Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn tháng 5 năm 2021

Thứ ba - 25/05/2021 06:29
Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 5/2021: Ước tính doanh thu đạt 123,7 tỷ đồng, giảm 11,38% so với tháng trước và tăng 7,99% so với cùng kỳ năm trước (Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 7,4 tỷ đồng, giảm 11,69% so với tháng trước; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 116,2 tỷ đồng, giảm 11,36% so với tháng trước). Do ảnh hưởng dịch Covid-19 các cơ sở hoạt động dịch vụ phục vụ nhu cầu ăn uống chỉ được bán hàng phục vụ cho khách hàng mang về, thực hiện nghiêm việc không ăn uống tập trung tại chỗ, do vậy phần nào đã ảnh hưởng đến doanh thu trong tháng 5/2021.
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Vụ Đông - Xuân năm 2021 diễn ra trong điều kiện tương đối thuận lợi, vật tư, giống cây trồng được cung ứng đầy đủ, giá cả ổn định đáp ứng được nhu cầu của người dân, công tác thủy lợi thường xuyên được quan tâm. Đến trung tuần tháng 5/2021, trên địa bàn toàn tỉnh đã kết thúc diện tích gieo trồng vụ Đông - Xuân.
Đề án “Chương trình mỗi xã một sản phẩm tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2019-2020, định hướng đến năm 2030” tiếp tục được triển khai, sản phẩm dựa trên thế mạnh, lợi thế về nguyên liệu địa phương. Công tác chuẩn bị giống cây lâm nghiệp, tiến độ trồng rừng mới thực hiện tốt, đảm bảo thời vụ và tăng so cùng kỳ; thực hiện tốt công tác phòng chống cháy rừng nên trong tháng không có cháy rừng xảy ra; đàn vật nuôi phát triển ổn định, công tác phòng chống dịch bệnh trên đàn gia súc được triển khai đồng bộ, thường xuyên không có dịch bệnh lớn xảy ra.
1.1. Nông nghiệp
1.1.1. Tình hình sản xuất các loại cây trồng hằng năm
Tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm vụ Đông - Xuân năm 2021 ước thực hiện được 47.656,87 ha, tăng 0,65% so với cùng kỳ. Tiến độ sản xuất một số cây trồng chính như sau:
- Cây lúa: Diện tích gieo cấy trong tháng ước đạt 2.055,25 ha, giảm 1,19%; cộng dồn từ đầu vụ ước thực hiện được 15.425,5 ha, giảm 1,05% so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng cây lúa giảm do thời tiết đầu vụ mưa ít nên người dân không chủ động được nguồn nước. Hiện nay, cây lúa đang trong giai đoạn đẻ nhánh sinh trưởng phát triển tốt, mặc dù có phát sinh sâu đục thân 02 chấm, tuy nhiên mức độ gây hại ít không ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh trưởng chung của cây lúa. Vụ Xuân năm 2021, người dân sử dụng giống lúa chất lượng, cho năng suất cao phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng trên địa bàn như giống lúa CR203, Kim cương 90, Khang dân.
- Cây ngô: Diện tích gieo trồng từ đầu vụ Đông - Xuân ước thực hiện 14.198,36 ha, so với cùng kỳ tăng 0,1%. Diện tích cây ngô tăng do dịch tả lợn Châu Phi đã cơ bản được khống chế nên người dân đã tái đàn trở lại, nên nhu cầu sử dụng ngô làm thức ăn cho chăn nuôi tăng, nên người dân đã mở rộng diện tích gieo trồng.
-  Rau các loại: Diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ Đông -  Xuân ư­­ớc thực hiện 6.050,86 ha, tăng 0,51% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích thu hoạch trong tháng ước đạt 875,14 ha, tăng 0,7% so với cùng kỳ, tương đương với sản lượng thu hoạch ước đạt 11.308,56 tấn, tăng 0,7% so với cùng kỳ.
1.1.2. Chăn nuôi
- Tổng đàn trâu: Đàn trâu toàn tỉnh vẫn giảm dần do hiệu quả kinh tế không cao và môi trường chăn thả bị thu hẹp, một số hộ xuất bán trâu để lấy vốn đầu tư vào trồng rừng, cụ thể: Ước tính số đầu con trâu có 78.966 con, giảm 2,64%; số con trâu xuất chuồng đạt 2.490 con, tăng 3,75% so với cùng kỳ; sản lượng xuất chuồng đạt 498 tấn.
- Tổng đàn bò: Đàn bò của tỉnh tăng so với cùng kỳ do có thị trường tiêu thụ tốt, giá bán thịt bò hơi ở mức cao, người chăn nuôi có lãi ổn định. Ước tính số đầu con bò có 33.485 con, tăng 0,07% so với cùng kỳ năm trước; số con bò xuất chuồng đạt 681 con tương đương với sản lượng thịt hơi xuất chuồng 133,48 tấn, tăng 3,97% so với cùng kỳ năm trước do thực hiện mô hình chăn nuôi bò năng suất cao theo hướng nhốt chuồng, vỗ béo.
- Tổng đàn lợn: Số con hiện có ước 114.898 con, tăng 11,99%. Tình hình bệnh dịch tả lợn châu Phi trên địa bàn tỉnh cơ bản được khống chế, các cơ sở chăn nuôi đã chủ động tái đàn và vẫn duy trì thường xuyên công tác tăng đàn và tái đàn, nhiều mô hình chăn nuôi an toàn sinh học được duy trì và phát triển. Số con xuất chuồng ước 25.680 con, tương đương sản lượng hơi xuất chuồng đạt 2.195,64 tấn, tăng 11,15% so với cùng kỳ năm trước.
- Tổng đàn gia cầm: Tổng đàn gia cầm phát triển tốt, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Ước tổng đàn gia cầm hiện có 5.182,38  nghìn con, tăng 10,73% so với cùng kỳ. Trong chăn nuôi các loại gia cầm trên địa bàn toàn tỉnh có xu hướng phát triển đàn gà, vịt, giảm chăn nuôi đàn ngan, ngỗng do điều kiện chăn thả và nhu cầu của thị trường. Ước đàn gà là 4681,24 nghìn con, tăng 14,07% so với cùng kỳ. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng của gia cầm đạt 956,57 tấn (Trong đó sản lượng gà hơi đạt 766,85tấn). Sản lượng trứng gia cầm đạt 4.985,25 nghìn quả (Trong đó số lượng trứng gà đạt 4.252 nghìn quả), sản lượng trứng gà tăng cao do số gà mái đẻ công nghiệp tăng, và người chăn nuôi sử dụng giống gà siêu trứng cho năng suất cao.
1.2. Lâm nghiệp
1.2.1. Công tác trồng rừng
Tổng diện tích trồng rừng toàn tỉnh trong tháng ước thực hiện được 1.769 ha, lũy kế 4.602,3 ha. Trong đó: Trồng cây phân tán 1.308,52 nghìn cây, tăng 3,59% so với cùng kỳ. Giống cây trồng lâm nghiệp sản xuất được khoảng 305 triệu cây các loại, trong đó có khoảng 158 triệu cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn. Công tác quản lý, bảo vệ rừng, chăm sóc rừng trồng, khoanh nuôi tái sinh rừng tiếp tục được các chủ rừng thực hiện thường xuyên theo quy chế quản lý của từng loại rừng.
1.2.2. Công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng
Lực lượng Kiểm lâm các cấp tăng cường bám địa bàn để chủ động tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương cơ sở thường xuyên duy trì chế độ trực, gác lửa rừng tại các xã trọng điểm, theo dõi cảnh báo, dự báo nguy cơ cháy rừng trên địa bàn tỉnh; đôn đốc cấp ủy, chính quyền địa phương và các chủ rừng thực hiện nghiêm túc phương án quản lý bảo vệ rừng và Phòng chống cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ. Trong kỳ không có cháy rừng xảy ra, do làm tốt công tác tuyên truyền về phòng chống cháy rừng, ý thức của người dân được nâng cao; mặt khác thời tiết trong tháng có mưa nhiều nên nguy cơ cháy rừng thấp.
1.2.3. Khai thác và thu nhặt lâm sản
- Khai thác gỗ tròn các loại trong tháng ước đạt 14.662,23m3, tăng 2,25% so với cùng kỳ; cộng dồn từ đầu năm ước đạt 60.618,16 m3, tăng 2,06% so cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác tăng do hiệu quả kinh tế từ trồng rừng sản xuất mang lại, diện tích rừng sản xuất ngày càng lớn; gỗ đến tuổi khai thác và nhu cầu chế biến gỗ của các cơ sở trên địa bàn tăng
 - Củi các loại trong tháng ước 130.254,63 ste, giảm 0,56 % so cùng kỳ. Cộng dồn từ đầu năm 544.609,46 ste, giảm 0,67% so cùng kỳ năm trước. Khai thác củi tập trung chủ yếu ở khu vực cá thể, được dùng cho mục đích đun nấu và một phần được tiêu thụ trên thị trường. Khai thác củi giảm chủ yếu do nhu cầu sử dụng tiêu dùng củi trong dân giảm.
1.3. Thủy sản
Trong tháng thực hiện thả 640 nghìn con cá bột (lũy kế 642.222 nghìn con). Cung ứng cá giống đảm bảo về chất lượng và số lượng phục vụ cho nhu cầu của nhân dân trên địa bàn tỉnh được 199.900 con cá giống các loại (mè, trôi, trắm, chép, chim).
2. Sản xuất công nghiệp
2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5/2021 so với tháng trước
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5 tăng 4,06%, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,44%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,60%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 3,72%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 2,35%.
Công nghiệp khai khoáng: Khai thác than giảm 8,02% theo kế hoạch sản xuất của Công ty Than Na Dương, nhu cầu nguyên liệu để sản xuất nhiệt điện từ Công ty cổ phần nhiệt điện Na Dương giảm; khai khoáng khác (sản phẩm đá xây dựng khác) tăng 9,78%.  Đô thị hóa và công nghiệp hóa là lực đẩy mạnh mẽ cho ngành vật liệu đá xây dựng; việc triển khai các dự án giao thông, cơ sở hạ tầng tạo cơ hội để các doanh nghiệp khai thác đá tăng trưởng mạnh doanh thu và lợi nhuận.
Công  nghiệp chế biến chế tạo: Chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ dự ước tăng 10,55% do các doanh nghiệp sản xuất chế biến gỗ lạng, ván ép chủ động tìm kiếm thị trường, phát triển năng lực, xây dựng thương hiệu sản phẩm, ký kết hợp đồng xuất khẩu sản phẩm; sản xuất hóa chất và sản phẩm từ hóa chất tăng 25,95%, tăng chủ yếu sản phẩm Colophan do Công ty TNHH Long Tân đảm bảo nguồn nguyên liệu cho sản xuất thường xuyên (Sang tháng 5, các hộ dân khai thác nhựa thông nhiều hơn tháng trước); sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 80,06% do Công ty TNHH một thành viên Dũng Nam sản xuất thiết bị ăng ten và phụ kiện nhận được nhiều đơn hàng hơn tháng trước; một số sản phẩm sản xuất có nguyên liệu theo mùa vụ có chỉ số sản xuất tăng khi vào vụ như sản phẩmchè (trà nguyên chất) tăng 75,76%, sản phẩm thuốc lá tăng 8,62%. Bên cạnh những ngành có chỉ số tăng, một số ngành có chỉ số giảm như sản xuất sản phẩm từ cao su giảm 16,45%, sản xuất kim loại giảm 13,42%, sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 13,21%; đối với sản phẩm da và các sản phẩm có liên quan giảm sâu (-88,04%) do Công ty cổ phần Thương mại sản xuất da Nguyên Hồng trong tháng cho công nhân tạm nghỉ để phòng chống dịch, duy trì ít lao động để vận hành và bảo dưỡng máy móc, thiết bị.
Ngành sản xuất và phân phối điện có chỉ số tăng 3,72%. Sang tháng 5, có nhiều ngày nắng nóng, nhu cầu sử dụng điện của khách hàng tăng cao, lượng điện tiêu thụ trên địa bàn tỉnh cũng tăng hơn. Ngành điện cũng có những biện pháp cung cấp điện đảm bảo an toàn, ổn định lưới điện, cấp điện ổn định trong mùa nắng nóng.Trong ngành sản xuất và phân phối điện: Sản lượng điện sản xuất tăng 3,97%; điện thương phẩm tăng 1,01% so với tháng trước.
Ngành xử lý và cung cấp nước vẫn cung cấp đủ nhu cầu nước sinh hoạt của dân cư so với tháng trước tăng 3,07%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 1,08%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 1,81% so với tháng trước.
2.2. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5/2021 so với cùng kỳ
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5 năm 2021 tăng 1,60%. Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 6,93%, giảm chủ yếu ở sản phẩm than; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,8%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 2,34%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 7,93% so với cùng kỳ.
Ngành công nghiệp khai khoáng: Hoạt động khai thác than giảm 13,86% so với cùng kỳ do sản phẩm than của Công ty Than Na Dương trên 90% cung cấp cho Nhà máy Nhiệt điện Na Dương; theo lệnh điều độ của Tổng Công ty nên Nhà máy Nhiệt điện Na Dương giảm sản lượng sản xuất, nhu cầu sử dụng nguyên liệu than giảm; hoạt động khai thác đá tăng 0,43% so với cùng kỳ, nhiều công trình xây dựng đi vào sửa chữa, xây dựng mới nên hoạt động khai thác đá có sự tăng trưởng để đảm bảo nhu cầu và tiến độ xây dựng.
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Với chỉ số tăng 2,80% so với cùng kỳ, trong đó một số sản phẩm có chỉ số sản xuất tăng cao như sản phẩm bật lửa ga tăng 84,63% do Công ty TNHH Long Hoa cùng kỳ năm trước giảm sản lượng sản xuất vì sản phẩm tiêu thụ chậm; sản phẩm cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép tăng 82,93% do nhu cầu tăng từ các hộ sản xuất kinh doanh và các hộ gia đình; dịch vụ sản xuất các hóa chất vô cơ cơ bản khác (muối công nghiệp) tăng 38,6% do Công ty cổ phần Kim Đạt ký kết nhiều đơn hàng…Một số sản phẩm chủ lực của tỉnh như xi măng Portland đen tăng 7,96%; sản phẩm chì thỏi tăng 26,19%; bột đá mài tăng 9,09%; gỗ dán tăng 37,51%.
Những ngành có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 64,39 % (Công ty cổ phần thương mại sản xuất da Nguyên Hồng cho lao động tạm nghỉ để phòng chống dịch); sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 41,48%, giảm ở sản phẩm colophan của Công ty TNHH Long Tân (-53,76%), theo báo cáo của doanh nghiệp do sản phẩm không xuất khẩu được vì vậy, doanh nghiệp giảm sản lượng; sản phẩm chè nguyên chất giảm 20,55% do việc xuất khẩu sản phẩm chè không thuận lợi, ảnh hưởng đến thu nhập của người trồng chè, một số hộ đã chuyển sang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác làm giảm nguồn nguyên liệu cho Công ty cổ phần chè Thái Bình.
Riêng ngành điện, sự tăng giảm sản lượng phụ thuộc vào lệnh điều độ sản xuất của Tổng Công ty Điện lực miền Bắc. Sản lượng điện sản xuất tháng 5/2021 tăng 2,23%; điện thương phẩm tăng 3,16% so với cùng kỳ, đảm bảo cung cấp đủ điện cho sản xuất và tiêu dùng của nhân dân.
Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải ước tăng 7,93%. Cụ thể: Khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 6,33%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 10,04%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 9,23%.
2.3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng năm 2021 so với cùng kỳ
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 5,09%. Trong đó: Ngành khai khoáng tăng 3,34%; ngành chế biến, chế tạo tăng 12,12%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 2,13%, ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,01% so với cùng kỳ.
Đối với ngành công nghiệp khai khoáng: Khai thác than giảm 1,99%; khai thác đá các loại tăng 9,69% do nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất vật liệu xây dựng tăng.
Đối với ngành công nghiệp chế tạo, chế biến: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực quan trọng cho tăng trưởng của toàn ngành. Từ đầu năm đến cuối tháng 4/2021 khi tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt, doanh nghiệp nâng cao năng suất tăng sản lượng, chủ động mở rộng thị trường, đầu tư đổi mới thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh nên đơn hàng sản xuất nhiều, ổn định. Từ cuối tháng 4 đến nay dịch bệnh Covid-19 bùng phát trở lại và đặc biệt các tỉnh lân cận (Bắc Giang, Bắc Ninh) dịch bùng phát mạnh trong các khu công nghiệp, trước tình hình phức tạp của dịch bệnh, nhiều doanh nghiệp của tỉnh đã chủ động xây dựng các phương án để chủ động ứng phó (nếu dịch bệnh xảy ra). Để thúc đẩy khâu tiêu thụ sản phẩm, nhiều doanh nghiệp áp dụng phương pháp quảng bá sản phẩm, tiếp thị đến khách hàng thông qua trực tuyến như sản phẩm gỗ hiện nay thông qua triển lãm trực tuyến giúp doanh nghiệp tiếp cận được nhiều khách hàng, đặc biệt là khách hàng quốc tế, nâng cao đơn hàng xuất khẩu (Chỉ số sản xuất ngành chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ tăng 40,19%). Chỉ số sản xuất ngành da và các sản phẩm có liên quan tăng 68,6%; ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm từ hóa chất tăng 8,02% do cùng kỳ năm trước Công ty cổ phần Thương mại sản xuất da Nguyên Hồng, Công ty TNHH Long Tân không ký được đơn hàng sang Trung Quốc, sản lượng sản xuất cùng kỳ đạt thấp. Một số ngành sản xuất có chỉ số tăng do nhập được linh kiện để sản xuất như: Ngành sản xuất máy bơm, sản xuất môtô, xe máy của Công ty TNHH Bảo Long, Công ty TNHH xe điện DK Việt Nhật; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 52,69%, tăng chủ yếu ở ngành sản xuất bật lửa ga (+67,42%) do sản phẩm bật lửa giá cả hợp lý, chất lượng tốt, đáp ứng được nhu cầu thị trường, Công ty TNHH Long Hoa ký kết được đơn hàng trong nước nên đẩy mạnh sản xuất.
Riêng sản phẩm giấy và các sản phẩm từ giấy giảm 8,48% so cùng kỳ do không có đơn hàng, sản phẩm tiêu thụ chậm.
Trong sản xuất và phân phối điện, sản lượng điện sản xuất giảm 3,5%; điện thương phẩm tăng 8,1% so với cùng kỳ.
Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải: nước uống được tăng 6,63%; rác thải không độc hại đã thu gom không thể tái chế tăng 5,37%.
2.4. Chỉ số sử dụng lao động
Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 5/2021 giảm 3,77% so với tháng trước và giảm 3,31% so với cùng kỳ. Trong đó, so với cùng kỳ ngành khai khoáng chỉ số sử dụng lao động giảm 6,88%, cho thấy ngành công nghiệp khai khoáng việc ứng dụng khoa học công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại trong sản xuất ngày càng cao; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 3,20% do một số doanh nghiệp cho lao động tạm nghỉ để phòng chống dịch; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 2,4%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,71%. Bình quân 5 tháng đầu năm 2021, chỉ số sử dụng lao động tăng 0,32% so với cùng kỳ năm trước.
3. Đầu tư, xây dựng
Trong tháng 5/2021 hoạt động đầu tư tập trung chủ yếu triển khai thực hiện các dự án chuyển tiếp, dự án trọng điểm. Các dự án dự kiến khởi công mới năm 2021, gồm: Dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 4B (đoạn Km3+700 đến Km 18); dự án Nhà ở xã hội số 2, thành phố Lạng Sơn. Thực hiện tích nước dự án Hồ chứa nước Bản Lải. Các dự án khác đang thực hiện các thủ tục đầu tư, đấu thầu các dự án, các chủ đầu tư đã cơ bản hoàn thiện công tác lập, trình thẩm định phê duyệt chủ trương đầu tư các dự án được giao chuẩn bị đầu tư trong năm. Hoàn thành xây dựng dự kiến phương án phân bổ vốn đầu tư công giai đoạn 2021-2025 (vốn Trung ương), báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 419/TTg-KTTH ngày 02/4/2021. Tiếp tục triển khai xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 - 2025.
Dự ước vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh tháng 5/2021 ước thực hiện 286.605 triệu đồng, đạt 9,84% so với kế hoạch năm 2021, giảm 6,87% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 185.583 triệu đồng, giảm 2,99%  so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 101.022 triệu đồng, giảm 13,25% so với cùng kỳ.
Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý  trên địa bàn tỉnh 5 tháng năm 2021, ước thực hiện 921.883 triệu đồng, tăng 3,07% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 568.945 triệu đồng, tăng 5,73% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 352.938 triệu đồng, giảm 0,96% so với cùng kỳ.
* Tiến độ thực hiện một số dự án trên địa bàn tỉnh:
Dự án cải tạo nâng cấp Quốc lộ 4B (đoạn km3+700-km18): Công trình có tổng mức đầu tư 988,2 tỷ đồng. Lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 5/2021 ước thực hiện được 153 tỷ đồng, đạt 15,48% kế hoạch.
Dự án đường giao thông Khu phi thuế quan, huyện Văn Lãng: Công trình có tổng mức đầu tư 255,1 đồng. Lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 5/2021 ước thực hiện được 186,2 tỷ đồng, đạt 72,96% kế hoạch.
Dự án Hạ tầng cơ bản phát triển các tỉnh Đông Bắc: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn - tiểu dự án tỉnh Lạng Sơn (4 hợp phần): Công trình có tổng mức đầu tư 1.37,6 tỷ đồng. Lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 5/2021 ước thực hiện được 232 tỷ đồng, đạt 16,84% kế hoạch.
4. Tài chính, ngân hàng       
4.1. Tài chính[1]
- Về thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện tháng 5 năm 2021 là  888,2 tỷ đồng, tăng 57% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó: thu nội địa là 181 tỷ đồng bằng 97,3% so với cùng kỳ năm 2020, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 705,2 triệu đồng tăng 85,8% so với cùng kỳ năm 2020.
Lũy kế tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện 5 tháng năm 2021 là 4.352,1 triệu đồng, đạt 74,6% so với dự toán tỉnh giao, tăng 78,6% so với cùng kỳ năm 2020.
- Về chi ngân sách địa phương
Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện tháng 5 năm 2021 là 888,1 tỷ đồng, lũy kế tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện 5 tháng đầu năm 2021 là 3.701,6 tỷ đồng, đạt 34,5% dự toán giao đầu năm, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó:
- Chi trong cân đối ngân sách địa phương là 3.163,3 tỷ đồng, đạt 35,6% dự toán giao đầu năm và tăng 1% so cùng kỳ năm 2020: Chi đầu tư phát triển là 521,6 tỷ đồng, đạt 35,6% dự toán, bằng 103,6% so với cùng kỳ năm 2020. Chi thường xuyên: 2.615 tỷ đồng, đạt 36,2% dự toán, bằng 102,1% so với cùng kỳ năm 2020. Chi dự phòng ngân sách: 25 tỷ đồng, đạt 14,1% dự toán giao, bằng 37,2% so với cùng kỳ năm 2020.
- Chi các chương trình mục tiêu và một số nhiệm vụ khác là 538,2 t đồng
đạt 28,9% dự toán, bằng 96,2% so với cùng kỳ năm 2020.
4.2. Ngân hàng[2]
Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Lạng Sơn tiếp tục giám sát, chỉ đạo sát sao hoạt động của các chi nhánh tổ chức tín dụng trên địa bàn theo đúng mục tiêu, các giải pháp về điều hành chính sách tiền tệ năm 2021 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cơ chế chính sách có liên quan đến hoạt động ngân hàng theo chủ trương của Chính phủ và định hướng của Ngân hàng Nhà nước.
Tổng huy động đến 31/5/2021 ước đạt 31.792 tỷ đồng, tăng 1,85% so với 31/12/2020. Dư nợ tín dụng của các ngân hàng trên địa bàn đến 31/5/2021 ước đạt 33.801 tỷ đồng, tăng 0,53% so với 31/12/2020.
5. Thương mại và dịch vụ
Mặc dù bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 nhưng mọi hoạt động thuộc lĩnh vực thương mại trên địa bàn tỉnh vẫn diễn ra bình thường do không phải thực hiện giãn cách xã hội như năm 2020. Ngay từ những tháng đầu năm, tại các cửa khẩu hoạt động xuất, nhập khẩu diễn ra khá sôi động, hàng hóa xuất, nhập khẩu chủ yếu là các mặt hàng như: Thanh long, dưa hấu, mít…Thực hiện mục tiêu kép: vừa phòng, chống dịch vừa phát triển kinh tế - xã hội, các cơ sở kinh doanh lĩnh vực thương mại hoạt động tương đối ổn định. Bên cạnh đó, các cơ sở hoạt động dịch vụ thực hiện theo thông báo của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn tại công văn số 226/TB-UBND ngày 6/5/2021 về việc tăng cường biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, tạm dừng một số dịch vụ không thiết yếu như: Các cơ sở hoạt động dịch vụ ăn uống, quán bar, karaoke, masage, xông hơi, game, phòng tập gym…Tuỳ theo diễn biến tình hình dịch bệnh sẽ có thông báo hoạt động trở lại vào thời gian thích hợp đối với các dịch vụ trên.
5.1. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 5/2021 dự ước đạt 1.575,5 tỷ đồng, so với tháng trước giảm 2,60% và so với cùng kỳ tăng 16,78%.
Dự ước tổng mức bán lẻ 5 tháng đầu năm 2021 đạt 8.171,6 tỷ đồng tăng 17,97% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các nhóm ngành hàng hóa trong 5 tháng đều tăng so với cùng kỳ. Cụ thể, có 8/12 nhóm ngành hàng hoá có tốc độ tăng so với cùng kỳ trên 10%: Nhóm lương thực, thực phẩm tăng 22,21%; nhóm may mặc tăng 11,77%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng tăng 17,83%; nhóm nhiên liệu khác tăng 16,19%; nhóm hàng hoá khác tăng 26,88%; nhóm dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 18,80%; nhóm xăng, dầu các loại tăng 11,07%; nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 10,67%. Các nhóm ngành hàng hóa còn lại có tốc độ tăng từ 5-9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm đồ dùng trang thiết bị gia đình tăng 9,53%; nhóm vật phẩm văn hoá giáo dục tăng 7,40%; nhóm ô tô con tăng 7,85%; nhóm phương tiện đi lại tăng 5,66%.
5.2. Dịch vụ:
5.2.1. Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành:
Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 5/2021: Ước tính doanh thu đạt 123,7 tỷ đồng, giảm 11,38% so với tháng trước và tăng 7,99% so với cùng kỳ năm trước (Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 7,4 tỷ đồng, giảm 11,69% so với tháng trước; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 116,2 tỷ đồng, giảm 11,36% so với tháng trước). Do ảnh hưởng dịch Covid-19 các cơ sở hoạt động dịch vụ phục vụ nhu cầu ăn uống chỉ được bán hàng phục vụ cho khách hàng mang về, thực hiện nghiêm việc không ăn uống tập trung tại chỗ, do vậy phần nào đã ảnh hưởng đến doanh thu trong tháng 5/2021.
Doanh thu du lịch lữ hành tháng 5/2021 dự ước đạt 942 triệu đồng, giảm 19,05% so với tháng trước và tăng 19,07% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, hoạt động du lịch nước ngoài tạm thời chưa hoạt động trở lại, các tour du lịch trong nước hạn chế vì do ảnh hưởng của dịch Covid -19 vẫn đang diễn biến phức tạp ở nhiều địa phương trên cả nước.
Nhìn chung hiện nay các khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đang được chú trọng đầu tư và phát triển thu hút khách du lịch từ mọi miền đến thăm quan và du lịch, nghỉ dưỡng các cơ sở hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống cũng được trang bị cơ sở vật chất đầy đủ đáp ứng được nhu cầu của người dân. Vào kỳ nghỉ lễ 30/4 và 1/5 các điểm du lịch của tỉnh đã thu hút du khách địa phương và thập phương đến tham quan, du lịch trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn với số lượng khách đến tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước.
5.2.2. Doanh thu dịch vụ khác tháng 5/2021:
 Doanh thu hoạt động dịch vụ tháng 5/2021 ước đạt 38 tỷ đồng, giảm 7,41% so với tháng trước và tăng 23,19%  so cùng kỳ. Do ảnh hưởng dịch một số ngành dịch vụ đã tạm ngừng hoạt động từ ngày 12/5/2021 để đảm bảo công tác phòng, chống dịch bệnh.
Dự ước 5 tháng đầu năm 2021 doanh thu dịch vụ đạt 199,6 tỷ đồng cụ thể: Nhóm kinh doanh bất động sản tăng 21,81%; nhóm hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 22,47%; nhóm hoạt động y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 21,40%; nhóm nghệ thuật vui chơi giải trí tăng 6,5%; nhóm dịch vụ khác tăng 15,43%. Hầu hết các nhóm dịch vụ trên so cùng kỳ đều tăng ở mức khá cao, đáp ứng được nhu cầu dịch vụ của nhân dân.
5.3. Vận tải
Trong đợt bùng phát dịch lần này, mức độ lay lan nhanh, rộng, diễn ra trên nhiều tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Tỉnh Lạng Sơn cũng đã có các ca lây nhiễm và nghi lây nhiễm trên nhiều huyện, thành phố (chủ yếu liên quan đến các ca bệnh ở Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương; xã Mão Điền, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, và ở các Khu công nghiệp thuộc tỉnh Bắc Giang) hầu hết các ca công bố là F0 đều đã được cách ly. Với mục đích thực hiện nhiệm vụ “Mục tiêu kép vừa sản xuất kinh doanh, vừa phòng chống dịch tốt”, ngày 12/5/2021, Sở Giao thông Vận tải tỉnh Lạng Sơn ra thông báo số 1286/TB-SGTVT về việc tổ chức hoạt động vận tải khách công cộng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, trong thông báo nêu rõ:
- Tạm dừng hoạt động vận chuyển hành khách từ tỉnh Lạng Sơn đi/ đến địa bàn thuộc các tỉnh, thành phố có dịch và ngược lại. Đối với các phương tiện vận tải có hành trình đi qua địa bàn thuộc các tỉnh, thành phố có dịch, không được dừng, đỗ để đón, trả khách.
- Bố trí hành khách không vượt quá 50% số ghế theo đăng ký phương tiện và không vượt quá 20 người/01 xe (đối với xe có sức chứa  >40 chỗ); hành khách ngồi giãn cách nhau 01 ghế ngồi.
- Vận tải hành khách bằng xe taxi: Xe đăng ký 05 chỗ ngồi, chở tối đa 02 hành khách/ 01 xe; xe đăng ký 07 chỗ ngồi, chở tối đa 03 hành khách/01xe.
- Thực hiện nghiêm túc “thông điệp 5K, và các yêu cầu bắt buộc khác nhằm phòng, chống dịch tốt nhất.
Do đợt bùng phát dịch này diễn biến nhanh, mức độ lây lan mạnh, mặc dù chưa thực hiện việc giãn cách xã hội trên diện rộng, nhưng cũng đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, hoạt động kinh doanh vận tải nói riêng.
Dự ước doanh thu hoạt động vận tải tháng 5/2021 tăng 5,74% so với cùng kỳ năm trước (vận tải hành khách tăng 10,2%; vận tải hàng hóa tăng 0,14%; dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 18,24% và hoạt động chuyển phát tăng 16,66%).
Dự ước 5 tháng, doanh thu hoạt động vận tải tăng 24,81% (vận tải hành khách tăng 2,94%; vận tải hàng hóa tăng 30,29%; dịch vụ vận tải tăng 26,24% và dịch vụ chuyển phát tăng 75,26%).
6. Chỉ số giá
6.1.  Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chung toàn tỉnh tháng 5 năm 2021 giảm 0,13% so với tháng trước; tăng 1,02% so với cùng kỳ năm trước, tăng 2,56% so với năm gốc 2019, cụ thể:
6.1.1. Một số nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước, gồm:
- Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,1%:
+ Chỉ số giá nhóm hàng trên biến động tăng chủ yếu ở một số mặt hàng sau: Giá điện sinh hoạt tăng 0,84%, so với tháng trước nhu cầu tiêu thụ điện của người dân có phần tăng do nắng nóng. Giá dầu hỏa tăng 5,12%, do trong kỳ liên Bộ Công thương – Tài chính điều chỉnh giá vào 12/5 theo diễn biến giá dầu của thế giới. Giá gas giảm 6,49% (giảm 20 nghìn đồng/bình 12 kg), nguyên nhân giá gas tháng 5 giảm là do giá gas trong nước phụ thuộc vào diễn biến về giá gas thế giới, nhà cung cấp thế giới công bố giá gas bình quân là 485 USD/tấn, giảm 60 USD/tấn so với tháng trước.
+ Giá nước sinh hoạt tăng 0,21%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 1,73%, trong đó, tăng chủ yếu là giá thép và xi măng (nguyên nhân chủ yếu đến từ việc giá nguyên liệu tăng mạnh) nhưng không ảnh hưởng nhiều đến mức tăng chỉ số giá chung của nhóm.
+ Các mặt hàng khác trong nhóm giá ổn định.
- Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,12%:
Những mặt hàng trong nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng chủ yếu ở các mặt hàng phục vụ đầu hè như: Máy điều hòa, tủ lạnh, quạt điện ...
- Nhóm giao thông tăng 0,68%:
 + Chỉ số giá chung nhóm nhiên liệu tăng 2,14% so với tháng trước. Do trong kỳ có điều chỉnh giá xăng vào 15 giờ 00 ngày 12/5 trong đó: Giá xăng A95 III là 19.778đ/L tăng 386đ/L so với tháng trước, giá dầu Diezen là 14.882đ/L tăng 404đ/L so với tháng trước.
+ Giá vé tàu hỏa tăng 0,59%; giá vé máy bay giảm 14,15%: Tháng 5 với tình hình dịch bệnh Covid-19 trong nước bùng phát, mọi hoạt động di chuyển hầu như đều dừng lại, người dân hạn chế di chuyển nên giá dịch vụ giao thông giảm so với tháng trước.
 6.1.2.  Một số nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước, cụ thể:
- Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,59% :
 + Giảm chủ yếu ở những mặt hàng thực phẩm, so với tháng trước giảm 0,89%, trong đó: Giá thịt gia súc tươi sống giảm 2,96%, nguyên nhân chủ yếu do nguồn cung tăng cao, riêng giá thịt lợn giảm 4,26%. Hiện nay, dịch bệnh trên đàn lợn cơ bản đã được khống chế, giá bán sản phẩm ổn định, người chăn nuôi yên tâm tái đàn, giá thịt lợn bán lẻ trên thị trường bình quân dao động ở mức từ 123.000đ/kg – 140.000đ/kg (giảm từ 2.000đ/kg – 5.000đ/kg so với tháng trước). Giá thịt lợn giảm kéo theo giá dầu mỡ và chất béo, thịt chế biến giảm. Giá thịt gia cầm tươi sống tăng 0,89%; giá trứng các loại giảm 0,07%, không có dịch bệnh, tạo điều kiện đàn gia cầm phát triển. Bên cạnh đó cũng có mặt hàng có giá tăng so với tháng trước nhưng không ảnh hưởng lớn đến chỉ số giá chung, như: Giá rau tươi tăng 1,19%, tăng ở các mặt hàng cuối vụ thu hoạch như bắp cải, su hào, cà chua ...
+ Lương thực tăng 0,33%: Chỉ số giá nhóm lương thực tăng chủ yếu ở mặt hàng gạo, bột mì và ngũ cốc khác trong đó mặt hàng gạo tăng 1,58%, do lúa vụ Xuân trên địa bàn tỉnh chưa đến kỳ thu hoạch; ngô tăng 3,21% do phục vụ nhu cầu làm thức ăn chăn nuôi tăng cao ...
+ Ăn uống ngoài gia đình giảm nhẹ 0,01%: Do tình hình dịch bệnh covid-19 diễn biến phức tạp, hiện tại, trên bàn tỉnh tỉnh một số địa phương đang thực hiện cấm tụ tập đông người, các nhà  hàng, hàng ăn uống hầu như đóng cửa hoặc chỉ bán mang về, nhu cầu người dân vì thế cũng giảm.
- May mặc, mũ nón và giầy dép giảm 0,08%:
Chỉ số giá nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép giảm với tháng trước chủ yếu giảm ở các mặt hàng như: quần áo ấm, găng tay, bít tất, khăn quàng, mũ... do các mặt hàng trên là những mặt hàng mang tính thời vụ.
 Các mặt hàng còn lại của nhóm giá ổn định.
6.1.3. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 5 năm 2021 so với cùng kỳ năm trước.
CPI chung toàn tỉnh tháng 5/2021 tăng 1,02% so với cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của một số nhóm hàng sau: (1) Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,59%; (2) Nhóm nhà ở, điện nước chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,75%; (3)Nhóm giao thông tăng 20,43%; (4) Nhóm giáo dục tăng 0,2%; (5) Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,37%; (5) Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,44%. Trong đó, nhóm giao thông có chỉ số giá tăng cao so với cùng kỳ do tháng 04/2020 cả nước thực hiện giãn cách xã hội theo chỉ thị số 16/CT-TTg, nhu cầu đi lại của người dân giảm, tháng 5/2020 giá xăng dầu giảm mạnh, dẫn đến giá mặt hàng xăng, dầu tháng 5/2021 tăng 58,47% so với tháng tháng cùng kỳ.
6.2. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ.
- Chỉ số giá vàng so với tháng trước tăng 0,57%: trong tháng giá vàng thế giới biến động mạnh hơn các tháng trước, thị trường vàng trong nước giao dịch điều chỉnh giá tăng, giảm theo giá thị trường.
- Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 2,04% so với tháng trước.
7. Một số tình hình xã hội
7.1. Giải quyết việc làm và Bảo hiểm xã hội[3]
Tại Trung tâm Dịch vụ việc làm: Tư vấn về việc làm, học nghề, chính sách pháp luật lao động 975 lượt người, số người đăng ký tìm việc làm: 25 người; số người được giới thiệu việc làm: 8 người; Tổ chức 4 phiên giao dịch việc làm tại Trung tâm; 01 phiên giao dịch việc làm lưu động tại thị trấn Thất Khê, huyện Tràng Định và 01 phiên giao dịch việc làm online trực tuyến kết nối giữa 05 tỉnh.
Trợ cấp thường xuyên cho 3.926 người có công với kinh phí 7.451 triệu đồng ; Lũy kế chi trả trợ cấp cho 19.856 lượt người, kinh phí 37.599 triệu đồng.
Tiếp nhận, giải quyết hồ sơ người có công với cách mạng và thân nhân; người hoạt động kháng chiến là 111 hồ sơ; Lũy kế tiếp nhận và giải quyết hồ sơ người có công với cách mạng và thân nhân 616 hồ sơ.
7.2. Hoạt động y tế và sức khỏe cộng đồng[4]
7.2.1. Công tác phòng, chống dịch bệnh
a) Công tác phòng, chống dịch COVID-19
- Tính đến 15h00 ngày 24/5/2021 lũy tích toàn tỉnh có: 41 F0,  2.185 F1, 18.519 F2 , trong đó:
* 41 F0: trong đó 09 trường hợp đang điều trị Bệnh viện  Bệnh Nhiệt Đới Trung Ương; 28  trường hợp điều trị tại Trung tâm y tế huyện Hữu Lũng, trong đó có 01 trường  hợp  có  sốt, các  trường  hợp còn  lại chưa  có diễn diến bất thường; 04  trường hợp điều trị tại Trung tâm y tế huyện Chi Lăng, hiện tại có sốt. Quản lý tại các địa bàn như sau:
+  Huyện Hữu Lũng 34 F0:  {xã  Hòa Thắng 12 ca; xã Hồ Sơn 02 ca;  xã Minh Hòa 10 ca; xã Minh Sơn 01ca; đã chuyển Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới Trung Ương cơ sở Đông Anh 07 trường hợp (Minh  Hòa  04,  Hòa  Thắng  03),  xã  Vân Nham 01 ca, thị trấn Hữu Lũng 02 ca, xã Thiện Tân 05 ca, xã Yên Bình 01 ca};
+ Huyện Chi Lăng 05 F0: (thị trấn Chi Lăng: 03 ca, TT Đồng Mỏ: 01 ca, xã Gia Lộc: 01, 01ca  điều trị tại TTYT Hữu Lũng, 04 ca điều trị tại TTYT Chi Lăng);
+ Bệnh viện Phổi/Văn Lãng: 01 (đã điều trị khỏi);
+ Huyện Tràng Định: 01 (đã chuyển).
* 2.185 F1, trong  đó: Thành phố (102),  Cao Lộc(159), Lộc Bình (174), Văn Lãng (161), Tràng Định (48), Đình Lập (10), Văn Quan (196), Bình Gia (103), Bắc Sơn (75), Chi Lăng (277), Hữu Lũng (880), đang cách ly và theo dõi: 1.661, hoàn thành cách ly: 524.
- Tổng số đã lấy mẫu xét nghiệm (PCR):
Lần 1: 2.171, kết quả: Âm tính: 2.081, chờ kết quả: 90;
Lần 2: 777, âm tính 559, chờ kết quả: 213;
Lần 3:137, âm tính 132, dương tính: 05;
Lần 4: 10, âm tính 10;
* Tổng số 18.519  F2, hiện đang quản lý y tế tại các địa phương: Bệnh viện  Phổi  (349),  Thành  phố (1.185),  Cao  Lộc (741),  Lộc  Bình (1.102),  Văn Lãng (1.637),  Tràng  Định (922),  Đình  Lập (248),  Văn  Quan (3.168),  Bình Gia (495), Bắc  Sơn (724), Chi  Lăng (1.134), Hữu  Lũng (6.813), đang  cách  ly  và theo dõi tại nhà: 14.472, hoàn thành cách ly: 4047 .
Đã lấy mẫu: Lần 1: 8.285, kết quả: Âm tính: 5.513, chờ: 2.772.
b) Công tác phòng, chống dịch bệnh khác
Trong tháng xuất hiện chùm ca bệnh viêm não/viêm màng não rải rác tại 5 huyện, thành phố; các ca bệnh được  điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh, kết quả điều trị: Hiện tại còn 6 bệnh nhân đang điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh, tiên lượng điều trị tốt, có 01 bệnh nhân phải chuyển Viện lâm sàng các bệnh Nhiệt đới Trung ương, các bệnh nhân còn lại đã điều trị ổn định và ra viện. Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh lấy mẫu và gửi Viện VSDT Trung ương xét nghiệm, tuy nhiên đến thời điểm hiện tại chưa có kết quả trả lời của Viện VSDT Trung ương.
Số  liệu cộng  dồn  (tính  từ  ngày 01/01/2021  -  30/4/2021) so với số  liệu cùng kỳ năm 2020 có  09  bệnh có số mắc tăng so với cùng kỳ năm 2020 và 04 bệnh có số mắc giảm hoặc tương đương so với cùng kỳ năm 2020
7.2.2. Thực hiện các chương trình mục tiêu Y tế - Dân số
Hoạt động phòng, chống bệnh Phong: Trong tháng không phát hiện bệnh nhân phong  mới. Cộng dồn 5 tháng: Phát  hiện 02 bệnh nhân phong (01 bệnh nhân ở xã Đoàn Kết, Khánh Long huyện Tràng Định). Đã tô ̉ chức khám sàng lọc tại xã Khánh Long, huyện Tràng Định, kết quả khám tại hô ̣gia đình 23 người không ai nghi mắc, khám tại thôn là 29 hộ  (133 người), cấp thuốc điều tri ̣bệnh ngoài da 25 người, không phát hiện ai nghi mắc bệnh phong. Tổng số bệnh nhân đang  quản  lý 12  người  (Trong  đó:  Bệnh  nhân  phong  mới  đang  điều  tri ̣là 03 bê nh nhân)
Thực hiện tiêm chủng cho trẻ em dưới  01 tuổi trên 11 huyện, thành phố. Đảm bảo thực hiện nghiêm quy định, quy trình tiêm chủng. Không có tai biến xảy ra trong tiêm chủng.
7.3. Hoạt động văn hoá, thể thao và du lịch[5]
7.3.1. Hoạt động văn hóa
Bảo vệ và phát huy di sản văn hóa: Tỉnh đã ban hành Kế hoạch xây dựng và phát triển Hệ thống du lịch thông minh tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2021-2025; Cơ quan chức năng đã dự thảo số kinh phí để thực hiện Kế hoạch xây dựng và phát triển Hệ thống du lịch thông minh tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2021-2025
Hoạt động bảo tàng: Cơ quan chức năng đã lập hồ sơ di tích đình Đồng Bụt, xã Yên Bình, huyện Hữu Lũng trình xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2021; hoàn thành thủ tục tiếp nhận 45 hiện vật gốc, 22 hiện vật phục chế, 70 tư liệu lịch sử cách mạng (1.576 trang), 353 file ảnh; 36 tài liệu chuyên môn. Phân loại ảnh, tư liệu, hiện vật mới tiếp nhận để kiểm kê khoa học. Nhập dữ liệu hiện vật, tư liệu mới đăng ký vào sưu tập và hệ thống quản lý; lập danh mục ảnh, hiện vật phục vụ việc xây dựng phòng truyền thống Đảng bộ huyện Lộc Bình. Hướng dẫn nghiệp vụ đăng ký, kiểm kê tư liệu, tài liệu hiện vật; quản lý hồ sơ di tích cho Ban quản lý di tích huyện Chi Lăng.
Mở cửa nhà trưng bày, phòng triển lãm chuyên đề đón tiếp 8.928 lượt khách tham quan.
Hoạt động chiếu phim: Các đội chiếu bóng lưu động tăng cường tổ chức công tác tuyên truyền về phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn toàn tỉnh, đặc biệt tại các xã vùng biên giới; tuyên truyền về chính sách của Đảng và Nhà nước; tuyên truyền về vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn giao thông, phòng, chống buôn bán, vận chuyển, tàng trữ và đốt pháo nổ, tuyên truyền về các ngày kỷ niệm của đất nước, của tỉnh và đặc biệt là tuyên truyền cho Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026…5
Hoạt động thư viện: Hoạt động của các thư viện diễn ra ổn định, tiếp nhận và bàn giao sách do các nhà xuất bản biếu tặng về cơ sở; đảm bảo các điều kiện về phòng, chống dịch bệnh Covid-19 phục vụ bạn đọc.
7.3.2. Hoạt động thể dục, thể thao:Tổ chức tuyên truyền phòng, chống bệnh Covid-19 cho vận động viên trong các buổi tập luyện và sinh hoạt; xây dựng kế hoạch tập huấn và thi đấu giải Vô địch Cup Kick boxing; giải vô địch Wushu quốc gia, giải vô địch Muay toàn quốc năm 2021 và Giải vô địch Cử tạ Thanh thiếu niên quốc gia năm 2021.
7.3.3. Hoạt động du lịch:
Tổng lượng khách tháng 5/2021: 72. 836 lượt khách.Trong đó: Khách quốc tế đạt 1.300 lượt khách. Khách trong nước đạt 71.536 lượt khách. Doanh thu ước đạt 614,5 tỷ đồng, tăng 129% so với cùng kỳ, đạt 32% so với kế hoạch năm 2021.
7.4. Giáo dục[6]
Trong tháng 5 năm 2021, trước tình hình dịch Covid-19 bùng phát, các trường học đã khẩn trương tổ chức thi học kỳ 2 cho học sinh và hoàn thành chương trình năm học theo hình thức học trực tuyến để đảm bảo an toàn cho thầy và trò. Đối với học sinh khối lớp 9 và khối lớp 12 tổ chức ôn thi với biện pháp giãn cách chia nhỏ số học sinh mỗi lớp và kết hợp học trực tuyến để đảm bảo an toàn về phòng chống dịch bệnh, cũng như giúp các em học sinh tự tin bước vào kỳ thi chuyển cấp và thi tốt nghiệp trung học phổ thông.
7.5. Trật tự - An toàn giao thông[7]
Tháng 5 năm 2021 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã xảy ra 03 vụ tai nạn giao thông đường bộ nghiêm trọng. Làm 03 người chết, 03 người bị thương. Tính từ đầu năm đến 5 tháng toàn tỉnh xảy ra 14 vụ tai nạn giao thông làm 12 người chết, 05 người bị thương; Giảm 02 vụ (-12,5%), giảm 04 người chết (-25,0%), tăng 01 người bị thương (+ 20%) so với cùng kỳ năm trước; tai nạn tăng 02 vụ, tăng 02 người chết và tăng 03 người bị thương so với tháng trước. Nguyên nhân tai nạn chủ yếu là do phóng nhanh vượt ẩu của người điều khiển phương tiện đã không làm chủ được tốc độ.
7.6. Môi trường
Trong tháng 5/2021, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn xảy ra 02 trường hợp vi phạm môi trường về vận chuyển đất và tập kết không đúng địa điểm, đã xử lý vi phạm  số tiền phạt 20 triệu đồng. Không xảy ra vụ cháy, nổ. Cộng dồn từ đầu năm xảy ra 18 vụ cháy, nổ không có thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại là 2.045 triệu đồng.
7.7. Thiệt hại do thiên tai
Thiệt hại do giông, lốc: Trong tháng 5/2021 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã xảy ra mưa to, giông lốc kéo dài, tại huyện Tràng Định, Văn quan, Chi Lăng, Hữu Lũng, Đình Lập gây thiệt hại về nhà cửa, hoa màu và gia súc, gia cầm. Ước tính thiệt hại như sau:
+ Diện tích lúa và hoa màu: 285,7 ha, ước tính giá trị thiệt hại: 3.040 triệu đồng.
+ Gia súc, gia cầm: 132 con, ước giá trị thiệt hại 86,1 triệu đồng.
- Thiệt hại về nhà cửa: 54 nhà, ước tính thiệt hại 298 triệu đồng.
Ước tổng thiệt hại trên địa bàn tỉnh trên 4.802,5 triệu đồng.
 

[1] Nguồn: Sở Tài chính
[2] Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Lạng Sơn
[3] Nguồn: Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh.
[4] Nguồn: Sở Y tế.
[5] Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh.
    [6] Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo
   [7] Nguồn: Ban An toàn giao thông tỉnh

Tác giả bài viết: Cục Thống kê tỉnh Lạng Sơn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây