Ngay từ đầu năm, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt việc thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2025. Thực hiện chủ trương tập trung cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, tạo bước chuyển biến mới trong thu hút đầu tư, tỉnh tích cực hỗ trợ các tập đoàn, doanh nghiệp triển khai các dự án đầu tư trọng điểm. Hoạt động thương mại diễn ra sôi động, giá cả các mặt hàng cơ bản ổn định, hàng hóa phong phú, đa dạng, bảo đảm phục vụ nhu cầu của người dân, không có hiện tượng thiếu hàng cũng như tăng giá đột biến. Hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì tại cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị, Ga đường sắt quốc tế Đồng Đăng, cửa khẩu chính Chi Ma, các cửa khẩu phụ Tân Thanh… Cuối tháng 6 và cuối tháng 9 do ảnh hưởng của mưa lớn tỉnh Lạng Sơn có một số điểm bị ngập úng. Tuy nhiên, do làm tốt công tác phòng chống lụt bão, phòng chống thiên tai nên sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn đảm bảo theo khung thời vụ, vật tư phân bón, giống cây trồng được đáp ứng đầy đủ. Kết quả tình hình kinh tế - xã hội tháng 9, quý III và 9 tháng năm 2025 đạt được một số kết quả như sau:
1. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)
1.1. Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước tính quý III năm 2025 tăng 8,69%; 9 tháng năm 2025 tăng 8,41% so với cùng kỳ. Trong mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế 9 tháng năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 6,30%, đóng góp 1,33 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,17%, đóng góp 2,90 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực dịch vụ tăng 7,68%, đóng góp 3,87 điểm phần trăm vào mức tăng chung; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,76%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm vào mức tăng chung.
1.2. Cơ cấu kinh tế
Quy mô GRDP theo giá hiện hành ước tính đạt 41.240 tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng: Nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 20,51%, công nghiệp và xây dựng 28,06%, dịch vụ 47,22%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 4,21%.
GRDP THEO GIÁ HIỆN HÀNH 9 THÁNG NĂM 2025

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
2.1. Nông nghiệp
* Cây hằng năm: Từ đầu vụ Mùa, thời tiết cơ bản thuận lợi cho công tác gieo trồng và chăm sóc cây trồng, có nhiều đợt mưa lớn, kịp thời cung cấp đầy đủ nước tưới. Trong tháng, cơ bản đã hoàn thành kế hoạch gieo trồng vụ Mùa, tiến hành thu hoạch một số cây hoa màu. Các đối tượng dịch hại trên cây trồng có mật độ, tỷ lệ gây hại thấp, mức độ gây hại nhẹ. Đến nay, cây lúa diện tích gieo trồng ước thực hiện được 47.513,6 ha, giảm 0,67% so với cùng kỳ; diện tích gieo trồng ngô ước thực hiện 20.062,8 ha, tăng 0,24% so với cùng kỳ; cây khoai lang diện tích gieo trồng ước thực hiện 1.413,2 ha, tăng 3,94% so với cùng kỳ; rau các loại trồng ước thực hiện được 8.773,6 ha, tăng 1,62% so với cùng kỳ.
* Cây lâu năm: Tổng diện tích cây lâu năm toàn tỉnh hiện có ước đạt 55.242,8 ha, tăng 2,67% so với cùng kỳ, trong đó nhóm cây gia vị, dược liệu lâu năm có tỷ trọng lớn nhất chiếm 66,49% trên tổng diện tích cây lâu năm toàn tỉnh. Trong đó:
Cây hồi diện tích ước đạt 36.224,5 ha, tăng 3,59%, sản lượng ước đạt 16.186,24 tấn, tăng 3% so với cùng kỳ. Diện tích cây hồi tăng, do giá bán ổn định (hoa hồi khô vụ tứ quý giá bán từ 115.000 - 117.000 đồng/kg, hoa hồi khô vụ mùa giá bán từ 130.000 - 140.000 đồng/kg); cây trồng phù hợp với điều kiện khí hậu thổ nhưỡng của địa phương, hưởng lợi lâu dài, các sản phẩm từ cây hoa hồi mang lại nguồn thu nhập cao cho người dân góp phần cải thiện, chất lượng cuộc sống của người dân.
Cây na diện tích ước đạt 4.595,7 ha tăng 1,15% so với cùng kỳ, sản lượng ước đạt 38.297,02 tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ. Sản lượng na hiện vẫn đang được bà con thu hoạch rải rác đến hết tháng 10 âm lịch, do bà con áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, thụ phấn và hạn chế được tình hình sâu bệnh, chất lượng và giá bán na gối vụ cao hơn na chính vụ từ đó mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.
Diện tích hồng ước đạt 2.270,0 ha, tăng 4,05% so với cùng kỳ, sản lượng thu hoạch ước đạt 9.161,36 tấn. Những năm gần đây cây hồng Vành khuyên là cây mang lại giá trị kinh tế lớn, nên người dân mở rộng diện tích trồng mới. Giá bán trên thị trường tương đối cao và ổn định (từ 30.000 - 40.000 đồng/kg).

* Chăn nuôi
Tổng đàn trâu: Ước tính số lượng trâu hiện có 48.464 con, giảm 13,70% so với cùng kỳ, do thiếu nhân lực chăm sóc và môi trường chăn thả bị thu hẹp; việc làm đất được cơ giới hoá thay cho sức cày kéo của trâu, giúp tiết kiệm thời gian, sức lực, đem lại hiệu quả cao.
Tổng đàn bò: Ước tính số lượng bò hiện có 28.523 con, giảm 1,37% so với cùng kỳ. Các mô hình phát triển chăn nuôi bò thịt, kết hợp xử lý chất thải làm phân bón hữu cơ hiện đã và đang thực hiện đầu tư có hiệu quả.
Tổng đàn lợn: Ước tính số lượng lợn hiện có 179.271 con, giảm 5,77% so với cùng kỳ, chủ yếu do ảnh hưởng của bệnh dịch tả lợn châu Phi (DTLCP). Đến đầu tháng 9/2025, bệnh DTLCP đã giảm lây lan, phát sinh các ca nhiễm mới.
Tổng đàn gia cầm: Phát triển tốt, công tác phòng chống dịch bệnh luôn được quan tâm, ước tính số lượng đầu con hiện có là 5.006,4 nghìn con, tăng 6,35% so với cùng kỳ. Giá thức ăn chăn nuôi nhìn chung vẫn ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tái đàn. Việc quy hoạch, tập trung phát triển các mô hình, trang trại quy mô nuôi lớn theo hướng an toàn sinh học giúp hạn chế nguy cơ dịch bệnh được tiếp tục duy trì như: Hợp tác xã sản xuất dịch vụ nông nghiệp Bích Phượng, hợp tác xã nông nghiệp sạch Phát Huy, Hợp tác xã nông nghiệp Bắc Lãng, Hợp tác xã nông nghiệp Thành Đạt, Hợp tác xã sản xuất dịch vụ nông nghiệp...

2.2. Lâm nghiệp
Công tác chăm sóc, bảo vệ rừng được quan tâm, duy trì. Diện tích rừng trồng mới tập trung 9 tháng ước thực hiện 8.636 ha, tăng 2,75% so với cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước thực hiện được 395 nghìn m3 tăng 12,36% so với cùng kỳ, do rừng trồng ngày càng được quan tâm đầu tư giống và chăm sóc tốt, cây rừng phát triển nhanh, rút ngắn chu kỳ trồng rừng (Rừng 4 - 5 năm đã cho khai thác) chủ yếu là gỗ nhóm 4, 5, 6, 7.
2.3. Thủy sản
Tình hình nuôi trồng và khai thác thủy sản sản ổn định, không có dịch bệnh nguy hiểm xảy ra. Thời tiết mưa nhiều, lượng nước tại các sông, suối, ao hồ tăng, tạo môi trường thuận lợi cho sinh trưởng, phát triển nuôi trồng, khai thác thuỷ sản.
3. Sản xuất công nghiệp
3.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 9 năm 2025 so với với cùng kỳ
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 9 năm 2025 tăng 21,18% Nguyên nhân chủ yếu là do nhiều cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng, nhu cầu tiêu thụ tăng và một số dự án đầu tư, xây dựng được triển khai, góp phần thúc đẩy sản lượng sản xuất. Đây là mức tăng tương đối cao, cho thấy ngành công nghiệp của tỉnh đang dần vượt qua khó khăn của năm 2024 và tiếp tục duy trì đà phục hồi tích cực.
Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 34,01%. Chủ yếu tăng ở ngành hoạt động khai thác than cứng và than non tăng 90,47%, do Công ty Nhiệt điện Na Dương tăng sản lượng điện nhờ giá nhiên liệu đầu vào ổn định hơn; hoạt động khai khoáng khác tăng 19,35%, do năm 2025 tỉnh có nhiều dự án công trình lớn được triển khai, nhu cầu về đá xây dựng tăng.
Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,28% so với cùng kỳ. Do một số ngành sản xuất có mức tăng khá, góp phần thúc đẩy đà phục hồi chung của toàn ngành, như: Ngành sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 38,89%, sản lượng tăng mạnh so với cùng kỳ; ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 34,59%; ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 25,19%, khi các cơ sở sản xuất cá thể trên địa bàn mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng các hợp đồng gia công mới; ngành sản xuất thiết bị điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 77,42%, chủ yếu nhờ Công ty TNHH Thực Giai Việt Nam dự kiến nhận thêm nhiều đơn hàng trong tháng 9, qua đó đẩy mạnh sản xuất.
Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 58,77%, tăng chủ yếu ở điện sản xuất, tăng 76,06%, do giá than ổn định hơn so với năm trước, doanh nghiệp tăng sản lượng điện sản xuất nên sản lượng tăng cao so với cùng kỳ.
Trong ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,72%. Hoạt động khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm tăng 0,34%, thoát nước và xử lý nước thải tăng 1,8%, hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải; tái chế phế liệu tăng 3,59% so với cùng kỳ.
3.2. Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2025 so với với cùng kỳ
Chỉ số sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh dự ước 9 tháng năm 2025 tăng 6,98%. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 16,6%, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,28%, ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 10,11%, ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 1,78%, ngành khai thác than cứng và than non ước tăng 20,29%, khai khoáng khác ước tăng 14,74%, ngành chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 11,51% ; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 25,77%; Sản xuất sản phẩm từ cao su, plastic tăng 16,85%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 15,28%.
Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong duy trì và thúc đẩy tăng trưởng sản xuất toàn ngành. Than đá (than cứng loại khác) là sản phẩm chủ lực hàng đầu, đạt sản lượng 349.159 tấn, tăng 20,29% so với cùng kỳ. Đây là sản phẩm có vai trò quan trọng trong cung ứng cho hoạt động phát điện của Công ty Nhiệt điện Na Dương và đáp ứng nhu cầu năng lượng khu vực. Đá xây dựng các loại ước đạt mức sản lượng 3,87 triệu m³, tăng 14,74% so với cùng kỳ, phản ánh nhu cầu vật liệu xây dựng phục vụ các dự án hạ tầng và dân sinh trên địa bàn tăng mạnh. Bên cạnh đó, Clanhke xi măng và Xi măng Portland đen tiếp tục giữ vị trí chủ lực trong nhóm vật liệu xây dựng, với sản lượng lần lượt đạt 588.350 tấn và 1.014.302 tấn, đều tăng trên 20% so với cùng kỳ, cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ của ngành xi măng sau giai đoạn sản xuất gián đoạn trong năm trước. Sản lượng điện sản xuất đạt 539,65 triệu kWh, tăng 10,8%, tiếp tục bảo đảm nhu cầu năng lượng cho sản xuất và sinh hoạt.
Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số giảm như: Sản xuất kim loại giảm 38,78% do Công ty Cổ phần Kim loại màu Bắc Bộ khó khăn trong việc nhập được nguyên liệu chì để sản xuất sản phẩm do chính sách thuế mới nên giảm sản lượng so cùng kỳ; Sản xuất da và sản phẩm có liên quan giảm 20,6% do Công ty Cổ phần Thương mại Sản xuất Da Nguyên Hồng nhận ít đơn hàng nên sản lượng giảm so cùng kỳ; Sản xuất giường tủ bàn ghế giảm 16,7% do nhu cầu thị trường chuyển từ đặt làm các sản phẩm như giường, tủ sang mua các sản phẩm sẵn có nhập từ tỉnh khác về bán; Sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 7,81% do sản phẩm sản xuất khó tiêu thụ nên doanh nghiệp giảm sản lượng sản xuất.
3.3. Chỉ số sản xuất công nghiệp quý III năm 2025 so với cùng kỳ
Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp dự ước quý III năm 2025 ước tăng 13,39% so với cùng kỳ năm trước. Ngành khai khoáng tăng mạnh 25,83%, trong đó sản lượng than cứng và than non tăng 88,49%, ngành chế biến, chế tạo tăng 3,25%, chủ yếu ở các ngành: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 56,36%; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 30,93%, sản phẩm điện tử, máy vi tính và quang học tăng 37,94%. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng mạnh 45,26% do năm 2025, ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải duy trì ổn định với mức tăng 1,03%. Tuy nhiên, vẫn còn những ngành gặp nhiều khó khăn: Sản xuất kim loại giảm mạnh 52,3%, do thiếu nguồn nguyên liệu nhập khẩu; Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 43,8%; Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 30,82%; In ấn, sao chép bản ghi giảm 20,47%.
3.4. Chỉ số tiêu thụ, tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 9 tháng năm 2025 tăng 4,99% so với cùng kỳ; nhiều ngành có mức tiêu thụ tốt nhưng một số ngành vẫn gặp nhiều khó khăn.
Hàng tồn kho tháng 9 năm 2025 giảm 35,93% so với cùng kỳ, phản ánh khả năng tiêu thụ được cải thiện, tồn kho ở mức kiểm soát, nhiều ngành đã cải thiện đáng kể nhờ sức tiêu thụ phục hồi và đơn hàng ổn định.
3.5. Chỉ số sử dụng lao động
Chỉ số sử dụng lao động giảm 1,01%, chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến chế tạo; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải và doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
4. Tài chính, ngân hàng
4.1. Tài chính1
- Về thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn
Ước thực hiện thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 9 tháng năm 2025 là 12.174,8 tỷ đồng, tăng 18,0% so với dự toán tỉnh giao, tăng 50,8% so với cùng kỳ, trong đó:
Thu nội địa là 2.969,0 tỷ đồng, đạt 81,0% dự toán tỉnh giao, tăng 36,5% so với cùng kỳ. Do các cấp, các ngành tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2025; Kế hoạch thực hiện kịch bản tăng trưởng kinh tế năm 2025; đẩy mạnh phát triển kinh tế cửa khẩu, thương mại, dịch vụ, du lịch, công nghiệp, tái cơ cấu ngành nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới gắn với phát triển kinh tế số; tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng.
Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 8.876,2 tỷ đồng, tăng 37,6% dự toán, tăng 65,9% so với cùng kỳ. Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, xuất nhập cảnh qua địa bàn tỉnh diễn ra thuận lợi. Các cơ quan, đơn vị tăng cường phối hợp, tích cực tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho thông quan hàng hóa, kết hợp công tác kiểm soát, chống buôn lậu, gian lận thương mại, đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn khu vực cửa khẩu biên giới, thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn.
Các khoản huy động, đóng góp là 15,5 tỷ đồng.

- Về chi ngân sách địa phương
Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện 9 tháng năm 2025 là 13.098,0 tỷ đồng, đạt 68,7% dự toán giao, tăng 62,5% so với cùng kỳ, trong đó:
Chi cân đối ngân sách địa phương là 10.303,6 tỷ đồng, đạt 71,2% dự toán, tăng 55,2% so với cùng kỳ; chi các chương trình mục tiêu, một số chương trình, dự án, nhiệm vụ khác là 2.794,4 tỷ đồng, đạt 61,0% dự toán, tăng 96,3% so với cùng kỳ.
4.2. Ngân hàng2
Các tổ chức tín dụng trên địa bàn tập trung các giải pháp để ổn định và giảm lãi suất tiền gửi góp phần ổn định thị trường tiền tệ, tạo dư địa giảm lãi suất cho vay theo đúng chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; công khai, minh bạch quy trình, hồ sơ vay vốn đơn giản hóa, tăng cường ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đẩy nhanh tiến độ xử lý hồ sơ của khách hàng; đưa ra nhiều gói tín dụng với lãi suất ưu đãi nhằm kích cầu tín dụng, nhất là cho vay tiêu dùng, cho vay nhà ở xã hội đối với người nghèo, người thu nhập thấp, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng theo đúng quy định. Kết quả huy động vốn và cho vay ước thực hiện đến 30/9/2025: Tổng huy động vốn ước đạt 55.800 tỷ đồng, tăng 17,8% so với cùng kỳ, tăng 11,6% so với 31/12/2024. Dư nợ tín dụng của các ngân hàng trên địa bàn ước đạt 49.600 tỷ đồng, tăng 13,8% so với cùng kỳ, tăng 8,8% so với 31/12/2024.
Lãi suất huy động: Đối với các khoản tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng là 0,1-0,5%/năm; 1,5-4,0%/năm đối với kỳ hạn từ 1 đến dưới 6 tháng; 2,8-5,5%/năm đối với kỳ hạn từ 6 đến dưới 12 tháng; 3,75-6,0%/năm đối với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên.
Lãi suất cho vay VNĐ: Các Ngân hàng thương mại trên địa bàn áp dụng lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên là 4,0%/năm. Lãi suất cho vay bình quân (LSCVBQ) đối với các giao dịch phát sinh ở mức 7,29%/năm, trong đó: LSCVBQ ngắn hạn ở mức 6,41% giảm 0,54% so với cuối năm 2024; LSCVBQ trung hạn dao động ở mức 9,11%, giảm 1% so với cuối năm 2024; LSCVBQ dài hạn dao động ở mức 7,98%, giảm 0,72% so với cuối năm 2024.
5. Đầu tư, xây dựng
Tỉnh Lạng Sơn đã tập trung chỉ đạo quyết liệt các giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, đồng thời khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh và đang hoàn thiện dần sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã, triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp đi vào hoạt động ổn định, tỉnh tiếp tục thực hiện tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh nhằm bảo đảm tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Dù quá trình sáp nhập đặt ra không ít thách thức trong công tác quản lý, điều hành nhưng tỉnh khẳng định quyết tâm không để quá trình này trở thành rào cản, làm ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai các dự án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.
Tổng vốn đầu tư thực hiện trên quý III năm 2025 trên địa bàn tỉnh đạt 8.176,7 tỷ đồng, tăng 18,95% so với cùng kỳ năm trước và tăng 30,12% so với quý II năm 2025, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn thực hiện đạt 2.424,4 tỷ đồng, tăng 56,96% so với cùng kỳ. Vốn ngoài Nhà nước: Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn ngoài Nhà nước quý III năm 2025 đạt 5.750,1 tỷ đồng, tăng 7,91%. Trong đó, vốn của các tổ chức, doanh nghiệp ngoài Nhà nước thực hiện đạt 3.719,4 tỷ đồng, vốn đầu tư của khu vực dân cư đạt 2.030,7 tỷ đồng. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 2,2 tỷ đồng.
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản quý III năm 2025 đạt 6.909,2 tỷ đồng, chiếm 84,50%; đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản ước đạt 955,2 tỷ đồng, chiếm 12,17%; vốn đầu tư sửa chữa lớn nâng cấp tài sản cố định ước đạt 258,3 tỷ đồng, chiếm 3,16%; vốn bổ sung vốn lưu động dưới dạng hiện vật bằng vốn tự có 13,9 tỷ đồng chiếm 0,17%.
Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2025 ước đạt 19.466,2 tỷ đồng, tăng 18,52% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn thực hiện 9 tháng năm 2025 ước đạt 5.139,7 tỷ đồng, tăng 32,11% so với cùng kỳ. Vốn đầu tư thực hiện của khu vực ngoài nhà nước ước đạt 14.321,6 tỷ đồng, chiếm 73,57% tổng vốn, tăng 14,28% so với cùng kỳ. Trong đó vốn đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân và tổ chức ngoài nhà nước ước đạt 8.983 tỷ đồng tăng 22,84% so với cùng kỳ khẳng định động lực chính của khu vực kinh tế tư nhân; vốn đầu tư khu vực hộ dân cư ước đạt 5.338,6 tỷ đồng tăng 2,29% so với cùng kỳ. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 4,9 tỷ đồng. Vốn đầu tư nước ngoài đạt thấp còn hạn chế do quy mô rất nhỏ chưa tạo được động lực phát triển lâu dài.
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản 9 tháng năm 2025 ước đạt 15.941,9 tỷ đồng, chiếm 81,90%; đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản ước đạt 2.715,5 tỷ đồng, chiếm 13,95%; vốn đầu tư sửa chữa lớn nâng cấp tài sản cố định ước đạt 770,1 tỷ đồng, chiếm 3,96% so với cùng kỳ, bổ sung vốn lưu động dưới dạng hiện vật bằng vốn tự có ước đạt 38,7 tỷ đồng chiếm 0,20% so với cùng kỳ.
Dự án tuyến Cao tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn) - Trà Lĩnh (Cao Bằng), công trình có tổng mức đầu tư 7.946,8 tỷ đồng, lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến quý II/2025 ước thực hiện được 3.022,6 tỷ đồng, đạt 38,04% so với kế hoạch.
Dự án tuyến Cao tốc cửa khẩu Hữu Nghị - Chi Lăng theo hình thức BOT công trình có tổng mức đầu tư 11.024 tỷ đồng, lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến quý II/2025 ước thực hiện được 2.534,1 tỷ đồng, đạt 22,99% so với kế hoạch.
Dự án Công viên logistics Viettel công trình có tổng mức đầu tư 3.300 tỷ đồng, lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến quý II/2025 ước thực hiện được 2.279,7 tỷ đồng, đạt 69,08% kế hoạch.
Dự án Đường giao thông kết nối Quốc lộ 4B đến Quốc lộ 18, huyện Đình Lập: Tổng mức đầu tư 2.296,4 tỷ đồng, lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến quý II/2025 ước thực hiện được 1.529,5 tỷ đồng, đạt 66,60% kế hoạch.
6. Tình hình doanh nghiệp
Từ đầu năm đến hết tháng 8 năm 2025, có 608 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 34,90% so với cùng kỳ. Tổng số vốn đăng ký kinh doanh là 4.498,4 tỷ đồng, giảm 34,31% so với cùng kỳ. Số doanh nghiệp gửi thông báo tạm ngừng hoạt động là 430 doanh nghiệp, giảm 17,47%; số doanh nghiệp thông báo giải thể là 87 doanh nghiệp, giảm 17,14% so với cùng kỳ.
7. Thương mại và dịch vụ
7.1. Xuất nhập khẩu hàng hóa3
Hoạt động XNK qua địa bàn được thực hiện thường xuyên, kịp thời; các cơ quan chức năng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động XNK, tăng hiệu suất thông quan, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp hai bên Việt Nam và Trung Quốc. Hoạt động thông quan, hàng hoá XNK sôi động tại 05 cửa khẩu, hiệu suất thông quan cao tại các cửa khẩu đường bộ đạt trên 1.650 xe XNK/ngày (ngày cao điểm nhất ghi nhận 1.930 xe thông quan XNK/ngày). Trong đó: xuất khẩu trung bình khoảng 450-500 xe/ngày (khoảng 80% là hoa quả), nhập khẩu trung bình khoảng 1.100-1.150 xe/ngày.
Kim ngạch hàng hóa XNK mở tờ khai tại Hải quan Lạng Sơn lũy kế 9 tháng năm ước đạt 3.990 triệu USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ. Hàng địa phương xuất khẩu lũy kế 9 tháng ước đạt 122 triệu USD, tăng 2,5% so với cùng kỳ.
Lũy kế từ 01/01 đến ngày 14/9/2025: Tổng kim ngạch XNK hàng hóa của tất cả các loại hình đạt 62.857.692.469 USD, tăng 45,10% so với cùng kỳ năm 2024 (xuất khẩu đạt 19.671.567.827 USD, tăng 41,25% so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu đạt 43.186.124.642 USD, tăng 46,93% so với cùng kỳ năm trước).Trong đó, kim ngạch hàng hóa mở tờ khai tại Chi cục đạt 4.603.244.791 USD, tăng 19,18% so với cùng kỳ (xuất khẩu đạt 1.610.126.870 USD; giảm 6,48% so với cùng kỳ nhập khẩu đạt 2.993.117.921 USD, tăng 39,82% so với cùng kỳ.

7.2. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ
Trong 9 tháng năm 2025, tỉnh Lạng Sơn đã tập trung triển khai nhiều chương trình kích cầu du lịch. Cùng với hệ thống các cơ sở dịch vụ mua sắm, ăn uống, vui chơi giải trí đạt tiêu chuẩn đã thu hút một lượng lớn khách du lịch và người dân đến thăm quan, mua sắm. Đồng thời, các doanh nghiệp, trung tâm thương mại, hệ thống siêu thị tổ chức nhiều chương trình giảm giá, khuyến mãi nhằm kích thích tiêu dùng của người dân trong dịp lễ. Nhờ đó các hoạt động mua sắm, ăn uống, vui chơi giải trí trở nên sôi động, góp phần thúc đẩy tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu trên địa bàn tỉnh. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2025 đạt 32.231,5 tỷ đồng, tăng 16,73% (chưa bao gồm doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông và chuyên môn khoa học).
* Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ lưu trú và ăn uống, lữ hành
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 9 trên địa bàn tỉnh ước đạt 3.647,5 tỷ đồng (chưa bao gồm doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông và chuyên môn khoa học), tăng 1,53% so với tháng trước và tăng 19,03% so với cùng kỳ. Trong đó:
Doanh thu tổng mức bán lẻ hàg hóa ước đạt 3.221,8 tỷ đồng (chiếm 88,33% tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng), tăng 1,28% so với tháng trước và tăng 19,79% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 261,4 tỷ đồng, tăng 3,21% so với tháng trước và tăng 9,21% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 163,3 tỷ đồng, tăng 4,81% so với tháng trước và tăng 9,87% so với cùng kỳ.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu 9 tháng ước đạt 32.231,5 tỷ đồng, tăng 16,73% so với cùng kỳ (chưa bao gồm doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông và chuyên môn khoa học). Trong đó:
Doanh thu bán lẻ hàng hóa 9 tháng năm 2025 ước đạt 28.398,4 tỷ đồng, tăng 17,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số nhóm ngành tăng cao so với cùng kỳ, như: lương thực, thực phẩm tăng 23,64%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 83,07%; hàng hóa khác tăng 21,59%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 19,17%; xăng, dầu các loại tăng 13,88%;…
Hoạt động du lịch, lữ hành, ăn uống 9 tháng năm 2025 tăng trưởng mạnh mẽ nhờ đẩy mạnh công tác xúc tiến, quảng bá sản phẩm nhằm thu hút khách du lịch. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 2.436,9 tỷ đồng, tăng 17,24% so với cùng kỳ, do nhu cầu vui chơi và du lịch của người dân tăng cao trong dịp nghỉ hè và nghỉ lễ, tết. Doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 8,3 tỷ đồng, tăng 9,87% so với cùng kỳ.
Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 1.387,9 tỷ đồng, tăng 7,86% so với cùng kỳ. Trong đó, hầu hết nhóm dịch vụ đều tăng so với cùng kỳ trước như: Dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 17,99%; dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 7,52%; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 5,81%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 11,53%; dịch vụ khác tăng 8,93%.
Dự ước quý III năm 2025 ước đạt 10.795,9 tỷ đồng tăng 18,24% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 9.536,2 tỷ đồng (chiếm 88,33%), tăng 19,24% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 779,5 tỷ đồng (chiếm 7,22%), tăng 12,69% so với cùng kỳ; dịch vụ lữ hành dự ước đạt 2,55 tỷ đồng, tăng 1,13% so với cùng kỳ; dịch vụ khác ước đạt 477,6 tỷ đồng, tăng 8,73% so với cùng kỳ.
So với cùng kỳ năm trước, tổng mức bán lẻ tăng đa phần các nhóm ngành đều phản ánh xu hướng tiêu dùng tích cực của người dân, mức giá hàng hoá và dịch vụ bán lẻ có xu hướng tăng nhẹ so với cùng kỳ. Các nhóm ngành có mức tăng trưởng cao như nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm do ảnh hưởng từ giá vàng trong nước. Dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng do nhu cầu sửa chữa, bảo dưỡng phương tiện phục vụ sản xuất và du lịch. Nhóm lương thực, thực phẩm hàng hóa khác tăng đã phản ánh được sức mua mạnh từ người dân trong tỉnh và du khách ngoài tỉnh đến Lạng Sơn du lịch.
7.3. Vận tải
Dự ước tổng doanh thu vận tải, kho bãi tháng 9 năm 2025 đạt 241,1 tỷ đồng, tăng 0,33% so với tháng trước và tăng 16,09% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 31,9 tỷ đồng, tăng 0,59% so với tháng trước và tăng 21,20% so với cùng kỳ do nhu cầu đi lại của người dân tăng cao; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 110,7 tỷ đồng, tăng 0,48% so với tháng trước và tăng 15,5% so với cùng kỳ; doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 97,9 tỷ đồng, tăng 0,07% so với tháng trước và tăng 14,78% so với cùng kỳ; doanh thu hoạt động bưu chính, chuyển phát ước đạt 0,7 tỷ đồng, tăng 1,24% so với tháng trước và tăng 136,09% so với cùng kỳ.
Dự ước tổng doanh thu vận tải, kho bãi 9 tháng năm 2025 đạt 2.134,9 tỷ đồng, tăng 13,14% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 273,6 tỷ đồng, tăng 13,02%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 988,3 tỷ đồng, tăng 10,62%; doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 868,9 tỷ đồng, tăng 16,02%; doanh thu hoạt động bưu chính, chuyển phát ước đạt 4,1 tỷ đồng, tăng 64,06% so với cùng kỳ.

Dự ước quý III năm 2025 doanh thu vận tải ước đạt 722,8 tỷ đồng, tăng 14,31% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 91,8 tỷ đồng, tăng 15,72% so với cùng kỳ; Doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 333,7 tỷ đồng, tăng 11,43% so với cùng kỳ; Doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 297 tỷ đồng, tăng 17,28% so với cùng kỳ. Hoạt động vận tải, kho bãi trên địa bàn tỉnh tăng so với quý trước và so với cùng kỳ, đặc biệt hoạt động vận tải hành khách tăng cao vào dịp nghỉ lễ 2/9; hoạt động vận tải hàng hóa cùng xu hướng tăng do nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiêu thụ, xuất, nhập khẩu và vận chuyển vật liệu trong hoạt động xây dựng. Hoạt động xuất nhập khẩu thuận lợi, lưu lượng xe chở hàng hóa thông quan qua cửa khẩu tăng, nhu cầu lưu bãi cũng như dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng cao. Thương mại điện tử phát triển là động lực giúp tăng dịch vụ chuyển phát hàng hóa so với cùng kỳ.
8. Chỉ số giá
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) toàn tỉnh tháng 9 tăng 0,30% so với tháng trước, tăng 1,63% so với tháng 12/2024, tăng 2,19% so cùng kỳ và tăng 11,13% so với kỳ gốc năm 2019. CPI bình quân 9 tháng tăng 1,78% so bình quân cùng kỳ.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 năm 2025

So với tháng trước tháng 9 năm 2025, CPI tăng 0,30 % có 11 nhóm hàng có chỉ số giá tăng như: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,36%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,08%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,11%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,37%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,06%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; nhóm giao thông tăng 0,63%; nhóm bưu chính, viễn thông tăng 0,32%; nhóm giáo dục tăng 0,07%; nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,05%; nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,07%.
So với cùng kỳ, CPI tháng 9 tăng 2,19%, cả 11 nhóm hàng tiêu dùng đều có chỉ số giá tăng cụ thể: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,40%, (lương thực tăng 1,39%; thực phẩm tăng 3,12%, Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,46%, Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,64%, Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,86%, Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,07%, Nhóm thuốc và dụng cụ y tế tăng 6,26%, Nhóm giao thông tăng 0,89%, Nhóm bưu chính viễn thông tăng 0,65, Nhóm giáo dục tăng 0,22%, Nhóm văn hoá, giải trí, du lịch tăng 0,90%, Hàng hoá và dịch vụ khác tăng 1,22%.
Chỉ số giá quý III năm 2025 tăng 0,48% so với quý trước, tăng 1,47% so với cùng kỳ năm trước và tăng 10,85% so với kỳ gốc năm 2019. Bình quân cùng kỳ trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, có 09 nhóm hàng tăng giá, 02 nhóm hàng giảm giá. Nguyên nhân chỉ số giá quý III tăng là do nhu cầu tiêu dùng tăng kéo theo giá cả các mặt hàng như vật liệu xây dựng tăng, nguồn cung cát, đá khan hiếm nên giá cát, đá tăng, giá nguyên liệu đầu vào để sản xuất gạch tăng kéo theo giá gạch tăng; bên cạnh đó do thời tiết mùa hè nắng nóng nên nhu cầu sử dụng các thiết bị làm mát tăng, khiến giá điện tăng.
Bình quân 9 tháng năm 2025, CPI tăng 1,78%, gồm 09 nhóm tăng giá và 02 nhóm giảm giá. Cụ thể: Các nhóm hàng có chỉ số giá tăng, gồm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,11%, (lương thực tăng 4,49%, thực phẩm tăng 5,09%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,35%,); so với cùng kỳ năm trước nhiều mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng như thịt gia súc tăng 11,4%, thuỷ sản chế biến, rau tươi khô và chế biến,... nguyên nhân chủ yếu là do nhu cầu tiêu thụ thực phẩm tăng cao; Nhóm đồ uống, thuốc lá tăng 1,45%; Nhóm may mặc, mũ nón giày dép tăng 0,35%; Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,14%, Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,19%; Nhóm thuốc và dụng cụ y tế tăng 6,33%; Nhóm này có chỉ số giá tăng do giá dịch vụ y tế tăng theo Nghị quyết 28/2024/NQ-HĐND ngày 31/12/2024 của HĐND tỉnh Lạng Sơn, áp dụng từ ngày 01/01/2025; Nhóm bưu chính viễn thông tăng 0,14%; Nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,97%; Nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 3,02%.
Chỉ số giá vàng: Tháng 9/2025, giá vàng trong nước tiếp tục biến động tăng, giảm theo giá vàng thế giới. Đây là nhóm có chỉ số biến động nhiều nhất, trên xu hướng giá vàng trong nước tăng, giảm trong thời gian vừa qua, giá vàng trên địa bàn tỉnh tăng 6,15% so với tháng trước, tăng 47,91% so với cùng kỳ năm trước, so với giá gốc 2019 tăng 192,73%. Chỉ số giá vàng bình quân 9 tháng đầu năm 2025 tăng 42,17% so với cùng kỳ.
Chỉ số giá đô la Mỹ: Trong tháng 9/2025, đồng đô la Mỹ tăng 0,34% so với tháng trước, tăng 6,39% so với cùng kỳ năm trước, so với năm gốc năm 2019 tăng 13,80%. Chỉ số giá đô la Mỹ bình quân 9 tháng đầu năm 2025 tăng 3,74% so với cùng kỳ.
9. Giải quyết việc làm và bảo đảm an sinh xã hội4
Tổng số lượt người được tư vấn về chính sách pháp luật lao động, việc làm, định hướng nghề và giới thiệu việc làm là 3.234 lượt người giảm 21,78% so với cùng kỳ (4.135 lượt người), luỹ kế năm 2025 là 29.507 lượt người; số người lao động đăng ký tìm việc làm là 298 lượt người tăng 102,72 % so với cùng kỳ (147 lượt người), luỹ kế năm 2025 là 1.057 lượt; số lao động được giới thiệu việc làm là 260 lượt người tăng 109,67 % so với cùng kỳ (124 lượt người), luỹ kế năm 2025 là 922 lượt người; số người lao động được giới thiệu việc làm nhận được việc làm là 255 lượt người, tăng 152,47 % so với cùng kỳ (101 người), luỹ kế năm 2025 là 846 người.
Số người nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp là 367 người giảm 5,66% so với cùng kỳ, lũy kế từ đầu năm 2025 là 3.340 người; số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp là 378 người giảm 16% so với cùng kỳ, lũy kế từ đầu năm 2025 là 3.378 người; số người chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp là 437 người tăng 27,78% so với cùng kỳ; số tiền trợ cấp thất nghiệp theo QĐ là 6.280 triệu đồng, giảm 9,93% so với cùng kỳ, lũy kế từ đầu năm 2025 là 56.425 triệu đồng; thu hồi tiền hưởng trợ cấp thất nghiệp 07 người là 20.451.430 đồng, lũy kế từ đầu năm là 17 người với số tiền 59 triệu đồng.
Hoàn thành điều dưỡng đợt 03 đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sỹ, gồm 60 đối tượng; đang tiến hành điều dưỡng đối tượng đợt 4 gồm 51 đối tượng; thực hiện tốt công các chăm sóc y tế, phục hồi chức năng, các hoạt động nâng cao đời sống tinh thần cho Người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ.
Chi tặng quà nhân dân nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 02/9 là 84.468,1triệu đồng, đạt 97,39% dự toán tỉnh giao (trong đó: chi bằng tiền mặt là 83.228,6 triệu đồng; chi bằng chuyển khoản là 1.239,5 triệu đồng).
10. Hoạt động y tế và sức khỏe cộng đồng5
Tiếp tục thực hiện nghiêm túc quy chế chuyên môn; đảm bảo thuốc, vật tư y tế, hóa chất, sinh phẩm phục vụ công tác khám chữa bệnh và phòng chống dịch bệnh. Duy trì thực hiện Đề án 1816, khám chữa bệnh từ xa, đảm bảo y tế cho các sự kiện lớn của tỉnh.
Khám chữa bệnh công lập: Trong tháng 9 khám được 98.398 lượt, cộng dồn đạt 900.396/1.031.687 lượt - đạt 81,5% kế hoạch năm. Điều trị nội trú bệnh viện và lưu trú tại trạm y tế xã trong tháng 9 đạt 13.022 lượt, cộng dồn 112.29 9lượt/159.368 - đạt 70,4% kế hoạch năm. Điều trị ngoại trú tháng 9 đạt 9.592 lượt, cộng dồn 93.003/68.228 lượt đạt 136,3% kế hoạch năm.
Khám chữa bệnh tại các cơ sở ngoài công lập: Trong tháng khám được 33.471 lượt, cộng dồn 215.741 lượt (trong đó khám bảo hiểm y tế 30.114 lượt, cộng dồn 191.179 lượt); chuyển tuyến 1.137 lượt, cộng dồn 7.956 lượt; khám sức khỏe 3.380 lượt, cộng dồn 17.942 lượt.
Công tác y tế dự phòng: Hoạt động y tế dự phòng, phòng chống dịch bệnh được duy trì và kiểm soát tốt, không có dịch bệnh lớn, dịch bệnh nguy hiểm xảy ra. Trong tháng trên địa bàn tỉnh ghi nhận 05 ổ dịch sốt xuất huyết tại xã Yên Bình. Các bệnh truyền nhiễm khác phân bố rải rác, không có yếu tố dịch tễ gây dịch hay ổ dịch. Duy trì thực hiện tiêm chủng cho trẻ em dưới 1 tuổi trên 65 xã/phường.
Công tác thông tin, tuyên truyền giáo dục sức khỏe tiếp tục đẩy mạnh thông qua các hình thức truyền thông trực tiếp và gián tiếp. Trong tháng duy trì thực hiện chuyên mục “Sức khỏe cộng đồng” trên báo Lạng Sơn, chuyên mục “Sức khoẻ đời sống” trên Đài Phát thanh truyền hình tỉnh, Website Sở Y tế.
11. Hoạt động văn hoá, thể thao và du lịch6
Về nghệ thuật biểu diễn: Tổ chức giao lưu 05 chương trình nghệ thuật với nước bạn Trung Quốc. Tổ chức biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị, sự kiện của tỉnh, các ngành, địa phương và vùng sâu, vùng xa đạt 80 buổi /110 buổi (đạt 72,7% so với Kế hoạch). Trong đó: Số buổi biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị, phục vụ các sở ban ngành đạt 58 buổi/80buổi/năm; biểu diễn phục vụ nhân dân vùng sâu, vùng xa đạt 22/30 buổi. Ước tính hết 9 tháng, đạt 90 buổi, trong đó có 25 buổi vùng sâu, vùng xa.Về thư viện: Phục vụ bạn đọc tại chỗ 103.068 lượt độc giả, thực hiện luân chuyển sách 249.145 lượt; phục vụ xe Thư viện lưu động 40 buổi. Tiếp nhận và xử lý nghiệp vụ sách từ nguồn biếu tặng 260 tên sách; 1.212 bản sách; trị giá: 82.080.500 đồng.
Về điện ảnh: Biên tập, thu âm trên 56 nội dung tuyên truyền tiếng; Xây dựng 09 kịch bản phóng sự chuyên đề; Xây dựng 02 phóng sự hình tổng kết ngành và phục vụ Hội nghị điển hình tiên tiến giai đoạn 2021-2025. Tổ chức 07 Đợt phim, Tuần phim. Hoạt động chiếu phim lưu động: Tính đến hết ngày 31/8/2025 các tổ chiếu bóng lưu động thực hiện được 1.116 buổi chiếu (trong đó có 1.089 buổi chiếu kế hoạch, 27 buổi chiếu chính trị), đến được 27 lượt xã, 1.116 lượt thôn, số lượt tuyên truyền đạt trên 6.700 lượt, ước phục vụ gần 97.000 người nghe và xem tuyên truyền Ước thực hiện 9 tháng đầu năm 2025: Đội Chiếu bóng lưu động thực hiện được 1.259 buổi chiếu (Đạt 75% kế hoạch năm 2025), đến được 198 lượt xã, phục vụ gần 12.000 người nghe và xem tuyên truyền. Hoạt động kinh doanh tại Rạp Đông Kinh: Tính đến hết ngày 31/8/2025, Rạp Đông Kinh đã thực hiện: 337 suất chiếu, phục vụ 6.968 lượt người xem; Doanh thu bán vé đạt 432.165.000 đồng.
Về văn hóa dân tộc: thực hiện các Đề án "Bảo tồn, phát huy giá trị dân ca, dân vũ, dân nhạc của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch" trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2022 - 2030; Đề án Bảo tồn và phát huy giá trị di sản Múa sư tử dân tộc Tày, Nùng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2021 -2030; Đề án bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị hệ thống di tích lị ch sử - văn hoá.
Về thể dục, thể thao: Tổ chức thành công giải chạy “Mẫu Sơn Mount Paths” năm 2025; giải Đua bè mảng trên Sông Kỳ Cùng, Tổ chức thành công giải Thể thao Cán bộ, lãnh đạo quản lý tỉnh Lạng Sơn, Giải Pickleball ngành Văn hóa mở rộng năm 2025. Giải Vô địch Cầu lông và Trẻ tỉnh Lạng Sơn năm 2025; Giải Điền kinh, Bơi các nhóm tuổi trẻ tỉnh Lạng Sơn năm 2025; Cuộc thi “Tỏa sáng Yoga” tỉnh Lạng Sơn mở rộng năm 2025.
Dự ước tổng lượng khách 9 tháng đầu năm 2025: đạt 3.750.000 lượt khách, tăng 2,4 % so với cùng kỳ 2024, đạt 85,9% so với kế hoạch năm 2025.Trong đó: Khách quốc tế đạt 216.000 lượt khách, tăng 105,7% so với cùng kỳ 2024, đạt 72% so với kế hoạch năm 2025. Khách trong nước đạt 3.534.000 lượt khách, giảm 0,6% so với cùng kỳ 2024, đạt 100% so với kế hoạch năm 2025.Tổng thu ước đạt 3.566 tỷ đồng, tăng 12,2% so với cùng kỳ 2024, đạt 79,2% so với kế hoạch năm 2025.
12. Giáo dục
Tổ chức Hội nghị tập huấn, bồi dưỡng Hiệu trưởng trường có lớp tiểu học năm học 2025 2026. Hội nghị tổng kết 05 năm triển khai thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Hội nghị triển khai nhiệm vụ năm học đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên năm học 2025-2026. Hội nghị sơ kết công tác kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia trường mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên giai đoạn 2019-2025. Hội nghị tổng kết công tác bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên; công tác y tế trường học năm học 2024-2025 và phương hướng, nhiệm vụ năm học 2025-2026. Hội nghị biểu dương Điển hình tiên tiến ngành Giáo dục và Đào tạo giai đoạn 2020-2025 và Hội nghị Tổng kết năm học 2024-2025, triển khai nhiệm vụ năm học 2025-2026. Tổ chức Khai giảng năm học 2025- 2026.
13. Trật tự - An toàn giao thông7
Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với tội phạm. Trong tháng trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 29 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 06 người chết, 35 người bị thương. Lũy kế từ đầu năm toàn tỉnh xảy ra 277 vụ tai nạn giao thông, làm 61người chết, 272 người bị thương. Nguyên nhân tai nạn chủ yếu là do phóng nhanh vượt ẩu của người điều khiển phương tiện đã không làm chủ được tốc độ.
14. Môi trường
Trong tháng phát hiện 08 vụ vi phạm môi trường, giảm 16 vụ so với cùng kỳ, tăng 02 vụ so với tháng trước; khởi tố 01 vụ về tội hủy hoại rừng; xử phạt hành chính 03 vụ với số tiền phạt 9 triệu đồng, tăng 7,5 triệu đồng so với tháng trước. Lũy kế từ đầu năm 2024, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn phát hiện 159 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 116 vụ với tổng số tiền phạt là 475,3 triệu đồng.
15. Thiệt hại do thiên tai
Tháng 9 năm 2024, do ảnh hưởng của cơn bão số 3 và mưa lớn sau bão, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã chịu ảnh hưởng lớn gây thiệt hại về người, nhà cửa và hoa màu: 03 người chết; bị thương 10 người do nguyên nhân do bị tấm lợp Fibro xi măng rơi xuống đầu, bị cây đổ vào người và do sạt lở đất; 12.454 ngôi nhà của hộ gia đình bị thiệt hại; 80 công trình khác bị hư hại như trụ sở Công an xã, nhà văn hóa thôn, trường học và điểm bưu điện xã,...); trên 8.172 ha đất nông nghiệp bị ảnh hưởng (trong đó 5.108 ha lúa, 2.669 hoa màu); trên 18.445 ha đất lâm nghiệp trồng bạch đàn, keo, mắc ca, hồi, thông bị ảnh hưởng.
[1] Nguồn: Sở Tài chính.
[2] Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Lạng Sơn.
[3] Nguồn Hải quan.
[4] Nguồn: Sở Nội vụ.
[5] Nguồn: Sở Y tế.
[6] Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
[7] Nguồn: Công an tỉnh Lạng Sơn.
Tác giả bài viết: Thống kê tỉnh Lạng Sơn
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn