Các bệnh truyền nhiễm khác phân bố rải rác, không có yếu tố dịch tễ gây dịch hay ổ dịch. Duy trì thực hiện tiêm chủng cho trẻ em dưới 01 tuổi và thực hiện nghiêm quy định, quy trình tiêm chủng, không có tai biến xảy ra.
Công tác thông tin, tuyên truyền giáo dục sức khỏe tiếp tục đẩy mạnh thông qua các hình thức truyền thông trực tiếp và gián tiếp. Trong tháng duy trì thực hiện chuyên mục “Sức khỏe cộng đồng” trên báo Lạng Sơn, chuyên mục “Sức khoẻ đời sống” trên Đài Phát thanh truyền hình tỉnh, Website Sở Y tế. Tiếp tục huy động sự tham gia, phối hợp của các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể để nâng cao hiệu quả công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, vệ sinh môi trường, phòng chống bệnh tật, ATTP, phòng chống HIV/AIDS.
7.3. Giáo dục5
Tổ chức phúc khảo bài thi Tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025; tổ chức thi chọn đội tuyển học sinh giỏi quốc gia vòng 1; tổ chức giải bơi cấp tỉnh cho học sinh phổ thông; tổ chức tập huấn cho giáo viên cốt cán cấp tỉnh của các cơ sở giáo dục và cán bộ, chiến sỹ Bộ đội biên phòng về dạy học Chương trình xóa mù chữ giai đoạn 2; tổ chức sơ kết 5 năm thực hiện Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021-2030; tổ chức ngày hội giao lưu Toán, Tiếng Việt cho học viên xóa mù chữ tỉnh Lạng Sơn năm 2025; hướng dẫn triển khai nhiệm vụ năm học 2025 - 2026 cho khối Giáo dục thường xuyên; tổ chức Hội nghị biểu dương điển hình tiên tiến giai đoạn 2020 - 2025.
7.4. Trật tự - An toàn giao thông6
Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Tổ chức thực hiện các đợt cao điểm trấn áp các loại tội phạm, phòng, chống tệ nạn xã hội. Triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với tội phạm. Tháng 8 xảy ra 21 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 08 người, bị thương 20 người.
7.5. Môi trường
Trong tháng trên địa bàn tỉnh phát hiện 09 vụ vi phạm môi trường, tăng 07 vụ so với tháng trước, tăng 50,0% so với cùng kỳ; cộng dồn 8 tháng năm 2025 là 39 vụ, giảm 73,65% so với cùng kỳ, do thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức người dân. Trong tổng số vụ vi phạm phát hiện đã xử lý.
[1] Nguồn: Sở Tài chính tỉnh Lạng Sơn.
[2] Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5.
[3] Nguồn : Sở Nội vụ tỉnh Lạng Sơn.
[4] Nguồn: Sở Y tế tỉnh Lạng Sơn.
[5] Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn.
[6] Nguồn: Công an tỉnh Lạng Sơn.
Tác giả bài viết: Thống kê tỉnh Lạng Sơn
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn