1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
1.1 Nông nghiệp
* Trồng trọt
Từ cuối tháng 10 thời tiết se lạnh kèm mưa phần nào ảnh hưởng đến tiến độ thu hoạch vụ Mùa, bảo quản nông sản và triển khai sản xuất vụ Đông. Đến giữa tháng 11, thời tiết duy trì trạng thái nắng ráo, khô thoáng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc làm đất và đẩy nhanh tiến độ thu hoạch các loại cây trồng.
Các loại cây trồng chính vụ Mùa cơ bản đã được thu hoạch. Tính đến thời điểm báo cáo, diện tích lúa Mùa đã thu hoạch đạt 97,54% trên tổng diện tích gieo cấy (32.082,09 ha), giảm 3,34% so với cùng kỳ, do thời điểm đầu vụ thời tiết khô hạn kéo dài, nhiều khu vực thiếu nước, làm cho một số chân ruộng không đảm bảo gieo cấy đúng lịch. Năng suất lúa Mùa ước đạt 95,47% so với cùng kỳ do chịu tác động của bão số 10 và số 11, khiến một số diện tích bị đổ rạp, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng trổ bông và chất lượng hạt. Song song với thu hoạch lúa, bà con đẩy nhanh việc thu hoạch ngô và các loại rau màu để giải phóng đất phục vụ gieo trồng vụ Đông. Các loại cây vụ Đông, chủ lực là rau màu như bắp cải, su hào, ớt,… diện tích gieo thực hiện được 792,92 ha giảm 4,14% so với cùng kỳ, do thu hoạch vụ Mùa kéo dài.
Giá một số mặt hàng nông sản và vật tư nông nghiệp: Giá rau các loại tăng mạnh lên 20.000 – 30.000 đồng/kg (tăng 8.000 – 12.000 đồng/kg so với cùng kỳ); Giá quả ổn định: hồng Vành Khuyên 20.000 – 25.000 đồng/kg, hồng không hạt Bảo Lâm 30.000 – 40.000 đồng/kg, tương đương cùng kỳ. Vật tư nông nghiệp tiếp tục tăng: phân đạm Ure 13.800 – 15.800 đồng/kg (tăng 1.000 – 1.800 đồng/kg so với cùng kỳ), Supe lân 6.880 – 10.720 đồng/kg, NPK 7.480 – 18.200 đồng/kg, Kali khoảng 11.000 đồng/kg; mức tăng phổ biến 200 – 1.600 đồng/kg tùy loại và hàm lượng.
* Chăn nuôi
Trong tháng, bệnh Dịch tả lợn châu Phi tiếp tục diễn biến phức tạp, phát sinh tại 243 hộ/15 thôn, tiêu hủy 1.187 con, tương đương 57.501 kg. Lũy kế đến nay, dịch đã xảy ra tại 6.898 hộ/985 thôn/64 xã, phường, tổng số lợn chết và tiêu hủy lên tới 28.070 con, với tổng trọng lượng 1.525.061 kg. Toàn tỉnh đã có 60/65 xã, phường công bố dịch, 06 xã công bố hết dịch; 31 xã, phường đã qua 21 ngày không phát sinh ca bệnh mới. Bệnh Viêm da nổi cục không ghi nhận thêm gia súc mắc mới.
Số lượng một số sản phẩm chăn nuôi chủ yếu
thời điểm tháng 10 năm 2025 so với cùng kỳ (1000 con)

Tổng đàn trâu, đàn bò toàn tỉnh ước tính thời điểm tháng 11/2025 hiện có: Đàn trâu 48.252 con, giảm 10,92% so với cùng kỳ, đàn bò hiện có 27.571 con, giảm 0,57% so với cùng kỳ năm trước. Do nhu cầu sử dụng sức kéo bằng gia súc giảm và môi trường chăn thả bị thu hẹp, xu hướng đàn trâu giảm mạnh so với các năm trước; một số hộ bán trâu để lấy vốn đầu tư vào trồng rừng; hiện nay các hộ dân cư chủ yếu nuôi trâu bò vỗ béo, lấy thịt.
Tổng đàn lợn số con hiện có dự ước 186.680 con, giảm 2,32% so với cùng kỳ năm trước. Đến nay, Dịch tả lợn châu Phi cơ bản được khống chế, người dân tập trung đẩy mạnh tái đàn ở các doanh nghiệp, hợp tác xã, các trang trại và hộ chăn nuôi có quy mô lớn, đủ điều kiện áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học và kiểm soát tốt dịch bệnh, chuẩn bị tốt nguồn cung thịt lợn, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong dịp tết Dương lịch và Tết Nguyên đán và các ngày lễ trước, trong và sau Tết Nguyên đán.
Đàn gia cầm ước hiện có 4.537,58 nghìn con, tăng 4,55% so với cùng kỳ; trong đó, tổng đàn gà là 4.470,76 nghìn con, tăng 4,38% so với cùng kỳ. Do nhu cầu tiêu thụ thịt gia cầm cho hoạt động sinh hoạt, thương mại tăng.
1.2. Lâm nghiệp
Công tác trồng rừng được duy trì, do mang lại hiệu quả kinh tế cao, sản phẩm gỗ có thị trường tiêu thụ ổn định. Công tác quản lý, bảo vệ rừng, chăm sóc rừng trồng, khoanh nuôi tái sinh rừng được các chủ rừng thực hiện thường xuyên theo quy chế quản lý rừng. Thường xuyên cập nhật tình hình thời tiết tại các vùng trên địa bàn tỉnh, kịp thời cảnh báo tới chính quyền các cấp, các chủ rừng và nhân dân chủ động thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng.
Diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng ước thực hiện 1.640,21 ha, giảm 10,49% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác đạt 136.043,66 m3, tăng 20,05% so với cùng kỳ; cộng dồn từ đầu năm đạt 671.111,34 m3, tăng 8,95% so cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác tăng do hoạt động chế biến, xuất khẩu sản phẩm từ gỗ tăng khá, nhu cầu gỗ nguyên liệu cho các cơ sở chế biến gỗ tăng.
1.3. Thủy sản
Tiếp tục thực hiện cung ứng cá giống đảm bảo chất lượng cho nông dân nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh, lũy kế từ đầu năm đến nay Trung tâm Khuyến nông cung ứng 1,11 triệu con cá giống các loại cho người nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh. Mực nước tại các ao, hồ trong tháng ổn định. Khai thác thuỷ sản trong trong tháng vẫn được người dân duy trì khai thác và đánh bắt đảm bảo phục vụ nhu cầu tiêu dùng hàng ngày.
2. Sản xuất công nghiệp
2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 11/2025
* So với tháng trước
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11/2025 tăng mạnh 20,8% so với tháng trước, mức tăng mạnh chủ yếu là do ngành công nghiệp khai khoáng tăng 23,78%; ngành chế biến, chế tạo tăng 9,72%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 61,84%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 5,85%.
Ngành công nghiệp khai khoáng trong tháng 11/2025 tăng 23,78% so với tháng trước. Trong đó, hoạt động khai thác than cứng và than non tăng mạnh 97,62%. Nguyên nhân chủ yếu do tháng 10/2025 chịu ảnh hưởng của mưa bão, ngập lụt, một số khu vực dân cư phải cắt điện diện rộng, dẫn đến thay đổi điều tiết trong sản xuất và phân phối điện của Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVN).
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dự ước tăng 9,72% so với tháng trước. Hầu hết các ngành cấp 2 đều ghi nhận xu hướng tăng. Một số nhóm ngành có mức tăng trưởng nổi bật gồm: sản xuất đồ uống tăng 20,19% do các cơ sở cá thể đẩy mạnh sản lượng rượu phục vụ Tết Nguyên đán 2026; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 14,91% nhờ nhu cầu sử dụng vật liệu xây dựng tăng lên để sửa chữa, khôi phục công trình sau bão; sản xuất da và các sản phẩm liên quan tăng 20%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 20%; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ tăng 10,23%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 8,67% do nhu cầu thị trường cải thiện và các cơ sở cá thể mở rộng sản xuất. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng, góp phần làm tăng sản lượng chung của toàn ngành.
Ngành sản xuất và phân phối điện có chỉ số sản xuất tăng mạnh 61,84%, trong đó: điện sản xuất ước tăng 80,95% (tăng 31,65 triệu kwh) do bước sang mùa khô, xu hướng tăng huy động điện sản xuất từ nhiệt điện, dự ước Công ty Cổ phần Nhiệt điện Na Dương sản lượng điện tăng cao so với tháng trước. Điện thương phẩm tăng 1,39% (tăng 1,04 triệu kwh) do nhu cầu điện cho sản xuất và trong sinh hoạt tăng.
Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải có chỉ số sản xuất tăng 5,85%. Trong đó, khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 6,74%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 8,33%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải, tái chế phế liệu tăng 4,59% so với tháng trước.
* So với cùng kỳ
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11/2025 so với cùng kỳ tăng 10,05%, nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động sản xuất phục hồi, nhiều doanh nghiệp nhận được thêm đơn hàng và nhu cầu thị trường tăng nên sản xuất tăng so với cùng kỳ.
Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 14,85%, trong đó: hoạt động khai khoáng khác (đá xây dựng) tăng 25,11%, do năm 2025, trên địa bàn tỉnh có nhiều dự án, công trình xây dựng lớn, sản phẩm có thị trường tiêu thụ nên các doanh nghiệp tăng năng suất sản xuất so với cùng kỳ; ngược lại hoạt động khai thác than giảm nhẹ 2,33%, do nhu cầu tiêu thụ than của Công ty cổ phần Nhiệt điện Na Dương giảm so với cùng kỳ.
So với cùng kỳ năm trước, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,67%, chủ yếu do tác động của một số ngành: sản xuất đồ uống tăng 21,35% do nhu cầu tiêu thụ đồ uống tăng mạnh phục vụ thị trường Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán 2026; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 13,29% do các doanh nghiệp và cơ sở cá thể mở rộng thị trường tiêu thụ, đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng có nhu cầu cao dịp cuối năm; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 9,32% nhờ tận dụng nguồn nguyên liệu trồng rừng ổn định. Một số ngành có mức tăng cao như: sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 188,46%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 131,2%; công nghiệp chế biến chế tạo khác tăng 125,14%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 50,47%; sản xuất máy móc thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 51,16%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 26,08%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 11,66%. Mức tăng của các ngành trên đã góp phần quan trọng vào tốc độ tăng chung của toàn ngành chế biến, chế tạo trong tháng.
Ở chiều ngược lại, trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo một số nhóm ngành có chỉ số sản xuất giảm, cụ thể: sản xuất trang phục giảm 7,39%; in sao chép bản ghi các loại giảm 26,22%; sản xuất kim loại giảm 14,4%; sản xuất giường tủ bàn ghế giảm 26,79%. Nguyên nhân chủ yếu do các doanh nghiệp nhận được ít đơn hàng mới nên giảm sản xuất so với cùng kỳ năm trước.
Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,71%, trong đó: điện sản xuất tăng 9,21% (tăng 5,96 triệu kwh) do năm 2025, giá than ổn định hơn so với năm trước, doanh nghiệp tăng huy động sản xuất điện nên sản lượng tăng cao so cùng kỳ; điện thương phẩm tăng 6,65%, tương đương tăng 4,73 triệu kwh do nhu cầu sử dụng điện cho sản xuất và sinh hoạt tăng.
Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,38%: Hoạt động khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 2,56%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 7,02%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải, tái chế phế liệu giảm 1,42% so với cùng kỳ.
* Cộng dồn 11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ
Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp dự ước 11 tháng năm 2025 tăng 6,15% so với cùng kỳ, nguyên nhân chính khiến chỉ số sản xuất tăng là do nhu cầu thị trường tăng, các doanh nghiệp nhận được thêm đơn hàng nên tăng sản xuất để đáp ứng yêu cầu, trong đó một số ngành có chỉ số sản xuất tăng, như: Khai thác than cứng và than non tăng 11,29%. Khai khoáng khác tăng 18,37%, chủ yếu là khai thác đá, do nhu cầu đá xây dựng phục vụ cho các dự án đầu tư, xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh tăng, các doanh nghiệp tăng sản lượng khai thác. Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 9,61%, do doanh nghiệp mở rộng sản xuất ngành chế biến gỗ nên tăng sản lượng so cùng kỳ. Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 37,24%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 18,49%, do nhu cầu xây dựng phục vụ cho các dự án công trình của tỉnh và xây dựng trong dân cư tăng, doanh nghiệp tăng sản lượng sản xuất clanhke, xi măng để đáp ứng nhu cầu, đơn đặt hàng và đảm bảo nguồn cung cho hoạt động xây dựng. Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 14,32%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 29,59%, do doanh nghiệp nhận được thêm đơn hàng nên tăng sản xuất so với cùng kỳ.
Sản lượng một số sản phẩm chủ lực của tỉnh: sản lượng khai thác than của Công ty Than Na Dương 11 tháng đầu năm ước đạt 411,16 nghìn tấn, tăng 11,29%, do nhu cầu tiêu thụ than của Công ty Nhiệt điện Na Dương tăng so với cùng kỳ. Sản phẩm gỗ dán ước đạt 113,4 nghìn m3, tăng 3,31%; ván ép từ gỗ và các vật liệu tương tự ước đạt 48,4 nghìn m3, tăng 24,76%, do nguồn nguyên liệu gỗ rừng trồng tại địa phương ổn định, doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, nên sản lượng tăng so với cùng kỳ. Sản phẩm clanhke ước đạt 744,07 nghìn tấn, tăng 24,07%, xi măng Portland đen ước đạt 1.320,27 nghìn tấn, tăng 17,24% so với cùng kỳ, sản xuất sản phẩm xi măng cơ bản đáp ứng vật liệu xây dựng cho hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh và cung cấp cho một số tỉnh lân cận. Sản lượng điện sản xuất chiếm tỷ trọng lớn là của Công ty Nhiệt điện Na Dương cộng dồn 11 tháng sản lượng điện ước đạt 597,57 triệu Kwh, tăng 6,28% so với cùng kỳ.
2.2. Chỉ số sử dụng lao động
Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 11/2025 tăng 0,62% so với tháng trước và giảm 0,88% so với cùng kỳ.
Chia theo ngành: Chỉ số sử dụng lao động ngành khai khoáng tăng 4,39%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 3,15% so với cùng kỳ. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,86%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,86% so với cùng kỳ.
Chia theo loại hình sở hữu: chỉ số sử dụng lao động trong doanh nghiệp nhà nước tăng 2,91%, doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 2,4%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 7,81% so với cùng kỳ.
3. Đầu tư, xây dựng
3.1. Thực hiện vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước
Dự ước vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh tháng 11 năm 2025 ước đạt 748,4 tỷ đồng, đạt 9,32% kế hoạch năm 2025, tăng 4,09% so với tháng trước và tăng 68,46% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 692,7 tỷ đồng, tăng 76,43%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 55,7 tỷ đồng, tăng 7,83% so với cùng kỳ.
Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh 11 tháng năm 2025 ước thực hiện 5.374,2 tỷ đồng, đạt 69,66% kế hoạch năm, tăng 56,78% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 4.882,8 tỷ đồng, tăng 62,43%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 491,4 tỷ đồng, tăng 16,51% so với cùng kỳ.
* Tiến độ thực hiện một số dự án trên địa bàn tỉnh
Dự án tuyến Cao tốc cửa khẩu Hữu Nghị - Chi Lăng theo hình thức BOT công trình có tổng mức đầu tư 11.024 tỷ đồng (trong đó, nguồn vốn Nhà nước do địa phương quản lý 5.500 tỷ đồng), lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 11/2025 ước thực hiện được 3.094,8 tỷ đồng, đạt 56,27% so với kế hoạch.
Dự án Đường giao thông kết nối Quốc lộ 4B đến Quốc lộ 18: Tổng mức đầu tư 338,9 tỷ đồng, lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 11/2025 ước thực hiện được 338,3 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch.
Dự án Khu liên hợp thể thao (Hạng mục: Sân vận động trung tâm và nhà thi đấu đa năng), công trình có tổng mức đầu tư 500,3 tỷ đồng, lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 11/2025 ước thực hiện được 210,8 tỷ đồng, đạt 42,14% so với kế hoạch.
Dự án đường Lý Thái Tổ kéo dài và khu dân cư, tái định cư thành phố Lạng Sơn, tổng mức đầu tư 690,3 tỷ đồng, lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 11/2025 ước thực hiện được 173,8 tỷ đồng, đạt 25,17% kế hoạch.
3.2. Tình hình đăng ký doanh nghiệp
Từ đầu năm đến hết tháng 10/2025, có 789 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 26,40% so với cùng kỳ. Tổng số vốn đăng ký kinh doanh là 6.025,5 tỷ đồng, giảm 29,87% so với cùng kỳ. Số doanh nghiệp gửi thông báo tạm ngừng hoạt động là 489 doanh nghiệp, giảm 16,12%; số doanh nghiệp thông báo giải thể là 142 doanh nghiệp, giảm 8,40% so với cùng kỳ.
4. Thương mại và dịch vụ
4.1. Xuất nhập khẩu hàng hóa1
Hoạt động xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu diễn ra sôi động. Tại cửa khẩu Hữu Nghị có 06 địa điểm gồm 02 cửa hàng miễn thuế; 02 địa điểm kiểm tra giám sát hàng hoá XNK; 02 kho hàng bưu chính, chuyển phát nhanh. Cửa khẩu Cốc Nam có 05 địa điểm gòm 01 kho ngoại quan và 04 địa điểm kiểm tra giám sát tập trung. Cửa khẩu Tân Thanh có 01 địa điểm kiểm tra giám sát tập trung. Cửa khẩu Chi Ma có 09 địa điểm gồm 8 địa điểm kiểm tra giám sát tập trung và 01 kho ngoại quan. Ga ĐSQT Đồng Đăng có 2 địa điểm là khi hàng bưu chính, chuyển phát nhanh.
Tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu hàng hoá của tất cả các loại hình luỹ kế đến 15/11/2025 ước đạt 86.211.522.121 USD, tăng 46.02% so với kỳ trước, xuẩt khẩu ước đạt 28.798.049.937 USD, tăng 50,36% so với kỳ trước. Trong đó, kim ngạch hàng hoá mở tờ khai tại HQKV6 ước đạt 6.692.345.072 USD, tăng 28,94% so với kỳ trước
4.2. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ
Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh 11 tháng năm 2025 đạt 3.852,6 tỷ đồng (chưa bao gồm doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông và chuyên môn khoa học), tăng 3,16% so với tháng trước.

* Tổng mức bán lẻ hàng hóa
So với tháng trước: Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 11/2025 ước tính đạt 3.364 tỷ đồng, tăng 3,1% với tháng trước. Các nhóm mặt hàng tăng như: Nhóm đồ dùng, dụng cụ và trang thiết bị gia đình tăng 5,73%, xăng dầu các loại tăng 4,46%, hàng may mặc tăng 3,31%, và lương thực, thực phẩm tăng 2,93%....
So với cùng kỳ: Nhìn chung các nhóm hàng trong tổng mức bán lẻ hàng hoá đều tăng, tổng mức bán lẻ hàng hoá tăng 18,38% so với cùng kỳ cụ thể: Lương thực, thực phẩm tăng 20,18%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 18,32%; gỗ và vật liệu xây dưng tăng 17,25%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 335,24%; hàng hoá khác tăng 9,17%; dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 26,95%,…
Dự ước 11 tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 34.938,8 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước tăng 16,9%. Tăng chủ yếu ở các nhóm hàng hóa: lương thực, thực phẩm tăng 22,44%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 16,28%; xăng, dầu các loại tăng 13% do nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa của nhân dân tăng cao; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 14,34%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 127,9%; hàng hóa khác tăng 18,86%…
* Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành
Trong tháng 11, hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành ghi nhận mức tăng trưởng khá so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu đến từ chuỗi sự kiện văn hóa, xã hội và thể thao quy mô lớn được tổ chức liên tục trên địa bàn tỉnh, tạo không khí sôi động hướng tới các ngày lễ có ý nghĩa trong tháng.
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 11/2025 ước đạt 310,2 tỷ đồng, tăng 3,85% so với tháng trước và tăng 14,29% so với cùng kỳ. Chia ra: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 19,3 tỷ đồng, tăng 3,52% so với tháng trước và tăng 15,27% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 290,9 tỷ đồng, tăng 3,87% so với tháng trước và tăng 14,22% so với cùng kỳ.
Doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 1 tỷ đồng, tăng 8,33% so với tháng trước và tăng 19,78% so với cùng kỳ.
Cộng dồn doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 184,2 tỷ đồng tăng 18,62%; dịch vụ ăn uống đạt 2.859,6 tỷ đồng tăng 16,46%; dịch vụ lữ hành đạt 10,14 tỷ đồng tăng 10,25%.
* Doanh thu dịch vụ khác
Doanh thu dịch vụ khác tháng 11/2025 ước đạt 176,5 tỷ đồng, tăng 2,97% so với tháng trước và tăng 17,2% so với cùng kỳ. Cộng dồn 11 tháng ước đạt 1.738,4 tỷ đồng tăng 9,63% so với cùng kỳ.
4.3. Vận tải
Dự ước doanh thu vận tải, kho bãi tháng 11 đạt 245,1 tỷ đồng, tăng 2,42% so với tháng trước và tăng 14,67% so với cùng kỳ. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 31,8 tỷ đồng, tăng 0,59% so với tháng trước và tăng 12,06% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 117,8 tỷ đồng, tăng 4,14% so với tháng trước và tăng 19,37% so với cùng kỳ; doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 94,8 tỷ đồng, tăng 0,97% so với tháng trước và tăng 9,79% so với cùng kỳ; doanh thu hoạt động bưu chính, chuyển phát ước đạt 0,65 tỷ đồng, tăng 2,33% so với tháng trước và tăng 120,8% so với cùng kỳ.
Dự ước tổng doanh thu vận tải, kho bãi 11 tháng năm 2025 đạt 2.620,7 tỷ đồng, tăng 13,32% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 336,8 tỷ đồng, tăng 12,97%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.220,8 tỷ đồng, tăng 11,99%; doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.057,7 tỷ đồng, tăng 14,8%; doanh thu hoạt động bưu chính, chuyển phát ước đạt 5,5 tỷ đồng, tăng 77,48% so với cùng kỳ.
VẬN TẢI 11 THÁNG NĂM 2025
(So với cùng kỳ)

5. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
5.1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
* Chỉ số giá tiêu dùng so với tháng trước: Chỉ số giá trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn tăng 0,49%, nhìn chung các mặt hàng tiêu dùng đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính 08 nhóm hàng có chỉ số giá tăng (hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,73%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,07%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,65%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,15%; giao thông tăng 1,52%; thông tin và truyền thông tăng 0,37%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,05%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,04%). Có 03 nhóm mặt hàng có chỉ số giá giảm so với tháng trước (nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,08%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,28%; giáo dục giảm 0,02%).

Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,73% so với tháng trước. Trong đó chỉ số giá nhóm lương thực tăng 0,02%; Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 0,53% so với tháng trước. Do thời tiết không thuận lợi, giảm năng suất, sản lượng rau màu, khiến cho giá rau tươi tăng mạnh. Thịt lợn giảm giá so với tháng trước, chỉ số giá giảm 0,84%;
Trong tháng có lễ hội du lịch “Mùa vàng Bắc Sơn”, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài tỉnh, nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng khiến nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 2,02%, chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá cũng tăng 1,07%.
Chỉ số giá nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,65%; chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,15%; Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 1,52% nguyên nhân chủ yếu do giá xăng dầu và phụ kiện xe tăng giá so với tháng trước; Chỉ số giá nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,37%; Chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,05%; Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,08% Nguyên nhân chính do thời tiết thay đổi, nhu cầu sử dụng điện, nước sinh hoạt giảm, kéo theo chỉ số giá điện, nước sinh hoạt giảm.
Chỉ số giá nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,28%, chỉ số giá nhóm giáo dục giảm 0,02% do nhu cầu mua sắm đồ dùng học tập và văn phòng phẩm phục vụ học tập giảm so với tháng trước.
* Chỉ số giá tiêu dùng so với cùng kỳ: Chỉ số giá tháng 11/2025 tăng 2,21%. Cả 11 nhóm hàng tiêu dùng đều tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,54%, thực phẩm tăng 3,01%; ăn uống ngoài gia đình tăng 2,51%, lương thực giảm 0,31%, đồ uống và thuốc lá 1,46%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng tăng 1,49%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,19%; nhóm nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,64%; nhóm giao thông tăng 1,02%, nhóm thuốc và dụng cụ y tế tăng 6,36%; nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,78%; nhóm giáo dục tăng 0,24%; nhóm văn hoá, giải trí, du lịch tăng 1,39%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 1,41%,
* Chỉ số giá tiêu dùng 11 tháng năm 2025: So với cùng kỳ tăng 1,82%, do chỉ số giá một số nhóm hàng tăng, như: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,78%, (lương thực tăng 3,66%; thực phẩm tăng 4,68%; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,56%). Nhóm đồ uống, thuốc lá tăng 1,35%; Nhóm may mặc, mũ nón giày dép tăng 0,50%; Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,18%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,13%; Thuốc và dụng cụ y tế tăng 6,33%; nhóm này có chỉ số giá tăng do giá dịch vụ y tế tăng theo Nghị quyết 28/2024/NQ -HĐND ngày 31/12/2024 của HĐND tỉnh Lạng Sơn, áp dụng từ ngày 01/01/2025. Nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 2,74%.
Nhóm hàng có chỉ số giá bình quân chung 11 tháng giảm so với cùng kỳ là nhóm giao thông giảm 2,79%, nhóm giáo dục giảm 10,77% (Chỉ số nhóm giáo dục giảm do các trường mầm non, tiểu học, THCS, THPT công lập miễn học phí theo Nghị quyết số 34/2025/NQ-HĐND ngày 10/11/2025 của HĐND tỉnh Lạng Sơn).
5.2. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
Tháng 11/2025, giá vàng trong nước tiếp tục biến động tăng, giảm theo giá vàng thế giới. Trên xu hướng giá vàng trong nước tăng trong thời gian qua, chỉ số giá vàng trên địa bàn tăng 0,39% so với tháng trước, tăng 58,07% so với cùng kỳ năm trước, so với giá gốc 2024 tăng 91,41%. Chỉ số giá vàng bình quân 11 tháng đầu năm 2025 tăng 45,24% so với cùng kỳ.
Trong tháng 11/2025, đồng đô la Mỹ giảm 0,04% so với tháng trước, tăng 3,66% so với cùng kỳ năm trước, so với năm gốc năm 2024 tăng 5,13%. Chỉ số giá đô la Mỹ bình quân 11 tháng đầu năm 2025 tăng 3,82% so với cùng kỳ.
6. Tài chính, ngân hàng
6.1. Tài chính2
Về thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện tháng 11 năm 2025 là 1.023,5 tỷ đồng. Luỹ kế ước thực hiện 11 tháng đầu năm 2025 là 15.815,7 tỷ đồng, tăng 53,3% so với dự toán tỉnh giao, tăng 57,2% so với cùng kỳ. Trong đó:
Thu nội địa: 3.705,0 tỷ đồng, đạt tăng 1,10% dự toán tỉnh giao, tăng 37,7% so với cùng kỳ. Do các cấp, các ngành tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2025; Kế hoạch thực hiện kịch bản tăng trưởng kinh tế năm 2025; đẩy mạnh phát triển kinh tế cửa khẩu, thương mại, dịch vụ, du lịch, công nghiệp, tái cơ cấu ngành nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới gắn với phát triển kinh tế số; tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng.
Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu: 11.400,0 tỷ đồng, tăng 76,7% so với dự toán giao, tăng 67,0% so với cùng kỳ. Các cơ quan, đơn vị tăng cường phối hợp, tích cực tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho thông quan hàng hóa, kết hợp công tác kiểm soát, chống buôn lậu, gian lận thương mại, đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn khu vực cửa khẩu biên giới, thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn.
Các khoản huy động, đóng góp: 15,8 tỷ đồng.
Về chi ngân sách địa phương
Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện 11 tháng năm 2025 là 17.457,4 tỷ đồng, đạt 89,8% dự toán giao đầu năm, tăng 57,5% so cùng kỳ năm, trong đó: Chi trong cân đối ngân sách địa phương là 12.881,2 tỷ đồng, đạt 89,0% dự toán giao đầu năm và tăng 24,6% so với cùng kỳ. Chi các chương trình mục tiêu và một số nhiệm vụ khác 4.576,1 tỷ đồng đạt 92,3% dự toán, tăng 165,0% so với cùng kỳ.
Chi ngân sách địa phương được kiểm soát chặt chẽ, các khoản chi ngân sách đảm bảo đúng theo định mức, chế độ. Chi đầu tư phát triển được điều hành có trọng điểm, tập trung giải ngân cho các công trình chuyển tiếp, các dự án đã có khối lượng hoàn thành và một số công trình cấp thiết thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục, giao thông trên địa bàn các đơn vị hành chính mới sắp xếp. Việc giải ngân được thực hiện gắn với kiểm soát chặt chẽ tiến độ, hiệu quả đầu tư, tránh dàn trải, thất thoát. Các khoản chi thường xuyên được thực hiện tiết kiệm, có trọng tâm, ưu tiên chi cho hoạt động thiết yếu, chi trả lương và các khoản có tính chất lương, chi an sinh xã hội, tăng chủ yếu do tăng chi hỗ trợ khắc phục hậu quả bão lũ, chi tinh giản biên chế theo Nghị định của Chính phủ, chi mua sắm trang thiết bị, cơ sở vật chất, sửa chữa cải tạo trụ sở khi thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, hỗ trợ dịch tả lợn châu phí, chi các chế độ, chương trình, đề án của tỉnh, đảm bảo duy trì bộ máy hành chính sau sắp xếp vận hành thống suốt, đáp ứng yêu cầu hoạt động của các cơ quan, đơn vị.

6.2. Ngân hàng3
Các tổ chức tín dụng (TCTD) thực hiện công bố thông tin lãi suất cho vay, phí dịch vụ trên website của ngân hàng nhằm cung cấp thêm thông tin cho khách hàng tham khảo khi tiếp cận vốn vay; công khai quy trình, hồ sơ, áp dụng các thủ tục vay vốn đã được đơn giản hóa, tăng cường ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đẩy nhanh tiến độ xử lý hồ sơ của khách hàng; đưa ra nhiều gói tín dụng với lãi suất ưu đãi nhằm kích cầu tín dụng, nhất là cho vay tiêu dùng, cho vay nhà ở xã hội đối với người nghèo, người thu nhập thấp, tạo điều kiện thuậnlợi cho khách hàng trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng theo đúng quy định; triển khai các giảipháphỗ trợ người dân khắcphục ảnh hưởng của cơn bão số 10, 11; triển khai nhiệm vụ, giải pháp hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân, thực hiện các giải pháp góp phần nâng cao Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
Lãi suất huy động: Phổ biến ở mức 0,1-0,5%/năm đối với các khoản tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 1,5-4,0%/năm đối với kỳ hạn từ 1 đến dưới 6 tháng; 2,6-4,8%/năm đối với kỳ hạn từ 6 đến dưới 12 tháng; 3,65-5,8%/năm đối với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên.
Lãi suất cho vay VNĐ: Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên là 4,0%/năm. Lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh ở mức 7,1%/năm, giảm 0,6%/năm so với cuối năm 2024.
7. Một số tình hình xã hội
7.1. Giải quyết việc làm và bảo đảm an sinh xã hội4
Tổng số lượt người được tư vấn về chính sách pháp luật lao động, việc làm, định hướng nghề và giới thiệu việc làm là 4.834 lượt người giảm 18,71% so với cùng kỳ, luỹ kế năm 2025 là 38.815 lượt người; số người lao động đăng ký tìm việc làm 920 lượt người, luỹ kế năm 2025 là 2.806 lượt người; số người lao động được giới thiệu việc làm nhận được việc làm là 307 lượt người tăng 582,22% so với cùng kỳ, luỹ kế năm 2025 là 1.606 người.
Số người lao động xuất cảnh là 06 người; tham gia khoá học định hướng: 03 người; phối hợp cùng công Công ty TNHH Nhân sự Tường Kiến thị Bằng Tường, Quảng Tây, Trung Quốc tuyển dụng lao động đi làm việc tại thành phố Sùng Tả, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Tư vấn, giới thiệu việc làm 13 người, được xuất cảnh 13 người.
Số người nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp là là 420 người giảm 7,69% so với cùng kỳ, lũy kế từ đầu năm 2025 là 4.130 người; số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp là 359 người giảm 24,1% so với cùng kỳ, lũy kế từ đầu năm 2025 là 4.086 người; số người chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp là 380 người giảm 47,29% so với cùng kỳ.
7.2. Hoạt động y tế và sức khỏe cộng đồng5
Công tác khám, chữa bệnh: Khám chữa bệnh công lập, trong tháng 11 khám được 123.602 lượt, cộng dồn đạt 1.148.287/954.900 lượt đạt 120,3% kế hoạch năm; điều trị nội trú bệnh viện và lưu trú tại trạm y tế xã trong tháng 11 đạt 14.075 lượt, cộng dồn 139.100 lượt/162.445 đạt 85,6% kế hoạch năm; điều trị ngoại trú tháng 11 đạt 9.730lượt, cộng dồn 111.930/66.488 lượt đạt 168,3% kế hoạch năm. Khám chữa bệnh tại các phòng khám đa khoa ngoài công lập, trong tháng khám được 33.629 lượt, cộng dồn 284.034 lượt.
Công tác phòng chống dịch bệnh: Hoạt động y tế dự phòng, phòng chống dịch bệnh được duy trì. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 10 ổ dịch sốt xuất huyết với 64 ca mắc, 02 ca tử vong; các bệnh truyền nhiễm khác phân bố rải rác, không có yếu tố dịch tễ gây dịch hay ổ dịch.
Trong tháng, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 49 ổ dịch sốt xuất huyết với 215 ca mắc. Các bệnh truyền nhiễm khác phân bố rải rác, không có yếu tố dịch tễ gây dịch hay ổ dịch. Trong 11 tháng đầu năm 2025, trên địa bản tỉnh ghi nhận 60 ổ dịch sốt xuất huyết với 304 ca mắc, 02 ca tử vong (tính đến thời điểm 31/10/2025).
Công tác thông tin, tuyên truyền giáo dục sức khỏe tiếp tục đẩy mạnh thông qua các hình thức truyền thông trực tiếp và gián tiếp. Trong tháng duy trì thực hiện chuyên mục “Sức khỏe cộng đồng” trên báo Lạng Sơn, chuyên mục “Sức khoẻ đời sống” trên Đài Phát thanh truyền hình tỉnh, Website Sở Y tế. Tiếp tục huy động sự tham gia, phối hợp của các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể để nâng cao hiệu quả công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, vệ sinh môi trường, phòng chống bệnh tật, ATTP, phòng chống HIV/AIDS.
7.3. Giáo dục6
Tổ chức Hội nghị tập huấn về công tác tổ chức bữa ăn bán trú cho các trường tiểu học trên địa bàn tỉnh; Hội nghị triển khai đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ 2 trong trường học; Hội nghị sinh hoạt chuyên môn lần thứ nhất, bồi dưỡng thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông. Hội thảo Giáo dục STEM năm học 2025 – 2026; Tập huấn phương pháp dạy học sinh khuyết tật học hòa nhập cho cán bộ quản lý, giáo viên cấp tiểu học và trung học cơ sở. Tập huấn khung năng lực trí tuệ nhân tạo và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dạy học cho cán bộ quản lý, giáo viên các trường trung học cơ sở. Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ khảo thí năm học 2025-2026 và thi thử tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026. Triển khai khảo sát tình hình thực hiện công tác quản lý chất lượng tại các trường Phổ thông dân tộc nội trú.
7.4. Trật tự - An toàn giao thông7
Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Tổ chức thực hiện các đợt cao điểm trấn áp các loại tội phạm, phòng, chống tệ nạn xã hội. Triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với tội phạm. Trong tháng xảy ra 29 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 06 người, bị thương 26 người.
7.5. Môi trường
Trong tháng trên địa bàn tỉnh phát hiện 03 vụ vi phạm môi trường, tăng 01 vụ so với tháng trước, tăng 50,0% so với cùng kỳ; cộng dồn 11 tháng năm 2025 là 47 vụ, giảm 71,34% so với cùng kỳ, do thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức người dân. Trong tổng số vụ vi phạm phát hiện đã xử lý lũy kế từ đầu năm đến tháng báo cáo là 25 vụ; số tiền xử phạt lũy kế từ đầu năm đến tháng báo cáo là 1.050,7 triệu đồng.
7.6. Thiệt hại do thiên tai: Trong tháng, trên khu vực tỉnh không xảy ra thiên tai.
[1] Nguồn: Chi cục Hải quan khu vực VI.
[2] Nguồn: Sở Tài chính tỉnh Lạng Sơn.
[3] Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5.
[4] Nguồn: Sở Nội vụ tỉnh Lạng Sơn.
[5] Nguồn: Sở Y tế tỉnh Lạng Sơn.
[6] Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn.
[7] Nguồn: Công an tỉnh Lạng Sơn.
Tác giả bài viết: Thống kê tỉnh Lạng Sơn
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn