Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn tháng 02 năm 2026

Thứ ba - 03/03/2026 19:48
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện 2 tháng năm 2026 là 4.184,1 tỷ đồng, đạt 31,04% so với dự toán tỉnh giao, tăng 133,21% so với cùng kỳ.

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

1.1 Nông nghiệp

* Trồng trọt

Trong tháng 02, hoạt động trồng trọt chủ yếu thu hoạch các loại cây trồng vụ Đông với diện tích chủ yếu nhóm cây rau chính như bắp cải, su hào, rau cải các loại,... Đồng thời bà con tiến hành dọn cỏ, làm đất chuẩn bị cho gieo trồng các loại cây chính trong vụ Xuân. Diện tích gieo trồng một số cây hằng năm khác ước đạt 4.312,53 ha, tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chủ yếu cây khoai lang tăng 8,08% do khoai lang vụ đông trồng chủ yếu là để gây giống, hiện nay dịch tả lợn Châu Phi đã ổn định nhân dân trồng để lấy dây làm thức ăn chăn nuôi. Trồng rau các loại cộng dồn đến tháng thực hiện được 3.782,32 ha tăng 4,59% so với cùng kỳ. Rau cải ngồng là nhóm cây chủ lực trong dịp đầu năm, phù hợp điều kiện khí hậu, thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất khá và giá bán ổn định. Đây là các sản phẩm đặc trưng thường được tiêu thụ mạnh tại các điểm du lịch, nhà hàng, chợ trung tâm khi lượng khách đến với Lạng Sơn tăng cao trong mùa lễ hội.

* Chăn nuôi 

Trong tháng, dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm nhìn chung được kiểm soát, không phát sinh trên diện rộng. Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP) xảy ra tại 18 hộ/12 thôn/07 xã, tiêu hủy 62 con với tổng trọng lượng 2.470 kg; lũy kế từ đầu năm phát sinh tại 23 hộ/16 thôn/10 xã, tiêu hủy 71 con, 2.791 kg. Lấy 18 mẫu xét nghiệm DTLCP, kết quả 08 mẫu dương tính, 10 mẫu âm tính. Không ghi nhận ổ dịch lớn, không phát sinh diễn biến phức tạp. 

Công tác tiêm phòng thực hiện 9.781 lượt con trong tháng; lũy kế từ đầu năm 13.116 lượt con, đạt 05% so với cùng kỳ và kế hoạch; công tác giám sát dịch bệnh được duy trì thường xuyên đến cơ sở. 

Ước tính số lượng đàn trâu, đàn bò toàn tỉnh đến 28/02/2026 như sau: đàn trâu ước đạt 50.388 con, giảm 3,58% so với cùng kỳ năm trước, do chủ yếu là nuôi để bán thương phẩm không phục vụ cho mục đích cày kéo, thiếu nguồn lao động, giá bán trâu thương phẩm thấp và bấp bênh nên người dân không đầu tư nhiều; đàn bò ước đạt 27.551con, tăng 0,31% so với cùng kỳ năm trước. 

Đối với đàn lợn người dân đã tái đàn, tổng đàn lợn ước đạt 172.624 con, tăng 3,25% so với cùng kỳ năm trước. Các cơ quan chuyên môn thực hiện duy trì công tác giám sát dịch bệnh trên đàn vật nuôi, phát hiện sớm và xử lý dứt điểm các ổ bệnh phát sinh, không để lây lan diện rộng; đẩy mạnh tiêm phòng vắc xin theo kế hoạch, nâng cao tỷ lệ bao phủ. Hướng dẫn người chăn nuôi thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, phòng chống đói rét, chăm sóc, tái đàn phù hợp điều kiện thời tiết và thị trường.

Chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển ổn định đáp ứng nguồn cung thịt và trứng với tổng đàn gia cầm chính gồm gà, vịt, ngan ước đạt 4.347,09 nghìn con, tăng 2,88% so với cùng kỳ năm trước (Trong đó: đàn gà ước đạt 3.596,72 nghìn con, tăng 1,2% so với cùng kỳ). 

1.2. Lâm nghiệp

Công tác quản lý, sản xuất giống được duy trì tại 733 cơ sở, gieo ươm khoảng 52 triệu cây, trong đó 20 triệu cây đã xuất bán; công nhận mới 01 nguồn giống, nâng tổng số nguồn giống được công nhận còn hiệu lực lên 34 nguồn. Trồng rừng mới trong tháng ước đạt 119,5 ha. Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; theo dõi diễn biến rừng, quản lý chặt chẽ rừng tự nhiên, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về lâm nghiệp. Chỉ đạo thực hiện các chỉ tiêu trồng rừng, chăm sóc, khoanh nuôi, bảo vệ rừng; quản lý giống cây trồng lâm nghiệp, nguồn gốc lâm sản; kiểm soát hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến lâm sản. Tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy rừng. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng.

Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 17.676,54 m³ tăng 12,24% so với cùng kỳ năm trước, do thời tiết trong tháng 02/2026 khô ráo thuận lợi cho việc khai thác và vận chuyển gỗ và do rừng đến tuổi khai thác, chủ yếu là khai thác gỗ thông, keo, bạch đàn của các hộ gia đình. 

1.3. Thủy sản

Trong tháng 02/2026, diện tích nuôi trồng thủy sản tương đối ổn định, đối tượng nuôi trồng thủy sản phong phú, môi trường nuôi không bị ô nhiễm và không có dịch bệnh xảy ra. Lĩnh vực thủy sản tập trung tẩy dọn ao, chăm sóc cá lưu đông, hướng dẫn phòng chống dịch bệnh và xây dựng phương án sản xuất năm 2026, bảo đảm nguồn giống phục vụ nuôi trồng thủy sản trên địa bàn.

2. Sản xuất công nghiệp

2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 02/2026

* So với tháng trước

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 02/2026 giảm 15,43% so với tháng trước, cụ thể: ngành công nghiệp khai khoáng giảm 23,36%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 24,64%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 23,67%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 0,96%.

Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 23,36%, trong đó: khai thác than tăng 20,29%. Ngược lại, ngành khai khoáng khác giảm 29,85% do tháng 02/2026 trùng dịp Tết Nguyên đán xuân Bính Ngọ, thời gian sản xuất rút ngắn so với tháng trước, dẫn đến sản lượng khai thác đá xây dựng giảm.

 Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dự ước giảm 24,64% so với tháng trước. Phần lớn các ngành cấp 2 đều ghi nhận mức giảm. Nguyên nhân chủ yếu là do tháng 01/2026 là thời điểm cận Tết Nguyên đán, nhu cầu thị trường tăng cao vào dịp cuối năm nên các cơ sở sản xuất cá thể và doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất, nhận được nhiều đơn hàng. Sang tháng 02 là tháng Tết, số lượng đơn hàng giảm, đồng thời các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất cá thể nghỉ Tết, làm số ngày sản xuất trong tháng ít hơn, sản lượng sản xuất giảm. Cụ thể một số ngành giảm mạnh như: sản xuất đồ uống giảm 13,8%; sản xuất trang phục giảm 16,92%; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ giảm 13,78%; in sao chép bản ghi các loại giảm 10,46%; sản xuất hóa chất và sản phẩm từ hóa chất giảm 44,38%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 16,67%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại giảm 42,43%  sản xuất kim loại giảm 25,93%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học giảm 24,05%; sản xuất máy móc và thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 34,86%; sản xuất giường tủ bàn ghế giảm 16,84%; công nghiệp chế biến chế tạo khác giảm 18,69% Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chỉ số sản xuất tăng: Sản xuất giường tủ, bàn, ghế tăng 13,1% do tháng 01/2026 là thời điểm giáp Tết Nguyên đán xuân Bính Ngọ, nhu cầu mua sắm đồ dùng, nội thất gia đình tăng cao nên các cơ sở sản xuất cá thể đẩy mạnh sản lượng; sản xuất kim loại tăng 7,14%.

Ngành sản xuất và phân phối điện có chỉ số sản xuất điện tăng 23,67%; trong đó: điện sản xuất tăng 38,15% (tăng 13,34 triệu kWh) do tháng 01 Công ty Cổ phần Nhiệt điện Na Dương chỉ huy động 01 tổ máy( trong tổng 02 tổ máy) để sản xuất theo lệnh điều độ của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) nên mức nền so sánh  thấp. Mặt khác, tháng 2 nhu cầu sử dụng điện cho sinh hoạt và dịch vụ tăng cao trong dịp Tết, cùng với ảnh hưởng của thời tiết lạnh làm gia tăng nhu cầu sử dụng thiết bị sưởi ấm tại các hộ gia đình và cơ sở dịch vụ, do đó dự kiến sản lượng điện sản xuất tăng so với tháng trước. Điện thương phẩm giảm 13,22% (giảm 11,01 triệu kWh).

Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải nước thải có chỉ số sản xuất tăng 0,96%. Trong đó, khai thác, xử lý và cung cấp tăng 1,55%; hoạt động thoát nước và xử lý nước thải tăng 2,46%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải, tái chế phế liệu tăng 0,18% so với tháng trước.

* So với cùng kỳ

Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 4,45%, trong đó: hoạt động khai thác than cứng và than non giảm 49,62%; khai khoáng khác (chủ yếu là đá xây dựng) tăng 43,74%. Nguyên nhân là do nhu cầu đá phục vụ các công trình xây dựng, hạ tầng và san lấp mặt bằng tăng cao; đặc biệt là các dự án trọng điểm như Cao tốc cửa khẩu Hữu Nghị - Chi Lăng và Đồng Đăng – Trà Lĩnh. Trước nhu cầu vật liệu lớn và yêu cầu đảm bảo tiến độ, nhiều doanh nghiệp đã chủ động duy trì và đẩy mạnh hoạt động khai thác đá cả trước và sau Tết Nguyên đán, góp phần làm sản lượng khai thác đá tăng so với cùng kỳ. 

So với cùng kỳ năm trước, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,14%, chủ yếu do tác động của một số ngành: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 8,07% do nhu cầu tiêu thụ thực phẩm trong dịp têt tăng; sản xuất trang phục tăng 5,36% do các cơ sở may nhận được thêm nhiều đơn hàng so với năm trước; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 34,98% do Công ty Cổ phần Thương mại Sản xuất Da Nguyên Hồng nhận được thêm các đơn hàng gia công từ các doanh nghiệp trong nước; chế biến gỗ và sản phẩm sản xuất từ gỗ tăng 14% nhờ tận dụng tốt nguồn nguyên liệu trồng rừng ổn định; in, sao chép bản ghi các loại tăng 14,57% do công ty Cổ phần Thiên Ngân nhận thêm được nhiều đơn hàng so với cùng kỳ; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 31,58%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 61,93%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 12,98%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 74,72%; sản xuất giường tủ bàn ghế tăng 31,47%; công nghiệp chế biến chế tạo khác tăng 103,47%.

Một số nhóm ngành trong công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số sản xuất giảm, cụ thể: sản xuất hóa chất và sản phẩm từ hóa chất giảm 28,91% một phần là sản xuất hóa chất và sản phẩm từ hóa chất giảm 28,91%

Ngành sản xuất và phân phối điện giảm 0,75% so với cùng kỳ. Trong đó: điện sản xuất giảm 2,17%, tương đương giảm 1,07 triệu kWh; điện thương phẩm tăng 6,26%, tương đương tăng 4,26 triệu kWh.

Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,39%: Hoạt động khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 14,35%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 20,17%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải, tái chế phế liệu tăng 3,69% so với cùng kỳ.

* Cộng dồn 2 tháng năm 2026 so với cùng kỳ

Trong 2 tháng đầu năm 2026, tình hình sản xuất các ngành công nghiệp chủ yếu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn tăng khá so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, sản xuất điện giảm là yếu tố làm hạn chế mức tăng chung, song bù lại nhóm chế biến, chế tạo tăng khá, góp phần duy trì tăng trưởng toàn ngành. IIP dự ước cộng dồn 02 tháng đầu năm 2026 tăng 7,66%, trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 24,15%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,35%; ngành công nghiệp cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 6,59%; riêng ngành sản xuất và phân phối điện giảm 14,11% so với cùng kỳ.

 Sản lượng một số sản phẩm chủ lực của tỉnh: khai thác than tháng 02 ước đạt 24 nghìn tấn, giảm 49,62%, do nhu cầu tiêu thụ than của Công ty Nhiệt điện Na Dương giảm so với cùng kỳ. Sản phẩm ván ép từ gỗ và các vật liệu tương tự ước tăng 9,09%, do nguồn nguyên liệu gỗ rừng trồng tại địa phương ổn định. Sản phẩm xi măng Portland đen ước đạt 66,6 nghìn tấn, tăng 3,83% so với cùng kỳ, sản xuất sản phẩm xi măng cơ bản đáp ứng vật liệu xây dựng cho hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh và cung cấp cho một số tỉnh lân cận. Sản phẩm nước uống được ước đạt 1,01 triệu m3, tăng 14,35%. Sản lượng điện sản xuất tháng 02 ước đạt 48,31 triệu kWh, giảm 2,17% so với cùng kỳ.

Sản lượng khai thác than 2 tháng ước 43,95 nghìn tấn 

2.2. Chỉ số sử dụng lao động

Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 02/2026 tăng 1,15% so với tháng trước và tăng 0,97% so với cùng kỳ. 

Chia theo ngành: Chỉ số sử dụng lao động ngành khai khoáng tăng 5,32%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,56% so với cùng kỳ. Ngành sản xuất và phân phối điện giảm 0,43%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,62% so với cùng kỳ.

Chia theo loại hình sở hữu: chỉ số sử dụng lao động trong doanh nghiệp nhà nước giảm 13,23%, doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 15,06%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 8,54% so với cùng kỳ.

3. Đầu tư, xây dựng

3.1. Thực hiện vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước

Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh 2 tháng năm 2026 ước thực hiện 309,4 tỷ đồng, đạt 13,69% kế hoạch năm, giảm 56,88% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 281,1 tỷ đồng, giảm 57,28%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 28,3 tỷ đồng, giảm 52,54% so với cùng kỳ năm 2025. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước so cùng kỳ do năm nay nguồn vốn thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia chưa được phân bổ vốn để thực hiện.

 

* Tiến độ thực hiện một số dự án trên địa bàn tỉnh

Dự án Khu liên hợp thể thao (Hạng mục: Sân vận động trung tâm và nhà thi đấu đa năng), công trình có tổng mức đầu tư 500,3 tỷ đồng, lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 02/2026 ước thực hiện được 235,8 tỷ đồng, đạt 47,14% so với tổng mức đầu tư.

Dự án đường Lý Thái Tổ kéo dài và khu dân cư, tái định cư thành phố Lạng Sơn, tổng mức đầu tư 690,3 tỷ đồng, lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 02/2026 ước thực hiện được 179,8 tỷ đồng, đạt 26,04% tổng mức đầu tư. 

Dự án khu tái định cư, dân cư xã Hồ Sơn và xã Hoà Thắng, huyện Hữu Lũng tổng mức đầu tư 213,4 tỷ đồng, lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 02/2026 ước thực hiện được 198,5 tỷ đồng, đạt 93% tổng mức đầu tư.

3.2. Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Từ đầu năm đến hết tháng 01/2026, có 115 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 64,28% so với cùng kỳ. Tổng số vốn đăng ký kinh doanh là 532,9 tỷ đồng, giảm 19,23% so với cùng kỳ. Số doanh nghiệp gửi thông báo tạm ngừng hoạt động là 260 doanh nghiệp, tăng 18,72%; số doanh nghiệp thông báo giải thể là 14 doanh nghiệp, tăng 133,33% so với cùng kỳ.

4. Thương mại và dịch vụ

4.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh tháng 02/2026 ước đạt 3.917,27 tỷ đồng (chưa bao gồm doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông và chuyên môn khoa học), tăng 3,81% so với tháng trước và tăng 18,87% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 3.243,26 tỷ đồng tăng 4,58% so với tháng trước và tăng 19,84% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 408,37 tỷ đồng, tăng 0,91% với tháng trước và tăng 19,20% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lữ hành ước đạt 1,27 tỷ đồng, tăng 8,33% so với tháng trước và tăng 28,61% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 264,37 tỷ đồng, giảm 0,71% so với tháng trước và tăng 18,82% so với cùng kỳ.

* Tổng mức bán lẻ hàng hóa  

So với tháng trước: bán lẻ hàng hóa tháng 02/2026 ước tính đạt 3.243,26 tỷ đồng, tăng 4,58% với tháng trước và tăng 19,84% so với cùng kỳ. Các nhóm mặt hàng tăng như: Nhóm tăng cao hơn mức tăng chung gồm: Nhóm hàng hóa khác tăng 7,91%; may mặc tăng 7,68%; lương thực, thực phẩm tăng 6,92% và xăng dầu tăng 5,52% là các nhóm tăng cao, phản ánh nhu cầu tiêu dùng thiết yếu và hoạt động lưu thông hàng hóa phục hồi; dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 4,12% ; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 4,38%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 3,17%; Đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 1,56%.

So với cùng kỳ: tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 02 tăng 19,84%, trong đó các nhóm ngành hàng đều ghi nhận mức tăng trên 10% cho thấy tổng cầu tiêu dùng được cải thiện. Đặc biệt nhóm ngành đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 117,15% do mặt bằng giá trên thị trường tăng cao làm giá trị doanh thu danh nghĩa tăng tương ứng. Ngoài yếu tố giá, sự khác biệt về thời điểm Tết cũng là nguyên nhân quan trọng: cùng kỳ năm trước rơi vào giai đoạn sau Tết nên sức mua giảm nhiệt, trong khi năm 2026 trùng dịp Tết Nguyên đán, hoạt động mua sắm, thanh toán và tích trữ hàng hóa diễn ra sôi động hơn, qua đó làm mức tăng trưởng so với cùng kỳ đạt cao. 

Tổng mức bán lẻ hàng hóa 2 tháng đầu năm ước đạt 6.344,52 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước tăng 17,93%. Hầu hết nhóm ngành hàng đều có mức tăng trên 10%, cho thấy xu hướng phục hồi và mở rộng của thị trường tiêu dùng, phản ánh hiệu quả của các giải pháp điều hành giá, bình ổn thị trường, đảm bảo cung cầu hàng hóa và thúc đẩy thương mại.

* Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành

Trong tháng 02/2026, hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành trên địa bàn tỉnh tăng mạnh so với tháng trước do trùng với cao điểm Tết Nguyên đán – thời điểm có nhu cầu đi lại, du xuân, tham quan và nghỉ dưỡng lớn nhất trong quý I. Đây là giai đoạn tập trung các hoạt động lễ hội đầu năm, du lịch tâm linh, trải nghiệm văn hóa và vui chơi giải trí, tạo động lực thúc đẩy toàn bộ chuỗi dịch vụ du lịch phát triển sôi động.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 02/2026 ước đạt 408,37 tỷ đồng, tăng 0,91% so với tháng trước và tăng 11,67% so với cùng kỳ. Chia ra: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 28,84 tỷ đồng, tăng 2,85% so với tháng trước và tăng 13,25% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 379,53 tỷ đồng, tăng 0,76% so với tháng trước và tăng 11,55% so với cùng kỳ.

 Doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 1,27 tỷ đồng, tăng 8,33% so với tháng trước và tăng 28,61% so với cùng kỳ.

Cộng dồn 2 tháng đầu năm, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 813,08 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước tăng 14,79%. Dịch vụ lữ hành ước đạt 2,45 tỷ đồng, tăng 22,44%. Tất cả các nhóm ngành hàng đều có mức tăng trên 10% cho thấy sức mua và nhu cầu tiêu dùng của người dân đang phục hồi tích cực, đồng thời phản ánh sự khởi sắc rõ nét của ngành du lịch trong giai đoạn đầu năm.

* Doanh thu dịch vụ khác

Doanh thu dịch vụ khác 2 tháng đầu năm ước đạt 264,37 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước tăng 16,82%.

4.2. Vận tải

Dự ước doanh thu vận tải, kho bãi tháng 02/2026 đạt 423,1 tỷ đồng, tăng 6,83% so với tháng trước và tăng 18,18% so với cùng kỳ. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 32,53 tỷ đồng, tăng 4,01% so với tháng trước và tăng 13,99% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 211,54 tỷ đồng, tăng 6,88% so với tháng trước và tăng 17,10% so với cùng kỳ; doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 174,2 tỷ đồng, tăng 7,38% so với tháng trước và tăng 20,21% so với cùng kỳ; doanh thu hoạt động bưu chính, chuyển phát ước đạt 4,83 tỷ đồng, tăng 4,74% so với tháng trước và tăng 23,75% so với cùng kỳ.

 

Cộng dồn 2 tháng đầu năm, dự ước doanh thu vận tải đạt 819,14 tỷ đồng, tăng 14,41% so với cùng kỳ. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách đạt 63,81 tỷ đồng, tăng 12,7% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hoá đạt 409,46 tỷ đồng, tăng 13,37% so với cùng kỳ; doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 336,43 tỷ đồng, tăng 15,88% so với cùng kỳ; doanh thu hoạt động bưu chính, chuyển phát đạt 9,4 tỷ đồng, tăng 20,17% so với cùng kỳ.

5. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ 

5.1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 

* Chỉ số giá tiêu dùng so với tháng trước: Chỉ số giá trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn tăng 1,37%, nhìn chung các mặt hàng tiêu dùng đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, cả 11 nhóm hàng có chỉ số giá tăng (hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,37%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,25%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,40%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,92%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,37%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; giao thông tăng 1,29%; thông tin và truyền thông tăng 0,69%; giáo dục tăng 0,29%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,39%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 1,21%).

 

Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,37% so với tháng trước. Trong đó chỉ số giá nhóm lương thực tăng 0,80%; chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 2,96%; chỉ số giá nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 0,96%.

Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá cũng tăng 0,25%; Chỉ số giá nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,40%; Chỉ số giá nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,92%. Nguyên nhân chính do nhu cầu tiêu thụ điện trong Tết Nguyên đán tăng, kéo theo sản lượng điện sinh hoạt tăng, chỉ số giá điện tăng.

Chỉ số giá nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,37% do nhu cầu mua sắm các thiết bị giải trí gia đình, chuẩn bị cho Tết tăng; chỉ số giá nhóm giáo dục  tăng 0,29%; chỉ số giá nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 1,21%.

Chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,01%; chỉ số giá nhóm giao thông tăng 1,29%, nguyên nhân chủ yếu do giá xăng dầu tăng so với tháng trước Chỉ số giá nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,69%; Chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,39% do nhu cầu du lịch trong dịp Tết Nguyên đán tăng 

* Chỉ số giá tiêu dùng so với cùng kỳ: Chỉ số giá tháng 02/2026 tăng 0,97%,  Cả 10 nhóm hàng tiêu dùng đều tăng giá, 01 nhóm giảm giá so với cùng kỳ cụ thể: Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,43%, (lương thực tăng 0,16%, thực phẩm tăng 7,43%; ăn uống ngoài gia đình tăng 6,46%); đồ uống và thuốc lá tăng 2,40%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,56%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,2%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,61%; nhóm thuốc và dụng cụ y tế tăng 0,22; nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,97%; nhóm giáo dục tăng 0,73%; nhóm văn hoá, giải trí, du lịch tăng 2,70%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 2,52%; nhóm giao thông giảm 3,44%.

* Chỉ số giá 02 tháng năm 2026 tăng 2,35%  gồm 10  nhóm tăng giá và 01 nhóm giảm giá. Cụ thể:

Chỉ số giá các nhóm hàng tăng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,22%,. Do nhu cầu tiêu thụ tăng nên giá nhiều mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng so với cùng kỳ năm trước như thịt lợn, rau xanh, thuỷ sản chế biến,... Nhóm đồ uống, thuốc lá tăng 2,36%. Nhóm may mặc, mũ nón giày dép tăng 2,40%. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,97%. Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,49%. Thuốc và dụng cụ y tế tăng 0,22%. Nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,6. Nhóm giáo dục tăng 0,59%. Nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,01%. Nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 1,96%.

Nhóm hàng có CPI bình quân chung 2 tháng đầu năm giảm so với cùng kỳ là nhóm giao thông, giảm 3,93%. Nguyên nhân chính do giá xăng dầu giảm mạnh so với cùng kỳ.

5.2. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Tháng 02/2026, giá vàng trong nước tiếp tục biến động tăng, giảm theo giá vàng thế giới. Trên xu hướng giá vàng trong nước tăng trong thời gian qua, chỉ số giá vàng trên địa bàn tăng 11,91% so với tháng trước, tăng 82,75% so với cùng kỳ năm trước, so với giá gốc 2024 tăng 128,79%. 

Trong tháng 02/2026, đồng đô la Mỹ giảm 0,84% so với tháng trước, tăng 2,86% so với cùng kỳ năm trước, so với năm gốc năm 2024 tăng 4,30%

6. Tài chính, ngân hàng 

6.1. Tài chính1

Về thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện 2 tháng năm 2026 là 4.184,1 tỷ đồng, đạt 31,04% so với dự toán tỉnh giao, tăng 133,21% so với cùng kỳ. Trong đó:

Thu nội địa: 1.039,5 tỷ đồng, đạt 26,83% dự toán tỉnh giao, tăng 68,37% so với cùng kỳ. Do các cấp, các ngành triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026; Tình hình sản xuất công nghiệp, thương mại và dịch vụ ổn định, giá cả được kiểm soát, thị trường bình ổn.

Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu: 3.143,6 tỷ đồng, đạt 32,75% so với dự toán giao, tăng 167,57% so với cùng kỳ. Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá diễn ra sôi động, thông suốt qua các cửa khẩu trên địa bàn tỉnh. Việc giao nhận hàng hóa qua các cửa khẩu được thực hiện đầy đủ theo các cam kết trong hiệp định, thỏa thuận, nghị định thư liên quan về vận tải đường bộ Việt - Trung và các quy định của pháp luật. Nhờ đó, hàng hóa được thông quan thuận lợi và gia tăng nhanh chóng về lượng phương tiện vận chuyển hàng hóa qua lại biên giới.

Các khoản huy động, đóng góp: 1,0 tỷ đồng.

Về chi ngân sách địa phương

Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện 2 tháng năm 2026 là  2.099,4 tỷ đồng, đạt 13,1% dự toán giao đầu năm, tăng 19,40% so với cùng kỳ, trong đó: Chi trong cân đối ngân sách địa phương là 1.954,4 tỷ đồng, đạt 13,6% dự toán, tăng 25,20% so với cùng kỳ. Chi các chương trình mục tiêu và một số nhiệm vụ khác là 145,0 tỷ đồng đạt 9,2% dự toán, giảm 26,30% so với cùng kỳ.

Chi ngân sách địa phương được thực hiện kiểm soát chặt chẽ các khoản chi ngân sách bảo đảm đúng định mức, chế độ. Chi đầu tư phát triển chủ yếu giải ngân cho các công trình chuyển tiếp, các dự án đã có khối lượng hoàn thành. Việc giải ngân được thực hiện gắn với kiểm soát chặt chẽ tiến độ, hiệu quả đầu tư, tránh dàn trải, thất thoát. Các khoản chi thường xuyên được thực hiện tiết kiệm, có trọng tâm, ưu tiên chi cho hoạt động thiết yếu, chi trả lương và các khoản có tính chất lương, chi an sinh xã hội.

 

6.2. Ngân hàng2

Các tổ chức tín dụng (TCTD) thực hiện thực hiện các cơ chế chính sách theo đúng chủ trương của Đảng, Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; các Thông tư, văn bản hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam. Tập trung thực hiện các giải pháp tăng trưởng tín dụng, chủ động kế hoạch huy động, cân đối nguồn vốn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng phục vụ vụ phát triển sản xuất, kinh doanh và nhu cầu tiêu của người dân,doanh nghiệp; đẩy mạnh tín dụng xuất khẩu, phát triển kinh tế tư nhân, doanhnghiệp nhỏ và vừa, tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn…

Tình hình thực hiện lãi suất: Lãi suất huy động của các Ngân hàng thương mại có xu hướng tăng. Lãi suất cho vay vẫn được duy trì ổn định nhằm tích cực hỗ trợ doanh nghiệp, người dân phục hồi sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đồng thời đưa ra nhiều gói tín dụng với lãi suất ưu đãi nhằm kích cầu tín dụng; công bố thông tin lãi suất cho vay trên trang website của ngân hàng nhằm cung cấp thêm thông tin cho khách hàng tham khảo khi tiếp cận vốn vay. Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên là 4,0%/năm; lãi suất cho vay bình quân của các TCTD trên địa bàn tỉnh ở mức 7,38%/năm.

Nguồn vốn huy động của các TCTD trên địa bàn tỉnh đến 31/01/2026 đạt 58.645 tỷ đồng, tăng 1,36% so với cuối năm 2025; đến 28/02/2026 ước đạt 59.100 tỷ đồng, tăng 15,49% so với cùng kỳ, tăng 2,14% so với 31/12/2025.

Dư nợ của các TCTD trên địa bàn tỉnh đến 31/01/2026 đạt 53.451 tỷ đồng, chiếm 22,64%/tổng dư nợ các TCTD trên địa bàn Khu vực 5, tăng 0,85% so với cuối năm 2025. Đến 28/02/2026 ước đạt 53.800 tỷ đồng, chiếm 22,67%, tăng 16,61% so với cùng kỳ, tăng 1,51% so với cuối năm 2025. 

7. Một số tình hình xã hội

7.1. Giải quyết việc làm và bảo đảm an sinh xã hội3

Tổng số lượt người được tư vấn về chính sách pháp luật lao động, việc làm, định hướng nghề và giới thiệu việc làm là 2.245 lượt người giảm 19,33% so với cùng kỳ; luỹ kế năm 2026 là 323lượt người. Số người lao động đăng ký tìm việc làm 169 lượt người tăng 77,89 % so với cùng kỳ. Số người có nhu cầu đăng ký tìm việc làm là 157 lượt người; số người lao động được giới thiệu việc làm nhận được việc là là 20 người giảm 72,97 % so với cùng kỳ; luỹ kế năm 2026 là 90 lượt người.

Số người nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp là 192 người giảm 2,54% so với cùng kỳ; lũy kế từ đầu năm 2026 là 461 người. Số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp là 215 người giảm 11,16% so với cùng kỳ; lũy kế từ đầu năm 2026 là 402 người. Số người chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp là 339 người giảm 1,45% so với cùng kỳ. Số tiền trợ cấp thất nghiệp theo quyết định là 4.537,7 tỷ đồng, tăng 21,06% so với cùng kỳ; lũy kế từ đầu năm 2026 là 11.761,4 tỷ đồng. Số người được điều chỉnh hưởng trợ cấp thất nghiệp là 25; lũy kế từ đầu năm 27 người.

7.2. Hoạt động y tế và sức khỏe cộng đồng4

Công tác khám, chữa bệnh: Khám chữa bệnh công lập, trong tháng 02 khám được 61.052 lượt, lũy kế 103.674  lượt; điều trị nội trú bệnh viện và lưu trú tại trạm y tế xã trong tháng đạt 9.639 lượt, lũy kế 21.786 lượt, điều trị ngoại trú đạt 3.976 lượt, lũy kế 38.500 lượt. Khám chữa bệnh tại các cơ sở ngoài công lập trong tháng khám được 31.697 lượt, lũy kế 66.814 lượt; khám sức khỏe 2.863 lượt, lũy kế 5.931 lượt.

Công tác phòng chống dịch bệnh: Công tác phòng chống dịch bệnh được thực hiện tốt, không xảy ra dịch bệnh lớn hay tử vong do bệnh truyền nhiễm. Trong tháng ghi nhận 03 ca dịch Covid- 19, 02 ca tay chân miệng, 03 ca dịch bệnh sởi... Các bệnh truyền nhiễm khác phân bố rải rác trên địa bàn tỉnh 65/65 xã, phường không có yếu tố dịch tễ gây dịch hay ổ dịch.

Công tác thông tin, tuyên truyền giáo dục sức khỏe tiếp tục đẩy mạnh thông qua các hình thức truyền thông trực tiếp và gián tiếp. Trong tháng duy trì thực hiện chuyên mục “Sức khỏe cộng đồng” trên báo Lạng Sơn, chuyên mục “Sức khoẻ đời sống” trên Đài Phát thanh truyền hình tỉnh, Website Sở Y tế. Tiếp tục huy động sự tham gia, phối hợp của các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể để nâng cao hiệu quả công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, vệ sinh môi trường, phòng chống bệnh tật, ATTP, phòng chống HIV/AIDS.

7.3. Hoạt động văn hoá, thể thao và du lịch5

Về nghệ thuật biểu diễn: Tính đến ngày 11/02/2026 đã thực hiện biểu diễn được 05/110 chương trình nghệ thuật chuyên nghiệp theo kế hoạch năm 2026 phục vụ các Sở, ban, ngành và nhân dân vùng sâu, vùng xa.  

Về điện ảnh: Các tổ chiếu bóng lưu động thực hiện được 137 buổi chiếu; đến được 137 lượt thôn; 14 lượt xã; tuyên truyền được 800 lượt; lượt nghe xem: 12.000 lượt người. Tính đến thời điểm hiện tại các tổ chiếu bóng lưu động đã chiếu được 276/1.670 buổi chiếu, đạt 16% kế hoạch năm 2026.

Về thể dục, thể thao: Tiếp tục theo dõi đôn đốc tổ chức Đại hội thể dục thể thao các cấp tỉnh Lạng Sơn lần thứ X năm 2026. Kết quả đã có 44/65 xã, phường tổ chức Đại hội thể dục thể thao cấp xã; đạt tỉ lệ 67,6%. Tổ chức Hội thi Lân sư rồng tỉnh Lạng Sơn mở rộng, Đua bè mảng trên sông Kỳ Cùng, giải chạy “Cung đường hoa đào” tỉnh Lạng Sơn trong khuôn khổ Lễ hội hoa Đào và các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Xây dựng Điều lệ môn Pickleball; Kế hoạch ngày chạy Olympic vì sức khoẻ toàn dân; Kế hoạch phát động thi đua chào mừng 80 năm kỷ niệm Ngày Thể thao Việt Nam; Điều lệ giải bóng đá, cán bộ công chức, viên chức tỉnh Lạng Sơn năm 2026. Tham dự giải Bóng đá mùa xuân giữa khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây Trung Quốc và 5 tỉnh, thành phố của Việt Nam (từ ngày 6 - 12/2/2026). Xây dựng Kế hoạch giao hữu thể thao với Thị Bằng Tường, Quảng Tây, Trung Quốc.

Về du lịch: Tổng lượng khách tháng 02/2026 đạt 475.000 lượt khách, tăng 1,1% so với cùng kỳ, đạt 10,1% so với kế hoạch năm 2026. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026: đạt 872.000 lượt khách, tăng 6,3% so với cùng kỳ, đạt 18,6% so với kế hoạch năm 2026. Trong đó: khách quốc tế đạt 39.000 lượt khách, tăng 25,8 % so với cùng kỳ, đạt 7,1% so với kế hoạch năm 2026; khách trong nước đạt  833.000 lượt khách, tăng 5,6% so với cùng  kỳ, đạt 20,1% so với kế hoạch năm 2026. Tổng thu ước đạt 810 tỷ đồng, tăng 19,3% so với cùng kỳ, đạt 16,5% so với kế hoạch năm 2026.

7.4. Giáo dục6

Tổ chức Hội thảo về tổ chức dạy học hai buổi/ngày năm học 2025 - 2026. Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng theo hình thức kết nối trực tuyến. Tổ chức xét tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú cấp Sở. Tổ chức khảo sát, thống kê các đối tượng quy định bồi dưỡng công tác Giáo dục quốc phòng và an ninh năm 2026. Tham gia Đoàn đại biểu tỉnh tham dự Chương trình Gặp gỡ đầu Xuân năm 2026 và Hội nghị lần thứ 17 Ủy ban công tác liên hợp tại Quảng Tây, Trung Quốc. Tổ chức công tác kiểm tra, đánh giá và công nhận phổ cập giáo dục,  xoá mù chữ năm 2025. Tổ chức thi chọn học sinh giỏi lớp 12 cấp tỉnh năm học 2025 - 2026.

7.5. Trật tự - An toàn giao thông7

Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với tội phạm. Trong tháng xảy ra 23 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 06 người, bị thương 16 người.

7.6. Môi trường

Trong tháng trên địa bàn tỉnh phát hiện 01vụ vi phạm môi trường, giảm 03 vụ so với tháng trước, giảm 75,0% so với cùng kỳ, do thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức người dân. Trong tổng số vụ vi phạm phát hiện đã xử lý 02 vụ với số tiền xử phạt là 303 triệu đồng, lũy kế là 647 triệu đồng.

7.7. Thiệt hại do thiên tai: Trong tháng, trên khu vực tỉnh không xảy ra thiên tai.


 

[1] Nguồn: Sở Tài chính tỉnh Lạng Sơn.

[2] Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5.

[3] Nguồn: Sở Nội vụ tỉnh Lạng Sơn.

[4] Nguồn: Sở Y tế tỉnh Lạng Sơn.

[5] Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

[6] Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn

[7] Nguồn: Công an tỉnh Lạng Sơn.

 

Tác giả bài viết: Thống kê tỉnh Lạng Sơn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây