1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
1.1. Nông nghiệp
* Trồng trọt
Trong tháng 7, tranh thủ những ngày điều kiện thời tiết thuận lợi nhân dân tập trung thu hoạch diện tích lúa và các cây trồng vụ Xuân; bắt đầu vào vụ thu hoạch một số loại cây ăn quả chính, sản phẩm cây trồng lâu năm; đồng thời tại các địa phương người dân đang khẩn trương tranh thủ thời tiết xen kẽ mưa rào, mưa dông nên thuận lợi cho việc làm đất và gieo trồng vụ Mùa năm 2025.
Cây lúa: Ước thu hoạch vụ Đông Xuân thực hiên được 15.203 ha, giảm 1,67% so với cùng kỳ. Tranh thủ thời tiết thuận lợi, người dân tích cực xuống đồng gieo cấy lúa Mùa năm 2025, sử dụng các giống lúa chất lượng như bao thai, nếp các loại..., phù hợp với điều kiện thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương cho năng suất và chất lượng tốt; tính đến trung tuần tháng 7, ước gieo cấy lúa vụ Mùa đạt 14.864 ha, tăng 2,08% so với cùng kỳ.

Cây ngô: Diện tích gieo trồng cộng dồn đến tháng thực hiện ước đạt 14.934 ha, tăng 2,12% so với cùng kỳ. Do người dân mở rộng diện tích trồng phục vụ cho nhu cầu làm thức ăn chăn nuôi tăng.
Cây khoai lang: Diện tích gieo trồng cộng dồn đến tháng thực hiện ước đạt 648 ha, tăng 2,27% so với cùng kỳ.
Rau các loại: Diện tích gieo trồng cộng dồn đến tháng thực hiện ước đạt 6.246 ha, tăng 2,07% so với cùng kỳ. Hiện nay, diện tích trồng rau an toàn ngày càng mở rộng, mang lại hiệu quả kinh tế cao vì thị trường rau sạch đáp ứng được nhu cầu của người tiêu thụ, giá bán ổn định.
Đậu các loại: Diện tích gieo trồng cộng dồn đến tháng thực hiện ước được 688 ha, tăng 4,38% so với cùng kỳ.
Giá một số vật tư nông nghiệp đầu vào có xu hướng tăng giá đặc biệt là phân đạm và phân lân: Phân Đạm Ure 12.000 - 14.000 đồng/kg (tăng 200-600 đồng/kg so với tháng trước và tăng 1.000 - 1.200 đồng/kg so với cùng kỳ; Phân Supe lân giá dao động 6.720 - 10.160 đồng/kg (tăng 200 - 400 đồng/kg so với tháng trước và tăng 1.600 - 4.880 đồng/kg so với cùng kỳ; Phân NPK 6.720 - 18.000 đồng/kg, tương đương so với tháng trước và tăng 50 - 100 đồng/kg so với cùng kỳ tùy thuộc vào hàm lượng; phân kali 10.400 đồng/kg, tương đương so với tháng trước và giảm 1.600 đồng/kg so với cùng kỳ.
* Chăn nuôi
Trong tháng trên địa bàn tỉnh bệnh dịch tả lợn Châu Phi1 diễn biến phức tạp, có xu hướng bùng phát mạnh, đã xảy ra tại 1.872 hộ/832 thôn/26 xã, phường, tiêu hủy 6.256 con lợn, với trọng lượng 335.972 kg. Lũy kế đến nay dịch xảy ra tại 2.028 hộ/588 thôn/53 xã, phường, tiêu hủy 6.412 con lợn. Hiện đã có 03/53 xã, phường đã qua 21 ngày không phát sinh.
Số lượng một số sản phẩm chăn nuôi chủ yếu
thời điểm tháng 7 năm 2025 so với cùng kỳ

Tổng số lượng đàn trâu, đàn bò toàn tỉnh ước tính thời điểm tháng 7/2025 hiện có: Đàn trâu hiện có 48.115 con, giảm 14,31%, đàn bò hiện có 27.297 con, giảm 5,2% so với cùng kỳ. Do nhu cầu sử dụng sức kéo bằng gia súc giảm và môi trường chăn thả bị thu hẹp, xu hướng đàn trâu giảm mạnh so với các năm trước; một số hộ bán trâu để lấy vốn đầu tư vào trồng rừng; hiện nay các hộ dân cư chủ yếu nuôi trâu bò vỗ béo, lấy thịt.
Tổng đàn lợn số con hiện có dự ước 171.370 con, giảm 0,54% so với cùng kỳ, tổng đàn lợn giảm do ảnh hưởng của Dịch Tả lợn Châu Phi. Công tác tái đàn sẽ được thực hiện, triển khai kịp thời khi môi trường chăn nuôi ổn định để đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng thịt lợn vào dịp lễ, tết trong thời gian tới.
Đàn gia cầm ước hiện có 5.312,04 nghìn con, tăng 7,4% so với cùng kỳ, trong đó: Tổng đàn gà là 4.782,08 nghìn con, tăng 6,03% so với cùng kỳ. Do nhu cầu tiêu thụ thịt gia cầm cho hoạt động sinh hoạt, thương mại tăng.
1.2. Lâm nghiệp
Tiếp tục triển khai kế hoạch trồng rừng cho các địa phương, tích cực tuyên truyền các biện pháp phòng chống cháy rừng, chống chặt phá rừng và bảo vệ rừng trồng... Diện tích trồng rừng ước thực hiện được 937,3 ha, giảm 2,04% so với cùng kỳ. Công tác theo dõi diễn biến rừng tiếp tục được quan tâm chỉ đạo triển khai, thực hiện theo đúng quy định. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 48,5 nghìn m3.
1.3. Thủy sản
Trong những năm vừa qua diện tích nuôi trồng thủy sản tương đối ổn định, đối tượng nuôi trồng thủy sản phong phú, môi trường nuôi không bị ô nhiễm và không có dịch bệnh xảy ra. Đến nay, sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 1.063,46 tấn, tăng 1,58% so với cùng kỳ. Trung tâm Khuyến nông tỉnh thực hiện cung ứng cá giống đảm bảo chất lượng cho người dân nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh; trong tháng, thực hiện cung ứng được 187.500 con cá giống, lũy kế từ đầu năm cung ứng được 953.450 con cá giống các loại.
2. Sản xuất công nghiệp
2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 7/2025
* So với tháng trước
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7/2025 tăng nhẹ 0,05% so với tháng trước, mức tăng thấp này chủ yếu là do ngành sản xuất và phân phối điện giảm mạnh 4,08%, kéo giảm đáng kể mức tăng chung của toàn ngành. Tuy vậy, một số ngành chủ lực vẫn ghi nhận mức tăng trưởng tích cực như: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 3,29%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,43%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,23%.
Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 3,29%, trong đó: khai thác than giảm 5,19% do trong tháng Công ty than Na Dương tạm dừng khai thác để chờ hoàn tất thủ tục cấp phép mới, mặt khác do nhu cầu tiêu thụ than của Công ty cổ phần Nhiệt điện Na Dương giảm.. Khai khoáng khác tăng 9,23%, tăng ở sản phẩm đá xây dựng, cơ bản đáp ứng đủ vật liệu cho các công trình, dự án trên địa bàn tỉnh và xây dựng trong dân cư.
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dự ước tăng 1,43%, tăng chủ yếu ở nhóm ngành sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 32,22%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 8,86%; sản xuất trang phục tăng 5,16%; nhóm ngành chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ tăng 4,42%;; sản xuất máy móc thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 4,84%. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự tăng trưởng của các nhóm ngành trên là do doanh nghiệp nhận thêm nhiều đơn đặt hàng nên đẩy mạnh sản xuất để đáp ứng tiến độ giao hàng. Bên canh đó một số ngành có xu hướng giảm như: nhóm ngành sản xuất đồ uống giảm 0,77%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 7,69%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 0,89%.
Ngành sản xuất và phân phối điện có chỉ số sản xuất giảm 4,08%, trong đó: Điện sản xuất giảm 5,12% (giảm 3,31 triệu kwh) điện thương phẩm tăng 1,01% (tăng 0,82 triệu kwh), do nhu cầu điện cho sản xuất tăng và trong sinh hoạt tăng.
Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải có chỉ số sản xuất tăng 0,23%: trong đó khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 0,56%, thoát nước và xử lý nước thải tăng 0,97%, hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải, tái chế phế liệu giảm 0,15%.

* So với cùng kỳ
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7/2025 so với cùng kỳ tăng 14,11%, một trong những nguyên nhân chung tác động chỉ số sản xuất chung tăng so với cùng kỳ là do các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhận được thêm đơn hàng, nhu cầu thị trường tăng nên sản xuất tăng so với cùng kỳ.
Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 31,30%, trong đó: hoạt động khai thác than tăng 164,24%, do Công ty Nhiệt điện Na Dương tăng huy động sản lượng nhờ giá nhiên liệu đầu vào ổn định hơn; hoạt động khai khoáng khác (đá xây dựng) tăng 0,56%, do năm 2025, trên địa bàn tỉnh có nhiều dự án, công trình xây dựng lớn, sản phẩm có thị trường tiêu thụ nên các doanh nghiệp tăng năng suất sản xuất so với cùng kỳ.
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,14%, chủ yếu do tác động giảm của một số ngành: sản xuất đồ uống giảm 8,88% do nhu cầu tiêu thụ của thị trường giảm; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 32,91% do Công ty Cổ phần sản xuất da Nguyên Hồng nhận ít đơn hàng trong tháng 7 dẫn đến sản lượng sản xuất giảm; sản xuất kim loại giảm 50,91% do các doanh nghiệp gặp trở ngại trong việc nhập khẩu nguyên liệu chì, bị ảnh hưởng bởi thay đổi trong chính sách thuế nhập khẩu, dẫn đến sản lượng sụt giảm sâu; sản xuất máy móc thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 12,16%; sản xuất giường tủ bàn ghế giảm 33,87% do đầu ra gặp khó khăn, thị trường tiêu thụ sản phẩm chậm, dẫn đến các cơ sở sản xuất giảm quy mô hoạt động.
Ở chiều ngược lại, trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo một số nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng, cụ thể: ngành in,sao chép bản ghi các loại tăng 19,03%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 7,03%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 57,89%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 32,48%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 44,55%; công nghiệp chế biến chế tạo khác tăng 27,69%; do các doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng mới nên tăng sản xuất so với cùng kỳ.
Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,38%: Hoạt động khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 4,65%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 1,03%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải, tái chế phế liệu giảm 4,64% so với cùng kỳ.
* Cộng dồn 7 tháng năm 2025 so với cùng kỳ
Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp dự ước 7 tháng đầu năm 2025 tăng 5,49% so với cùng kỳ, nguyên nhân chính khiến chỉ số sản xuất tăng là do nhu cầu thị trường tăng, các doanh nghiệp nhận được thêm đơn hàng nên tăng sản xuất để đáp ứng yêu cầu, trong đó một số ngành có chỉ số sản xuất tăng, như: Khai thác than cứng và than non tăng 17,54%. Khai khoáng khác tăng 13,73%, chủ yếu là khai thác đá, do nhu cầu đá xây dựng phục vụ cho các dự án đầu tư, xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh tăng, các doanh nghiệp tăng sản lượng khai thác. Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 11,94%, do doanh nghiệp mở rộng sản xuất ngành chế biến gỗ nên tăng sản lượng so cùng kỳ. Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 25,92%, do nhu cầu xây dựng phục vụ cho các dự án công trình của tỉnh và xây dựng trong dân cư tăng, doanh nghiệp tăng sản lượng sản xuất clanhke, xi măng để đáp ứng nhu cầu, đơn đặt hàng và đảm bảo nguồn cung cho hoạt động xây dựng. Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 11,44%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 36,35%, do doanh nghiệp nhận được thêm đơn hàng nên tăng sản xuất so với cùng kỳ.

Sản lượng một số sản phẩm chủ lực của tỉnh tăng so với cùng kỳ: Sản lượng khai thác than của Công ty Than Na Dương 7 tháng đầu năm ước đạt 308,45 nghìn tấn, tăng 17,54%; do nhu cầu tiêu thụ than của Công ty Nhiệt điện Na Dương tăng so với cùng kỳ. Sản phẩm gỗ lạng (có độ dày không quá 6mm) ước đạt 74,43 nghìn m3, tăng 18,86%; ván ép từ gỗ và các vật liệu tương tự ước đạt 31,2 nghìn m3, tăng 21,9%,; sản phẩm clanhke ước đạt 500,35 nghìn tấn, tăng 23,03%, xi măng Portland đen ước đạt 818,34 nghìn tấn, tăng 29,59% so với cùng kỳ.
2.2. Chỉ số sử dụng lao động
Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 7/2025 tăng 0,57% so với tháng trước và giảm 1,38% so với cùng kỳ.
Chia theo ngành: Chỉ số sử dụng lao động ngành khai khoáng giảm 0,36%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 3,06% so với cùng kỳ. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 1,18%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,23% so với cùng kỳ.
Chia theo loại hình sở hữu: chỉ số sử dụng lao động trong doanh nghiệp nhà nước tăng 0,43%, doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 1,71%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 0,76% so với cùng kỳ.
3. Đầu tư, xây dựng
3.1. Thực hiện vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước
Dự ước vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh tháng 7 năm 2025 ước đạt 575,9 tỷ đồng, đạt 8,74% kế hoạch năm 2025, tăng 23% so với tháng trước và tăng 63,51% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 526 tỷ đồng, tăng 69,38%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 49,9 tỷ đồng, tăng 19,79% so với cùng kỳ.
Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh 7 tháng năm 2025 ước thực hiện 2.612,4 tỷ đồng, đạt 39,67% kế hoạch năm, tăng 46,23% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 2.339,7 tỷ đồng, tăng 51,42%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 272,7 tỷ đồng, tăng 13,02% so với cùng kỳ.
* Tiến độ thực hiện một số dự án trên địa bàn tỉnh
Dự án tuyến Cao tốc cửa khẩu Hữu Nghị - Chi Lăng theo hình thức BOT công trình có tổng mức đầu tư 11.024 tỷ đồng (trong đó, nguồn vốn Nhà nước do địa phương quản lý 5.000 tỷ đồng), lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 7/2025 ước thực hiện được 1.959,8 tỷ đồng, đạt 35,63% so với kế hoạch.
Dự án Đường giao thông kết nối Quốc lộ 4B đến Quốc lộ 18: Tổng mức đầu tư 338,9 tỷ đồng, lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 7/2025 ước thực hiện được 314,3 tỷ đồng, đạt 92,73% kế hoạch.
Dự án cải tạo nâng cấp Quốc lộ 4B (đoạn km3+700-km18) huyện Đình lập, công trình có tổng mức đầu tư 1.214,5 tỷ đồng, lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 7/2025 ước thực hiện được 1.047,4 tỷ đồng, đạt 86,24% so với kế hoạch.
Dự án đường Lý Thái Tổ kéo dài và khu dân cư, tái định cư thành phố Lạng Sơn2, tổng mức đầu tư 690,3 tỷ đồng, lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 7/2025 ước thực hiện được 149,8 tỷ đồng, đạt 21,70% kế hoạch.
3.2. Tình hình đăng ký doanh nghiệp
Từ đầu năm đến hết tháng 6/2025, có 395 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 37,50% so với cùng kỳ. Tổng số vốn đăng ký kinh doanh là 3.226,9 tỷ đồng, giảm 37,06% so với cùng kỳ. Số doanh nghiệp gửi thông báo tạm ngừng hoạt động là 365 doanh nghiệp, giảm 6,65%; số doanh nghiệp thông báo giải thể là 59 doanh nghiệp, giảm 28,92% so với cùng kỳ.
4. Thương mại và dịch vụ
4.1. Xuất nhập khẩu hàng hóa3
Trong tháng 7, tỉnh đã thực hiện đồng bộ các giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu; theo dõi xử lý kịp thời các vướng mắc phát sinh của các đơn vị và cộng đồng doanh nghiệp; chống gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn hàng hóa... Tiếp tục triển khai thực hiện các nhiệm vụ thuộc Đề án thí điểm xây dựng cửa khẩu thông minh tại đường chuyên dụng khi vực mốc 1119- 1120 và đường chuyên dụng vận chuyển hàng hoá khu vực mốc 1088/2-1089 thuộc cặp cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị (Việt Nam) - Hữu Nghị Quan (Trung Quốc).
Tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu qua địa bàn tỉnh Lạng Sơn từ 15/6/2025 đến hết ngày 14/7/2025 của tất cả các loại hình xuất nhập khẩu (Kinh doanh, quá cảnh, chuyển khẩu, vận chuyển động lập) đạt 7.394,3 triệu USD. Trong đó, kim ngạch hàng hoá xuất nhập khẩu mở tờ khai tại địa bàn đạt 667,2 triệu USD (Xuất nhập khẩu đạt 275,9 triệu USD, nhập khẩu đạt 391,3 triệu USD).
Lũy kế từ 01/01/2025 đến hết ngày 14/7/2025,Tổng kim ngạch XNK hàng hóa của tất cả các loại hình qua địa bàn Chi cục đạt 45.038,9 triệu USD riêng kim ngạch hàng hóa mở tờ khai tại Chi cục đạt 3.054,6 triệu USD, giảm 9% so với cùng kỳ năm 2024. Cụ thể: kim ngạch xuất khẩu đạt 848 triệu USD; kim ngạch nhập khẩu đạt 2.206,6 triệu USD.
4.2. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ
Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh tháng 7/2025 ước tính đạt 3.602,2 tỷ đồng (chưa bao gồm doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông và chuyên môn khoa học), tăng 1,46% so với tháng trước và tăng 18,4% so với cùng kỳ.

* Tổng mức bán lẻ hàng hóa
So với tháng trước: Tổng mức bán lẻ hàng hóa 7/2025 ước tính đạt 3.162,6 tỷ đồng, tăng 1,34%. Các nhóm mặt hàng tăng như: Nhóm lương thực, thực phẩm tăng 1,62%; nhóm hàng may mặc tăng 3,69%; nhóm đồ dùng dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 1,76%; nhóm xăng, dầu các loại tăng 1,58%; nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 3,04%; nhóm hàng hóa khác tăng 0,71%. Các nhóm hàng hóa trên tăng là do thời điểm du lịch nhu cầu mua sắm tăng.
So với cùng kỳ: Nhìn chung các nhóm hàng trong tổng mức bán lẻ hàng hoá đều tăng, tổng mức bán lẻ hàng hoá tăng 18,36% so với cùng kỳ cụ thể: Lương thực, thực phẩm tăng 24,31%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 14,07%; ô tô các loại (loại 9 chỗ ngồi trở xuống) tăng 23,9%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 103,74%; hàng hoá khác tăng 17,39%; dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 19,59%;…
Dự ước 7 tháng đầu năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 22.024,8 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước tăng 16,45%. Tăng chủ yếu ở các nhóm hàng hóa: lương thực, thực phẩm tăng 22,82%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 14,73%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 12,66% và xăng, dầu các loại tăng 14,78%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 76,29%, hàng hóa khác tăng 17,9% do nhu cầu mua sắm của nhân dân tăng cao;…
* Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành
Trong tháng 7 Tỉnh Lạng Sơn tập trung phát triển các loại hình du lịch thế mạnh như: du lịch văn hóa - tâm linh - lễ hội; du lịch biên giới, cửa khẩu kết hợp mua sắm; du lịch văn hóa cộng đồng; du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng... Hiện nay, trên địa bàn tỉnh các khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng đang được chú trọng đầu tư và phát triển thu hút khách du lịch từ mọi miền đến thăm quan và du lịch, nghỉ dưỡng các cơ sở hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống cũng được trang bị cơ sở vật chất đầy đủ đáp ứng được nhu cầu của người dân.
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 7 năm 2025 ước đạt 283 tỷ đồng, tăng 1,79% so với tháng trước và tăng 25,15% so với cùng kỳ. Chia ra: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 16,1 tỷ đồng, tăng 3,73% so với tháng trước và tăng 23,13% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 266,9 tỷ đồng, tăng 1,68% so với tháng trước và tăng 25,27% so với cùng kỳ.
Doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 1 tỷ đồng, tăng 3,85% so với tháng trước và tăng 23,91% so với cùng kỳ.
Cộng dồn 7 tháng ước đạt 6,7 tỷ đồng, tăng 15,66% so với cùng kỳ.
* Doanh thu dịch vụ khác
Doanh thu dịch vụ khác tháng 7 năm 2025 ước đạt 155,5 tỷ đồng, tăng 3,37% so với tháng trước và tăng 8,4% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng đầu năm doanh thu dịch vụ khác ước đạt 1.065,5 tỷ đồng, tăng 7,56% so với cùng kỳ.
4.3. Vận tải
Dự ước tổng doanh thu vận tải, kho bãi tháng 7 đạt 244,3 tỷ đồng. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 30,9 tỷ đồng, tăng 0,73% so với tháng trước và tăng 14,68% so với cùng kỳ do nhu cầu đi lại của người dân tăng cao; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 113 tỷ đồng, tăng 0,16% so với tháng trước và tăng 10,12% so với cùng kỳ; doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 99,8 tỷ đồng, tăng 0,14% so với tháng trước và tăng 18,86% so với cùng kỳ; doanh thu hoạt động bưu chính, chuyển phát ước đạt 0,63 tỷ đồng, tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 116,38% so với cùng kỳ.
Dự ước tổng doanh thu vận tải, kho bãi 7 tháng đầu năm 2025 đạt 1.656,4 tỷ đồng, tăng 12,8% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 212,7 tỷ đồng, tăng 12,13%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 767,5 tỷ đồng, tăng 10,2%; doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 673,2 tỷ đồng, tăng 16%; doanh thu hoạt động bưu chính, chuyển phát ước đạt 3 tỷ đồng, tăng 55,44% so với cùng kỳ.
5. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
5.1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
* Chỉ số giá tiêu dùng so với tháng trước: Chỉ số giá tháng 7/2025 chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tăng 0,07% Chỉ số giá tiêu dùng giảm chủ yếu ở nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,13%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,10%, cụ thể:
Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,13% so với tháng trước, chủ yếu ở chỉ số giá lương thực giảm 0,28%; nhóm thực phẩm giảm 0,14%; Do dịch bệnh bùng phát trên diện rộng khiến người nuôi lo ngại, dẫn đến tình trạng bán sớm, bán tháo lợn chưa đạt trọng lượng làm nguồn cung ra thị trường tăng giá thịt lợn giảm 0,55 %; nhóm thịt chế biến giảm 0,13 (giảm chủ yếu ở các mặt hàng thịt quay, giò, chả); nhóm dầu mỡ ăn và chất béo khác giảm 0,45% (dầu thực vật giảm 0,05%, mỡ động vật giảm 0,52%). giảm 0,48%; Nhóm bưu chính viễn thông trong tháng giảm 0,04%; Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 0,48%.
Chỉ số nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,11%. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,93%, giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%.
Nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,1%. Do giá vàng tăng, kéo theo các mặt hàng đồ trang sức tăng giá, khiến cho chỉ số giá tăng.
* Chỉ số giá tiêu dùng so với cùng kỳ: Chỉ số giá tháng 7/2025 so với cùng kỳ tăng 0,99%. Trong 11 nhóm hàng tiêu dùng có 09 nhóm tăng giá: : Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,51%, (lương thực tăng 1,80%; thực phẩm tăng 3,21%); đồ uống và thuốc lá tăng 0,38%; nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,15; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,66%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,92%; nhóm thuốc và dụng cụ y tế tăng 6,29; nhóm bưu chính viễn thông tăng 0,28%; nhóm văn hoá, giải trí, du lịch tăng 0,71%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 1,14%.
- Có 02 nhóm giảm giá so với cùng kỳ, gồm: Nhóm giao thông giảm 4,47%; và nhóm giáo dục giảm 14,68%.
* Chỉ số giá tiêu dùng 7 tháng năm 2025: So với cùng kỳ tăng 1,80%,do chỉ số giá một số nhóm hàng tăng, như: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,61 (lương thực tăng 5,38%, thực phẩm tăng 5,68%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,35%); so với cùng kỳ năm trước nhiều mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng như thịt gia súc, thuỷ sản chế biến, ... nguyên nhân chủ yếu là do nhu cầu tiêu thụ thực phẩm tăng cao. Nhóm đồ uống, thuốc lá tăng 1,73%. Nhóm may mặc, mũ nón giầy dép tăng 0,27%. Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,23%. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,96%. Thuốc và dụng cụ y tế tăng 6,35%, nhóm này có chỉ số giá tăng do giá dịch vụ y tế tăng theo Nghị quyết 28/2024/NQ -HĐND ngày 31/12/2024 của HĐND tỉnh Lạng Sơn, áp dụng từ ngày 01/01/2025. Nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,99%. Nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 3,54%.
5.2. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
Tháng 7/2025, giá vàng trong nước tiếp tục biến động tăng, giảm theo giá vàng thế giới. Đây là nhóm có chỉ số biến động nhiều nhất, trên xu hướng giá vàng trong nước tăng trong thời gian vừa qua, giá vàng trên địa bàn tăng 0,16% so với tháng trước, tăng 44,42% so với cùng kỳ năm trước, so với giá gốc 2019 tăng 175,26%. Chỉ số giá vàng bình quân 07 tháng năm 2025 tăng 41,32% so với cùng kỳ.
Trong tháng 7/2025, đồng đô la Mỹ tăng 0,41% so với tháng trước, tăng 3,36% so với cùng kỳ năm trước, so với năm gốc năm 2019 tăng 13,02%. Chỉ số giá đô la Mỹ bình quân 7 tháng đầu năm 2025 tăng 3,29% so với cùng kỳ.
6. Tài chính, ngân hàng
6.1. Tài chính4
- Về thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện tháng 7 năm 2025 là 1.252,8 tỷ đồng. Luỹ kế ước thực hiện 7 tháng đầu năm 2025 là 8.906,6 tỷ đồng, đạt 86,3% so với dự toán tỉnh giao, tăng 38,3% so với cùng kỳ. Trong đó:
Thu nội địa: 2.245,0 tỷ đồng, đạt 84,7% so với dự toán Trung ương giao, đạt 61,3% dự toán tỉnh giao, tăng 28,8% so với cùng kỳ. Do các cấp, các ngành tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2025; Kế hoạch thực hiện kịch bản tăng trưởng kinh tế năm 2025; đẩy mạnh phát triển kinh tế cửa khẩu, thương mại, dịch vụ, du lịch, công nghiệp, tái cơ cấu ngành nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới gắn với phát triển kinh tế số; tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng.
Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu: 6.331,9 tỷ đồng, đạt 98,2% so với dự toán giao, tăng 52,3% so với cùng kỳ. Các cơ quan, đơn vị tăng cường phối hợp, tích cực tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho thông quan hàng hóa, kết hợp công tác kiểm soát, chống buôn lậu, gian lận thương mại, đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn khu vực cửa khẩu biên giới, thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn.
Các khoản huy động, đóng góp: 15,5 tỷ đồng.

- Về chi ngân sách địa phương
Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện 7 tháng năm 2025 là 10.974,3 tỷ đồng, đạt 57,6% dự toán giao đầu năm, tăng 87,8% so cùng kỳ năm, trong đó: Chi trong cân đối ngân sách địa phương là 8.697,9 tỷ đồng, đạt 60,1% dự toán giao đầu năm và tăng 77,7%. Chi các chương trình mục tiêu và một số nhiệm vụ khác 2.276,4 tỷ đồng đạt 49,7% dự toán, tăng 140,2% so với cùng kỳ.
Chi ngân sách địa phương được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo đúng theo tiêu chuẩn, định mức. Chi đầu tư phát triển được điều hành có trọng điểm, tập trung giải ngân cho các công trình chuyển tiếp, các dự án đã có khối lượng hoàn thành và một số công trình cấp thiết thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục, giao thông trên địa bàn các đơn vị hành chính mới sắp xếp. Các khoản chi thường xuyên được thực hiện tiết kiệm, có trọng tâm, ưu tiên chi cho hoạt động thiết yếu, chi trả lương và các khoản có tính chất lương, tiếp tục tăng so với cùng kỳ chủ yếu do tăng chi kinh phí chi trả chế độ chính sách cho các đối tượng nghỉ việc theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP ngày 31/12/2024 của Chính phủ các chế độ, chương trình, đề án của tỉnh, đảm bảo duy trì bộ máy hành chính sau sắp xếp, không để xảy ra ách tắc trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị.
6.2. Ngân hàng5
Các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn tiếp tục tập trung thực hiện kế hoạch và nhiệm vụ kinh doanh; huy động vốn và dư nợ tín dụng tăng trưởng tốt; tập trung vốn cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Các dịch vụ ngân hàng số ngày càng phổ biến, hình thành thói quen thanh toán không dùng tiền mặt đối với người dân trên địa bàn tỉnh. Tổng nguồn vốn huy động của các TCTD trên địa bàn tỉnh ước thực hiện đến 31/7/2025 ước đạt 55.088 tỷ đồng, tăng 0,3% so với tháng trước, tăng 20,3% so với cùng kỳ năm 2024, tăng 10,1% so với cuối năm 2024. Tổng dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đến 31/7/2025 ước đạt 49.550 tỷ đồng, tăng 0,4% so với tháng trước, tăng 15,87% so với cùng kỳ, tăng 8,7% so với cuối năm 2024.
Tình hình thực hiện lãi suất: Thực hiện công bố thông tin lãi suất cho vay, phí dịch vụ trên website của ngân hàng nhằm cung cấp thêm thông tin cho khách hàng tham khảo khi tiếp cận vốn vay; công khai, minh bạch quy trình, hồ sơ, áp dụng các thủ tục vay vốn đã được đơn giản hóa, tăng cường ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đẩy nhanh tiến độ xử lý hồ sơ của khách hàng; phấn đấu giảm lãi suất, đưa ra nhiều gói tín dụng với lãi suất ưu đãi nhằm kích cầu tín dụng, nhất là cho vay tiêu dùng, cho vay nhà ở xã hội đối với người nghèo, người thu nhập thấp, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng theo đúng quy định.
+ Về lãi suất huy động: Phổ biến ở mức 0,1-0,5%/năm đối với các khoản tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 1,6-4,0%/năm đối với kỳ hạn từ 1 đến dưới 6 tháng; 2,8-5,5%/năm đối với kỳ hạn từ 6 đến dưới 12 tháng; 3,75-6,0%/năm đối với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên.
+ Về lãi suất cho vay VNĐ: Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên là 4,0%/năm. Lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh ở mức 7,25%/năm, giảm 0,45%/năm so với cuối năm 2024.
7. Một số tình hình xã hội
7.1. Giải quyết việc làm và bảo đảm an sinh xã hội6
Giải quyết việc làm: Tổng số người được tư vấn về chính sách pháp luật lao động, việc làm, định hướng nghề và giới thiệu việc làm là 3.698 lượt người, giảm 28,51% so với cùng kỳ, luỹ kế năm 2025 là 23.776 lượt người. Tổng số người lao động đăng ký tìm việc làm trực tiếp 70 lượt người giảm 62,16% so với cùng kỳ, luỹ kế năm 2025 là 508 lượt người. Lao động được giới thiệu việc làm là 67 lượt người giảm 53,47% so với cùng kỳ, luỹ kế năm 2025 là 478 lượt người. Người lao động được giới thiệu việc làm nhận được việc làm là 64 lượt người, giảm 45,76% so với cùng kỳ, luỹ kế năm 2025 là 414 người. Chương trình đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài EPS: Số người lao động (NLĐ) xuất cảnh là 17 người, luỹ kế năm 2025 là 88 người; số NLĐ tham gia học giáo dục định hướng là 07 người, luỹ kế năm 2025 là 55 người.
- Bảo đảm an sinh xã hội: Trong tháng đã thực hiện chi trả trợ cấp cho 3.413 lượt người có công và thân nhân với kinh phí 9,9 triệu đồng, trong đó hàng tháng chi trả không dùng tiền mặt cho 1.054 người có công và thân nhân với kinh phí 3.319 triệu đồng, đạt tỷ lệ 31%. Luỹ kế từ đầu năm 2025 chi trả trợ cấp cho 24.182 lượt người có công và thân nhân với kinh phí 72.915 triệu đồng.
7.2. Hoạt động y tế và sức khỏe cộng đồng7
Các đơn vị khám chữa bệnh tiếp tục thực hiện nghiêm túc quy chế chuyên môn; đảm bảo thuốc, vật tư y tế, hóa chất, sinh phẩm phục vụ công tác khám chữa bệnh và phòng chống dịch bệnh. Duy trì thực hiện Đề án 1816, khám chữa bệnh từ xa, đảm bảo y tế cho các sự kiện lớn của tỉnh.
Công tác khám, chữa bệnh: Khám chữa bệnh công lập, trong tháng 7 khám được 100.947 lượt, cộng dồn là 732.091 lượt, đạt 76,2% kế hoạch năm; điều trị nội trú bệnh viện và lưu trú tại trạm y tế xã đạt 12.574 lượt, cộng dồn là 87.024 lượt, đạt 53,6% kế hoạch năm; điều trị ngoại trú 10.402 lượt, cộng dồn 76.856 lượt, đạt 115,1% kế hoạch năm. Khám chữa bệnh tại các phòng khám đa khoa ngoài công lập, trong tháng khám được 35.042 lượt, cộng dồn 148.153 lượt, trong đó khám bảo hiểm y tế 31.013 lượt, cộng dồn 130.974 lượt; chuyển tuyến 1.119 lượt, cộng dồn 5.605 lượt; khám sức khỏe 2.215 lượt, cộng dồn 11.700 lượt.
Công tác phòng chống dịch bệnh: Hoạt động y tế dự phòng, phòng chống dịch bệnh được duy trì và kiểm soát; trong tháng, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 02 ổ dịch sốt xuất huyết tại huyện Bắc Sơn và huyện Hữu Lũng; các bệnh truyền nhiễm khác phân bố rải rác, không có yếu tố dịch tễ gây dịch hay ổ dịch. Duy trì thực hiện tiêm chủng cho trẻ em dưới 1 tuổi trên 11 huyện, thành phố; đảm bảo thực hiện nghiêm quy định, quy trình tiêm chủng; không có tai biến xảy ra trong tiêm chủng.
Công tác thông tin, tuyên truyền giáo dục sức khỏe tiếp tục đẩy mạnh thông qua các hình thức truyền thông trực tiếp và gián tiếp. Trong tháng duy trì thực hiện chuyên mục “Sức khỏe cộng đồng” trên báo Lạng Sơn, chuyên mục “Sức khoẻ đời sống” trên Đài Phát thanh truyền hình tỉnh, Website Sở Y tế. Tiếp tục huy động sự tham gia, phối hợp của các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, các
đoàn thể để nâng cao hiệu quả công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, vệ sinh môi trường, phòng chống bệnh tật, ATTP, phòng chống HIV/AIDS.
7.3. Giáo dục8
Hoàn thành việc tổ chức chấm thi và chấm phúc khảo bài thi Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 trung học phổ thông (THPT) năm 2025-2026; thành lập Hội đồng xét công nhận tốt nghiệp THPT và hoàn thành các quy trình xét và ban hành thông báo kết quả tốt nghiệp cho thí sinh; tổ chức kiểm tra và ban hành Quyết định công nhận, cấp Bằng công nhận đạt chuẩn đạt chuẩn quốc gia Mức độ 1 cho 10 trường trên địa bàn tỉnh; tổ chức lớp tập huấn trực tuyến về hướng dẫn tổ chức các hoạt động giáo dục cảm xúc xã hội cho trẻ mầm non trong thực hiện Chương trình giáo dục mầm non; tổ chức Hội nghị tập huấn cho cán bộ, công chức cấp xã khi thực hiện chính quyền địa phương hai cấp về lĩnh vực giáo dục. Tiếp tục triển khai kịp thời các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
7.4. Trật tự - An toàn giao thông9
Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Tổ chức thực hiện các đợt cao điểm trấn áp các loại tội phạm, phòng, chống tệ nạn xã hội. Triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với tội phạm. Tháng 7 xảy ra 19 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 04 người, bị thương 16 người.
7.5. Môi trường
Trong tháng trên địa bàn tỉnh phát hiện 02 vụ vi phạm môi trường, tăng 01 vụ so với tháng trước, giảm 80,0% so với cùng kỳ, cộng dồn 7 tháng năm 2025 là 30 vụ, giảm 78,87% so với cùng kỳ, do thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức người dân. Trong tổng số vụ vi phạm phát hiện đã xử lý lũy kế từ đầu năm đến tháng báo cáo là 18 vụ; số tiền xử phạt lũy kế từ đầu năm đến tháng báo cáo là 196 triệu đồng.
7.6. Thiệt hại do thiên tai
Trong tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 đợt mưa lớn do ảnh hưởng của cơn bão Wipha đã gây thiệt hại về người, nhà ở, hoa màu của người dân: Làm chết 03 người, thiệt hại về nhà ở ước tính 177 ngôi nhà bị ảnh hưởng, diện tích lúa bị thiệt hại 5,93 ha, diện tích hoa màu 1,1 ha. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 962,8 triệu đồng.
[1] Nguồn: Sở nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lạng Sơn.
[2] Tên dự án công trình không thay đổi (theo Quyết Định 1373/QĐ-UBND ngày 27 tháng 6 năm 2025 về nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền của cấp quyết định đầu tư các nhiệm vụ, dự án đầu tư công đã được cấp huyện quyết định đầu tư và điều chỉnh chủ đầu tư sau sắp xếp chính quyền địa phương 02 cấp).
[3] Nguồn: Chi cục Hải quan Khu vực VI.
[4] Nguồn: Sở Tài chính tỉnh Lạng Sơn.
[5] Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5.
[6] Nguồn : Sở Nội vụ tỉnh Lạng Sơn.
[7] Nguồn: Sở Y tế tỉnh Lạng Sơn.
[8] Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn.
[9] Nguồn: Công an tỉnh Lạng Sơn.
Tác giả bài viết: Thống kê tỉnh Lạng Sơn
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn