Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn tháng 4 năm 2020

Thứ hai - 27/04/2020 04:18
Tính đến hết ngày 15/4/2020: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 612,9 triệu USD, giảm 47,5% so với cùng kỳ. Trong đó: Xuất khẩu đạt 285,1 triệu USD, giảm 50,6% so với cùng kỳ; Nhập khẩu đạt 327,8 triệu USD, giảm 44,4% so với cùng kỳ.
BÁO CÁO
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2020
   
 1-    Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

     Diện tích gieo trồng vụ Xuân chủ yếu thực hiện trong tháng 4, chiếm trên 80% tổng diện tích của cả vụ; trong tháng lượng mưa phân bố đồng đều, thuận lợi cho người dân đẩy nhanh tiến độ làm đất và gieo trồng các cây trồng chủ yếu như lúa, ngô..., dự ước đến cuối tháng 4 sẽ gieo trồng xong toàn bộ diện tích cây trồng vụ Xuân năm 2020; đối với diện tích đã gieo trồng người dân tập trung chăm sóc đảm bảo cây trồng sinh trưởng phát triển tốt. Do ảnh hưởng của dịch COVID-19, lao động nông thôn hạn chế đi làm tại các công ty trong và ngoài nước nên lao động nông nghiệp tăng lên, diện tích gieo trồng năm nay cao hơn so với cùng kỳ; tuy nhiên, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp gặp nhiều khó khăn vì giá cả không ổn định bởi ảnh hưởng của dịch COVID-19. Cơ quan chuyên môn tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh và hướng dẫn người dân phòng bệnh cho cây trồng, vật nuôi; đàn vật nuôi cơ bản phát triển ổn định, các sản phẩm chăn nuôi (thịt, cá, trứng...) đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Công tác sản xuất giống cây lâm nghiệp, cây ăn quả các loại đáp ứng nhu cầu sản xuất của nhân dân; thực hiện chỉ tiêu trồng rừng mới năm 2020 trên địa bàn tỉnh đảm bảo tiến độ, công tác chăm sóc, quản lý, bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng được triển khai tích cực.
     1.1. Nông nghiêp
     1.1.1. Trồng trọt
     Tính đến giữa tháng 4/2020, tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm toàn tỉnh vụ Đông - Xuân năm 2020 ước 43.453 ha, đạt 92% so với kế hoạch, tăng 2,55%  so với cùng kỳ năm trước. Tiến độ sản xuất một số cây trồng chính như sau:
     * Cây lúa: Diện tích gieo cấy trong tháng ước đạt 10.803,11 ha, tăng 0,35%  so với cùng kỳ năm trước. Diện tích gieo trồng tăng do thời tiết từ đầu vụ sản xuất có mưa, chủ động nguồn nước tưới để làm đất và gieo trồng, tiến hành sản suất được ở những diện tích đất ruộng cao năm trước bỏ trống không sản xuất được. Từ đầu vụ đến nay một số huyện có diện tích gieo cấy lúa nhiều nhất là: huyện Hữu Lũng (2.340 ha), huyện Tràng Định (2.180 ha), huyện Cao Lộc (1.850 ha). 
Trong vụ Xuân năm 2020, các giống lúa được người dân gieo cấy chủ yếu là các giống lúa ngắn ngày và lúa lai, có ưu thế về năng suất, chất lượng mang lại hiệu quả kinh tế cao. Dự ước đến cuối tháng 4 sẽ cấy xong toàn bộ diện tích lúa Xuân năm 2020. 
     * Cây ngô: Diện tích gieo trồng ước đạt 8.053,71 ha, tăng 2,59% so với cùng kỳ năm trước, đạt 100% kế hoạch năm. Diện tích trồng ngô tăng do hiện nay một số lao động chính của các hộ đi làm công nhân tại công ty trong và ngoài nước đang tạm nghỉ do dịch COVID-19. Ngô được trồng chủ yếu ở huyện Bắc Sơn, Hữu Lũng, Cao Lộc. Giống cây trồng chủ yếu là NK66, NK54 là những giống ngô phù hợp với điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng của địa phương. Tính đến ngày 15/4/2020 diện tích ngô xuân đã được hơn một tháng tuổi và phát triển tốt, bà con nông dân đang tích cực bón phân lần 1 và vun đất cho ngô.
     * Cây khoai lang: Diện tích gieo trồng ước đạt 202,25 ha, tăng 7,21% so với cùng kỳ năm trước, do ngay từ đầu vụ thời tiết thuận lợi, đầu năm khí hậu ấm không rét nhiều, giống khoai lang mọc sớm nhân dân có giống để trồng; Bên canh đó thị trường tiêu thụ khoai lang mạnh, giá bán đạt cao (15-20 nghìn đồng/kg), người dân đầu tư trồng nhiều, nhất là giống khoai lang tím, vàng. 
     * Cây lạc: Diện tích gieo trồng ư¬¬ớc thực hiện đạt 669,42 ha, tăng 1,34% so với cùng kỳ năm trước, do bà con lựa chọn được giống lạc siêu củ phù hợp với điều kiện thời tiết, thổ nhưỡng, có thị trường tiêu thụ tốt mang lại hiệu quả kinh tế cao, giá lạc luôn giữ ở mức 14.000- 18.000 đồng/kg lạc củ tươi. 
     * Rau các loại: Diện tích gieo trồng ư¬¬ớc thực hiện 804,39 ha, tăng 1,35% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rau các loại tăng so với cùng kỳ do thời tiết mưa nhiều đảm bảo đủ lượng nước tưới tiêu, đất đủ độ ẩm, tơi xốp thuận lợi cho các loại rau sinh trưởng và phát triển. Hiện nay diện tích trồng rau theo hướng an toàn ngày càng được người nông dân mở rộng, trong tháng các loại rau trồng chính là đậu cove, dưa chuột, rau bí,....Bên cạnh đó, người dân cũng tập trung thu hoạch một số cây rau vụ Xuân đầu vụ như rau cải ngồng, bắp cải,... đảm bảo phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân địa phương. Hiện nay một số hộ đưa các giống rau rừng về trồng như rau bò khai, rau ngót rừng, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
     Tình hình dịch bệnh
     Các đối tượng dịch hại trên một số cây trồng có sự biến động nhẹ về mật độ, tỷ lệ và diện tích gây hại. Trong đó, các loài dịch hại chính như bệnh OBV trên lúa, sâu keo mùa thu, sâu xám trên cây ngô xuân, bệnh thán thư, sâu nhớt trên cây có múi, bọ ánh kim trên cây hồi có diện tích gây hại tăng so với cùng kỳ, nhưng đã được cơ quan chuyên môn và chính quyền địa phương các cấp chỉ đạo, hướng dẫn nông dân phòng trừ kịp thời, không ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng.
Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh tiếp tục chỉ đạo Trạm Bảo vệ thực vật các huyện, thành phố thực hiện tốt công tác điều tra dự tính, dự báo, công tác phòng trừ  bảo vệ sản xuất.
     1.1.2. Chăn nuôi
     * Tổng đàn trâu: Hiện nay, đàn trâu có giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu sử dụng sức kéo bằng gia súc giảm, xuất bán trâu lấy vốn đầu tư cho trồng rừng mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, cụ thể: Ước tính số đầu con trâu có 84.833 con, giảm 3,29% số con trâu xuất chuồng đạt 2.137 con, tăng 1,76% so với cùng kỳ; sản lượng xuất chuồng đạt 488,08 tấn.
     * Tổng đàn bò: Chăn nuôi bò thịt theo hướng nhốt chuồng, vỗ béo đang được người chăn nuôi thực hiện có hiệu quả, theo định hướng phát triển và hướng dẫn của cơ quan chuyên môn. Ước tính số đầu con bò có 32.700 con, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước; số con bò xuất chuồng đạt 659 con tương đương với sản lượng thịt hơi xuất chuồng 119,05 tấn, tăng 1,35% so với cùng kỳ năm trước. 
     * Tổng đàn lợn: Hiện tại tình hình dịch tả lợn châu Phi đã ổn định, người dân đẩy mạnh tái đàn nhằm đảm bảo đủ nguồn cung và ổn định giá; nhiều hộ dân trên địa bàn đã đầu tư chăn nuôi lợn tập trung quy mô lớn. Tuy  nhiên, so với cùng kỳ còn thấp do tính đến tháng 4/2019 dịch tả lợn mới bắt đầu bùng phát số lợn chết và tiêu hủy chưa nhiều; bên cạnh đó giá lợn con giống và giá thức ăn chăn nuôi trong năm 2020 tăng cao đã ảnh hưởng đến quy mô tái đàn của người chăn nuôi. Số con hiện có ước 103.140 con, giảm 63,67%  so với cùng kỳ năm trước; số con xuất chuồng ước 17.786 con, giảm 5% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng hơi xuất chuồng đạt 1.537,54 tấn, giảm 4,75%  so với cùng kỳ năm trước. Giá thịt lợn hơi dao động từ 76.000-80.000 đồng/kg.
     * Tổng đàn gia cầm: Tổng đàn gia cầm tăng cao so với cùng kỳ do nhu cầu tiêu thụ thịt gia cầm tăng thay thế thịt lợn khan hiếm; dự ước chăn nuôi gia cầm trong những tháng tiếp theo sẽ giảm nhẹ do tình hình chăn nuôi lợn dần phục hồi. Ước tổng đàn gia cầm hiện có 4.778,41 nghìn con, tăng 12,21% so với cùng kỳ. (Trong đó tổng đàn gà là 4.430,21 nghìn con, tăng 13,23% so với cùng kỳ). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng của gia cầm đạt 1.012,02 tấn (Trong đó sản lượng gà hơi đạt 829,65tấn). Sản lượng trứng gia cầm đạt 3.029,07 nghìn quả (Trong đó số lượng trứng gà đạt 2.526,96 nghìn quả). Giá trứng gà ta hiện nay ở mức 44,66 nghìn đồng/10 quả, trứng gà công nghiệp 24,78 nghìn đồng/10 quả. Được giá cùng với thị trường tiêu thụ ổn định nên người dân nuôi gà đẻ trứng nhiều đặc biệt là giống gà siêu trứng cho sản lượng trứng cao. 
     Tình hình dịch bệnh
     Trong tháng 4, bệnh dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra tại 08 hộ của 02 thôn, xã Vân An, huyện Chi Lăng, tổng số lợn chết và tiêu hủy là 21 con với tổng trọng lượng là 915kg; Ước giá trị thiệt hại 73,2 triệu đồng. Nguyên nhân phát sinh: đây là ổ dịch năm 2019, mầm bệnh vẫn còn tồn tại trong môi trường, khi gặp điều kiện thời tiết thuận lợi, sức đề kháng của vật nuôi giảm, một số hộ dân chăn nuôi tái đàn lợn trở lại chưa thực hiện đảm bảo việc chăn nuôi an toàn sinh học nên làm phát sinh dịch bệnh. Cơ quan chuyên môn đã chỉ đạo thú y viên cơ sở theo dõi, tuyên truyền, hướng dẫn người chăn nuôi tiến hành phun tiêu độc khử trùng, cấp phát 20 lít thuốc sát trùng và 350kg vôi bột, để xử lý tại các hộ chăn nuôi và môi trường xung quanh đảm bảo không bùng phát thành dịch, tiếp tục theo dõi chặt chẽ tình hình, khuyến cáo người chăn nuôi thực hiện chăn nuôi đảm bảo an toàn sinh học.
      Giá cả vật nuôi và thức ăn chăn nuôi 
     - Giá gà ta hơi ở mức 128,35 nghìn đồng/kg, so với cùng kỳ năm trước tăng 2,94%; giá gà công nghiệp phổ biến ở mức 79,16 nghìn đồng/kg, so với cùng kỳ năm trước tăng 13,62%; giá gà ta giống ở mức 20 nghìn đồng/con, giá gà công nghiệp giống là 18,58 nghìn đồng/con.
     - Giá lợn hơi ở mức 79,89 nghìn đồng/kg, so với cùng kỳ năm trước tăng 69,33%; giá lợn giống ở mức 107,4 nghìn đồng/kg.
     - Giá thịt trâu hơi ở mức 113,81 nghìn đồng/kg, so với cùng kỳ tăng 0,67%; giá thịt bò hơi ở mức 113,58 nghìn đồng/kg, so với cùng kỳ năm trước giảm 5,94%.
     - Giá thức ăn chăn nuôi: nhìn chung ổn định, giá thức ăn cho gà thịt từ 270.000đ đến 285.000đ/bao/25 kg tùy theo từng hãng thức ăn; cho lợn từ 250.000đ đến 290.000đ/bao/25kg tùy theo từng hãng sản xuất..
     1.2. Lâm nghiệp 
     1.2.1. Công tác trồng rừng
     Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, tổng diện tích trồng rừng toàn tỉnh đến ngày 08/4/2020 là 1.651,3 ha đạt 18,5% kế hoạch. Trong đó: Trồng rừng tập trung 837,24 ha, tăng 53,54% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích trồng rừng sản xuất tăng do sản phẩm mang lại hiệu quả kinh tế cao, thời tiết thuận lợi: có mưa, độ ẩm thích hợp cho người dân tập trung trồng rừng; trồng cây phân tán 1.011,84 nghìn cây (tương đương 505,93ha), tăng 4,76% so với cùng kỳ, (Trong đó: Tết trồng cây 284,3 ha; ngân sách huyện 345 ha; nhân dân tự trồng 15,7 ha).
     Công tác chuẩn bị cây giống lâm nghiệp: Tính đến thời điểm trung tuần tháng 4 trên địa bàn toàn tỉnh đã sản xuất cây giống lâm nghiệp đạt khoảng 120 triệu cây. Trong đó số lượng cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn khoảng trên 80 triệu cây (có gần 1 triệu cây còn tồn từ năm 2019 và trên 79 triệu cây của năm 2020) đạt tiêu chuẩn quy định. 
     1.2.2. Công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng
     Công tác theo dõi tình hình sâu, bệnh hại rừng tại các xã và các điểm hay có dịch xảy ra trên địa bàn tỉnh được tăng cường. Qua kiểm tra của Chi cục Kiểm lâm không phát hiện dịch sâu bệnh hại rừng.
     Chế độ trực, gác lửa rừng tại các xã trọng điểm, theo dõi cảnh báo, dự báo nguy cơ cháy rừng trên địa bàn tỉnh duy trì thường xuyên. Công tác phối hợp kiểm tra, giám sát khai thác gỗ rừng tự nhiên, gỗ rừng trồng và cây trồng phân tán của cá nhân và tập thể trên địa bàn được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
     Không có cháy rừng xảy ra, do làm tốt công tác tuyên truyền về phòng chống cháy rừng, ý thức của người dân được nâng cao; mặt khác thời tiết trong tháng có mưa nhiều nên nguy cơ cháy rừng thấp.
     Số vụ phá rừng trái pháp luật lũy kế từ đầu năm: 05 vụ, tăng 02 vụ so với cùng kỳ, do ý thức của người dân chưa cao, một bộ phận người dân ở vùng sâu vùng xa thiếu hiểu biết nên khai thác rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ để trồng rừng sản xuất, phát rừng lấy củi, khai thác gỗ để làm nhà.
     1.2.3. Khai thác và thu nhặt lâm sản
     - Khai thác gỗ tròn các loại trong tháng ước 12.343,80m3, giảm 1,94% so với cùng kỳ; cộng dồn từ đầu năm 45.057,06m3, tăng 10,39% so cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác tăng do hiệu quả kinh tế từ trồng rừng sản xuất mang lại, diện tích rừng sản xuất ngày càng lớn; gỗ đến tuổi khai thác và nhu cầu chế biến gỗ của các cơ sở trên địa bàn tăng.
    - Củi các loại trong tháng ước 129.678,13ste, giảm 4,18 %  so cùng kỳ. Cộng dồn từ đầu năm 417.268,54 ste, giảm 2,79 %  so cùng kỳ năm trước. Khai thác củi tập trung chủ yếu ở khu vực cá thể, được dùng cho mục đích đun nấu và một phần được tiêu thụ trên thị trường. Sản lượng củi khai thác giảm hầu hết ở các huyện, thành phố, giảm nhiều ở huyện Chi Lăng, Bắc Sơn... do hiện nay sản lượng củi trong rừng tự nhiên thấp, chủ yếu khai thác từ rừng trồng. Nhiều hộ dân đã chuyển dùng củi sang dùng gas công nghiệp.
     1.3. Thủy sản 
     Cơ quan chuyên môn tiếp tục chỉ đạo Trạm Thủy sản Bản Ngà (huyện Cao Lộc) tập trung chăm sóc, quản lý tốt đàn cá giống theo đúng quy trình kỹ thuật; tích cực chăm sóc quản lý ao ương nuôi cá hương, cá bột giống các loại (trắm, trôi, mè, chép) đảm bảo đạt chất lượng số lượng cung ứng cho nhu cầu của nhân dân. Đến nay thả được 1.945.000 con cá bột (trong đó cá chép 1.000.000con, cá trắm 700.000con, cá mè 245.000con) và 52.000 con cá hương (trong đó cá chép 32.000con, cá trắm 20.000con). Tiếp tục thực hiện tốt chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản năm 2020 theo kế hoạch.
      2. Sản xuất công nghiệp
     2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4/2020 so với tháng trước
     Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4 bằng 93,41% so với tháng trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng bằng 91,55%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bằng 88,87%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện bằng 97,86%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải bằng 97,92%. 
     Trong công nghiệp khai khoáng, ngành khai thác than cứng và than non (sản phẩm than) bằng 97,48%; khai khoáng khác (sản phẩm đá xây dựng khác) bằng 84,40%. Trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hầu hết các ngành công nghiệp cấp 2 có chỉ số giảm so với tháng 3, như: Chế biến thực phẩm bằng 86,48%; sản xuất, chế biến gỗ dự ước bằng 93,22%; sản xuất da bằng 90,97%, sản xuất hóa chất bằng 71,65%, sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn bằng 96,36%, sản xuất máy bơm bằng 83,33%.... Chỉ riêng ngành in và sao chép bản ghi dự ước tăng 3,76%. Trong ngành sản xuất và phân phối điện, sản lượng điện sản xuất bằng 96,83% do nhu cầu sử dụng điện của các cơ sở sản xuất kinh doanh giảm; hoạt động truyền tải điện thương phẩm dự kiến tăng 8,3% so với tháng trước. Ngành xử lý và cung cấp nước, cung cấp nhu cầu nước sinh hoạt của dân cư với mức sản lượng so với tháng trước bằng 97,53%;  hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải chỉ bằng 98,46% so với tháng trước.
     2.2. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4 và cộng dồn 4 tháng năm 2020 so với cùng kỳ
     So với cùng kỳ năm trước, sản xuất công nghiệp tháng 4 năm 2020 bằng 93,83% so với cùng kỳ. Ngành công nghiệp khai khoáng bằng 97,93%; Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bằng 84,74%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 0,42%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 8,32% so với cùng kỳ.  Trong ngành công nghiệp khai khoáng, hoạt động khai thác than tăng 3,11% so với cùng kỳ; hoạt động khai thác đá bằng 91,54% so với cùng kỳ năm 2019. Một số sản phẩm sản xuất tăng so với tháng cùng kỳ trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo như: sản xuất bánh quy tăng 0,18%; chế biến chè tăng 65,29%; rượu tăng 4,94%. Ngành công nghiệp điện, sự tăng giảm sản lượng phụ thuộc vào lệnh điều độ sản xuất của Tổng Công ty Điện lực. Sản lượng điện sản xuất tháng 4/2020 tăng 0,85%; điện thương phẩm bằng 98,12% so với cùng kỳ. So với cùng kỳ năm trước, ngành khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 11,27%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 6,01%.
     Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn có đặc điểm thuận lợi là có lực lượng lao động chủ yếu là nhân dân địa phương. Công tác kiểm soát, phòng ngừa dịch bệnh hiện nay đã và đang được thực hiện nghiêm ngặt. Do vậy, trong những tháng đầu năm, hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp trên địa bàn đang cố gắng, nỗ lực duy trì hoạt động sản xuất. Các doanh nghiệp lớn như Công ty Cổ phần xi măng Đồng Bành, Công ty cổ phần Kim loại màu Bắc Bộ, hiện nay vẫn duy trì, đảm bảo sản xuất và thực hiện các biện pháp an toàn phòng chống dịch trong sản xuất.
     4 tháng đầu năm 2020, chỉ số sản xuất chung ngành công nghiệp tăng 2,04% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngành công nghiệp khai thác tăng 4,36%; Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bằng 94,57%; một số ngành công nghiệp cấp 2 có chỉ số sản xuất tăng như: hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm, đồ uống, sản phẩm giấy, hoạt động in ấn và sản xuất đồ nội thất… Một số ngành sản xuất có chỉ số giảm so với cùng kỳ như: sản xuất da, chế biến gỗ, sản xuất hóa chất, sản phẩm nhựa, sản phẩm điện tử quang học, xe máy, xe đạp điện…; Ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 8,53%; Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 7,92% trong đó hoạt động khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 10,47%, hoạt động thu gom rác thải tăng 6,29% so với cùng kỳ năm trước.  
     2.3. Chỉ số sử dụng lao động 
     Từ đầu tháng 4/2020, thực hiện giãn cách toàn xã hội; các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp nghiêm túc thực hiện cho lao động luân phiên đến làm việc tại cơ sở. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 4/2020 giảm 0,15% so với tháng trước và giảm 6,35 % so với cùng kỳ. Trong đó, so với cùng kỳ ngành khai khoáng chỉ số sử dụng lao động giảm 0,43%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 14,06%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 1,32%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,06%. Bình quân 4 tháng đầu năm 2020, chỉ số sử dụng lao động giảm 2,21% so với cùng kỳ năm trước.
     3. Đầu tư, xây dựng
     3.1. Tình hình vốn đầu tư thực hiện tháng 4 năm 2020
     Dự ước vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh tháng 4 năm 2020, ước thực hiện 155.798 triệu đồng, đạt 4,46% so với kế hoạch năm 2020, giảm 0,88 %  (tương đương giảm 1.377 triệu đồng) so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 95.802 triệu đồng, giảm 1,09% so với cùng kỳ năm trước; Vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 59.996 triệu đồng, giảm 0,53% so với cùng kỳ.
     3.2. Tiến độ thực hiện một số dự án trên địa bàn tỉnh
     Dự án Cầu thị trấn Lộc Bình: Công trình có tổng mức đầu tư 181.190 triệu đồng. Lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 4 năm 2020 ước thực hiện được 133.100 triệu đồng đạt 73,45% so với kế hoạch. 
     Dự án đường đến trung tâm xã Tân Yên, huyện Tràng Định: Công trình có tổng mức đầu tư 414.410 triệu đồng. Lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 4 năm 2020 ước thực hiện được 334.716 triệu đồng đạt  80,76% so với kế hoạch. 
     Dự án Hợp phần bồi thường hỗ trợ Tái định cư, dự án Hồ chứa nước Bản Lải, công trình có tổng mức đầu tư 1.028.200  triệu đồng. Lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 4 năm 2020 ước thực hiện được 827.366 triệu đồng đạt 80,46 % so với kế hoạch.
     Hoạt động đầu tư xây dựng trong các tháng đầu năm tập trung chủ yếu vào thi công các công trình chuyển tiếp từ năm trước và thủ tục chuẩn bị đầu tư đối với các công trình khởi công mới, như: Cải tạo nâng cấp QL4B (đoạn Km3+700-Km18); Kè chống sạt lở bờ sông Kỳ Cùng thị trấn Na Sầm, huyện Văn Lãng; Nâng cấp, sửa chữa cơ sở vật chất, bổ sung trang thiết bị cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Lạng Sơn... Giá trị khối lượng thực hiện các nguồn vốn đầu tư công đến tháng 4/2020 ước đạt 650 tỷ đồng, đạt 19,9% kế hoạch ; ước giải ngân, thanh toán ước đạt 800 tỷ đồng, đạt 24,5% kế hoạch .
     4. Tài chính, ngân hàng
     4.1. Tài chính 
     Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện 4 tháng năm 2020 là 1.710 tỷ đồng, đạt 29,2% so với dự toán Trung ương giao, đạt 27,8% so với dự toán tỉnh giao, bằng 88,2% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó: Thu nội địa là 845 tỷ đồng, đạt 30,7% so với dự toán tỉnh giao, bằng 95,3% so với cùng kỳ năm 2019. Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 863 tỷ đồng, đạt 25,4% so với dự toán giao, bằng 82,1% so với cùng kỳ năm 2019.
     Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện 4 tháng năm 2020 là 3.158 tỷ đồng, đạt 26,9% so với dự toán tỉnh giao, bằng 104,3% so cùng kỳ năm 2019.
     4.2. Ngân hàng 
     Trước tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân; thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và UBND tỉnh Lạng Sơn, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Lạng Sơn đã kịp thời chỉ đạo các chi nhánh tổ chức tín dụng trên địa bàn tăng cường áp dụng  các biện pháp phòng, chống  dịch Covid - 19  hiệu quả và  triển khai các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.
     Ước thực hiện đến ngày 30/4/2020: Tổng huy động vốn đạt 30.500 tỷ đồng, tăng 0,61% so với tháng trước và tăng 11,46% so với cùng kỳ năm 2019; Dư nợ tín dụng đạt 30.920 tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 9,06% so với cùng kỳ năm 2019.
     5. Thương mại và dịch vụ
     5.1. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng
     Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 4/2020 dự tính đạt 1.156 tỷ đồng, giảm 13,67% so với tháng trước và giảm 22,47% so với cùng kỳ. 
     Dự ước tổng mức bán lẻ 4 tháng đầu năm 2020 đạt 5.554 tỷ đồng, giảm 9,25% so với cùng kỳ năm trước. Chủ yếu giảm ở các nhóm ngành hàng hóa sau: Nhóm lương thực, thực phẩm giảm 9,06%; nhóm hàng may mặc giảm 9,48%; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình giảm 11,6%...Trong những ngày đầu tháng 4/2020 do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 các hoạt động trao đổi mua bán, sản xuất kinh doanh thương mại giảm mạnh, duy nhất trong ngày 31/3/2020, sau khi biết thông tin cách ly toàn xã hội bắt đầu từ ngày 01/4/2020 nhân dân đã tranh thủ đi mua sắm các mặt hàng lương thực, thực phẩm để dự trữ tại các cửa hàng, đại lý, hệ thống siêu thị, hệ thống cửa hàng tiện ích Vinmart+…trên địa bàn tỉnh, số lượng hàng hóa được bán chạy nhất chủ yếu là mặt hàng như gạo, mỳ tôm, thức ăn chế biến đóng hộp, giấy vệ sinh, khẩu trang…Tuy nhiên, dưới sự chỉ đạo và tuyên truyền kịp thời của Chính phủ, Bộ Công thương và lãnh đạo các cấp, các ngành không xảy ra trường hợp khan hiếm hàng, hàng hóa phục vụ nhu cầu thiết yếu cho đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân được cung cấp đầy đủ.
     Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tháng 4 và dự ước 4 tháng năm 2020 như sau:
     Doanh thu ước tính ngành hoạt động lưu trú, ăn uống tháng 4 năm 2020 đạt 68,7 tỷ đồng, so với tháng trước giảm 34,45% và so cùng kỳ giảm 52,15%. Doanh thu dịch vụ lữ hành dự tính đạt 0,4 tỷ đồng giảm 38,76% so với tháng trước và giảm 62,51% so với cùng kỳ.
     Dự tính doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 4 tháng năm 2020 đạt 451,4 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước giảm 23,71%. Doanh thu dịch vụ lữ hành dự ước 4 tháng đạt 2,9 tỷ đồng giảm 29,34% so với quý cùng kỳ.
     Doanh thu hoạt động dịch vụ khác (trừ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) tháng 4 và dự ước 4 tháng năm 2020:
     Doanh thu hoạt động dịch vụ tháng 4 năm 2020 đạt 28,6 tỷ đồng, giảm 17,35% so với tháng trước và giảm 23,61% so cùng kỳ năm trước. Hầu hết các nhóm ngành dịch vụ trong tháng 4/2020 đều giảm sâu so với tháng trước. 
     Dự ước doanh thu dịch vụ trong 4 tháng đầu năm 2020 đạt 140,4 tỷ đồng, giảm 8,89% so với cùng kỳ năm trước. 
     5.2. Vận tải
     Nhân dân, người lao động trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn từ 0 giờ ngày 01/4/2020 đến hết ngày 15/4/2020 đã thực hiện tương đối nghiêm túc Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tưởng Chính phủ ngày 31/3/2020 về các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19.
Do dịch bệnh diễn biến phức tạp, cùng với việc cách ly toàn xã hội theo chỉ thị số 16/CT-TTg nên các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ trong tháng 4 và 4 tháng đầu năm giảm sâu so với cùng kỳ năm trước:
     Dự ước doanh thu toàn ngành vận tải tháng 4/2020 đạt 95,4 tỷ đồng, giảm 19,76% so với tháng trước và giảm 25,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:
     Vận tải hành khách: doanh thu giảm 39,19%; khối lượng hành khách vận chuyển giảm 44,67%; khối lượng hành khách luân chuyển giảm 35,6% so với tháng trước. So với tháng cùng kỳ năm trước, doanh thu giảm 68,98%; khối lượng hành khách vận chuyển giảm 71,7% và khối lượng hành khách luân chuyển giảm 65,51%.
     Vận tải hàng hóa: doanh thu giảm 25,7%; khối lượng hàng hóa vận chuyển giảm 19,7%; khối lượng hàng hóa luân chuyển giảm 26,3% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước: doanh thu giảm 25,4%; khối lượng hàng hóa vận chuyển giảm 53,4% và khối lượng hàng hóa luân chuyển giảm 18,6%.
     Dự ước 4 tháng, doanh thu toàn ngành vận tải đạt 407,6 tỷ đồng, giảm 15,84% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: doanh thu vận tải hành khách là 76 tỷ đồng (giảm 41,31% về doanh thu; giảm 45,89% về khối lượng hành khách vận chuyển và giảm 44,32% về hành khách luân chuyển); doanh thu vận tải hàng hóa là 224,9 tỷ đồng (giảm 7,50% về doanh thu, giảm 21,39% về khối lượng hàng hóa vận chuyển và giảm 9,53% khối lượng hàng hóa luân chuyển).
     Riêng hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải, do hàng hóa xuất, nhập khẩu chậm, hàng hóa tồn đọng nhiều do vậy doanh thu kho, bãi so với cùng kỳ năm trước chỉ giảm 4,83%.
     Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Lạng Sơn, từ 15/3-15/4/2020 số xe ô tô được đăng ký mới trên phạm vi toàn tỉnh là 233 xe; hiện đang quản lý 29.829 xe; số xe mô tô, xe gắn máy đăng ký mới 1.253 xe, hiện đang quản lý 465.214 xe.
     Do chấp hành tương đối nghiêm túc chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, vận tải hành khách trong nửa đầu tháng 4 hầu như không hoạt động, do vậy hàng hóa vận chuyển qua đường chuyển, phát tăng cao so với cùng kỳ năm trước (tăng 218,4%).
     Dự ước, sang quý II, thời tiết ấm lên, dịch bệnh có khả năng chậm và hết, lúc đó mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh trở lại bình thường thì doanh thu các hoạt động, dịch vụ mới có thể tăng trở lại.
     5.3. Xuất, nhập khẩu
     Do tác động của dịch Covid-19 đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa qua các cửa khẩu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Hiện nay hoạt động xuất nhập khẩu giao thương với Trung Quốc gặp khó khăn do việc hạn chế qua lại biên giới, cửa khẩu và gián đoạn nguồn cung từ thị trường Trung Quốc, trong bối cảnh nhằm kiểm soát dịch, các biện pháp liên quan đến thắt chặt qua lại biên giới đang được đẩy mạnh, dự kiến tiếp tục và duy trì trong thời gian tới.
     Tính đến hết ngày 15/4/2020: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 612,9 triệu USD, giảm 47,5% so với cùng kỳ. Trong đó: Xuất khẩu đạt 285,1 triệu USD, giảm 50,6% so với cùng kỳ. Mặt hàng chủ yếu qua địa bàn tỉnh Lạng Sơn là hoa quả, ván gỗ bóc, quặng sắt, đồ gỗ mỹ nghệ....Kim ngạch xuất khẩu giảm là do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 dẫn đến hoạt động thông quan hàng hóa tại các khu vực cửa khẩu bị dừng một thời gian. Sau khi được thông quan trở lại lượng hàng hóa vẫn còn hạn chế do chính sách của Trung Quốc đã ảnh hưởng lớn đến kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong giai đoạn này. Nhập khẩu đạt 327,8 triệu USD, giảm 44,4% so với cùng kỳ. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị, các phương tiện vận tải, linh kiện ô tô, thanh nhôm hợp kim, sắt thép và các sản phẩm sắt thép, hàng tiêu dùng, nội thất.
     6- Chỉ số giá 
     6.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
     Tháng 4 năm 2020, CPI chung toàn tỉnh giảm 1,36% so với tháng trước; tăng 6,77% so với cùng kỳ năm trước, tăng 8,93% so với bình quân cùng kỳ, cụ thể:
     CPI chung toàn tỉnh so với tháng trước: Một số nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước, gồm: 
     - May mặc, mũ nón và giầy dép giảm 0,15%: Chỉ số giá nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm so với tháng trước chủ yếu ở các mặt hàng may mặc vào mùa đông như: áo khoác, áo len, găng tay, bít tất ...
     - Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 3,13%: Chỉ số giá tiêu dùng nhóm hàng này giảm chủ yếu ở các mặt hàng sau: Giá điện sinh hoạt giảm 1,8%; Giá dầu hỏa bình quân tháng 4 năm 2020 giảm mạnh 28,17% so với tháng trước; do điều chỉnh giảm giá vào 15h ngày 13/4/2020; Giá gas giảm 19,18% từ ngày 1/4/2020. Chỉ số giá mặt hàng ga và các chất đốt khác giảm 20,62%, đóng góp giảm 0,3 điểm % vào CPI.
     - Nhóm giao thông giảm 11,65%: Tính đến 15 giờ ngày 13/4/2020 giá xăng A95 là 12.442đ/L, giá dầu Diezen là 11.221đ/L, chỉ số nhóm này giảm mạnh 27,8%, đóng góp giảm 1,06 điểm % vào CPI.
Ngoài ra những nhóm hàng hóa giảm có 3 nhóm hàng hóa tăng là so với tháng trước như:
     - Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,47%, trong đó: 
     Lương thực tăng 1,79%: Chỉ số giá nhóm lương thực tăng ở mặt hàng gạo (tăng 2,65%), mặt hàng bột mì và ngũ cốc khác (tăng 0,77%).  
     Thực phẩm tăng 1,16%: Chỉ số giá của hầu hết các mặt hàng trong nhóm thực phẩm tăng, cụ thể: Giá thịt gia súc tươi sống tăng 0,74%, giá thịt lợn hơi tăng dẫn đến giá thịt lợn tăng 0,88% so với tháng trước, giá thịt bò tăng 0,06%. Giá thịt gia cầm tươi sống giảm 0,36%, nguyên nhân chủ yếu nguồn cung dồi dào. Giá trứng các loại tăng 1,45%. Giá rau tươi tăng 6,67% so với tháng trước. Giá quả tươi giảm 0,68%, nguyên nhân chủ yếu do lượng hàng cung ứng dồi dào, việc xuất nhập khẩu hàng hóa bị đình trệ do ảnh hưởng của dịch bệnh trong nước và thế giới.
     Nguyên nhân chủ yếu nhóm lương thực, thực phẩm tăng do tâm lý của người dân chuẩn bị hàng  hóa tích trữ  khi thời gian cách ly toàn xã hội được thực hiện.Tuy nhiên, với sự điều hành của Chính phủ việc tăng, giảm giá các mặt hàng tiêu dùng được kiềm chế theo mục tiêu của Chính phủ đã đề ra.
     Ăn uống ngoài gia đình giảm 2,17%: Việc thực hiện cách ly các nhà hàng, quán ăn trên địa bàn tỉnh phải đóng cửa, chỉ thực hiện giao hàng tận nhà nhưng do nhu cầu của người dân giảm mạnh nên chỉ số giá giảm so với tháng trước.
     Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng nhẹ 0,01%: Chỉ số nhóm hàng này tăng ở mặt hàng đồ dùng cá nhân: Đồ trang sức (tăng 1,45%) do giá vàng trong nước tăng.
     Chỉ số giá CPI chung toàn tỉnh tăng 6,77%  so với cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của một số nhóm hàng sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 21,51%; Nhóm may  mặc, mũ nón, giầy, dép tăng 0,28%; Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 3,4%; Nhóm thiết bị đồ dùng gia đình tăng 1,09%; Nhóm giáo dục tăng 7,42%;  Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,06%. 
     Chỉ số giá CPI chung toàn tỉnh  tăng 8,93%  so với bình quân cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của một số nhóm hàng sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 21,42%; Nhóm may  mặc, mũ nón, giầy, dép tăng 0,53%; Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 3,4%; Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,41%; Nhóm thiết bị đồ dùng gia đình tăng 1,22%; Nhóm giáo dục tăng 7,42%;  Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,01%. 
      6.2. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
     - Chỉ số giá vàng so với tháng trước tăng 2,2%, tăng 29,69% so với cùng kỳ và tăng 47,33% so với kỳ gốc năm 2014: Chỉ số giá vàng bình quân tháng 4/2020 so với tháng trước tăng do trong tháng giá vàng thế giới có nhiều biến động  thị trường vàng trong nước giao dịch điều chỉnh giá tăng, giảm theo giá thị trường.
     - Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,3% so với tháng trước, tăng 0,76% so với cùng kỳ và tăng 9,17% so với kỳ gốc năm 2014. 
     7- Một số tình hình xã hội 
     7.1. Giải quyết việc làm 

      Trung tâm dịch vụ việc làm đã thực hiện tư vấn giới thiệu việc làm: 394 người, lũy kế từ đầu năm 2.682 người. Trong đó, tổng số người được giới thiệu việc làm: 47 lượt người, lũy kế từ đầu năm 573 lượt người; tổng số người nhận được việc làm: 17 người, lũy kế từ đầu năm 186 người. 
     Tiếp tục tăng cường tổ chức các phiên giao dịch việc làm, trong tháng tổ chức được 02 phiên giao dịch việc làm online: số lao động tham gia 54 người; số doanh nghiệp tham gia tuyển dụng gián tiếp mới: 11 doanh nghiệp.
     Từ ngày 01/4/2020, dừng tổ chức phiên giao dịch việc làm tại trung tâm theo Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Duy trì tiếp nhận hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp và thực hiện các quy trình có liên quan đến giải quyết chính sách bảo hiểm thất nghiệp.
Số người nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp 312 người, lũy kế từ đầu năm 873 người. Số người có quyết định hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp 250 người, lũy kế từ đầu năm 923 người. Số người được tư vấn 311 người, lũy kế 870 người. Số người được giới thiệu việc làm 33 người, lũy kế từ đầu năm 358 người. Số người được hỗ trợ học nghề 0 người. Số kinh phí chi trả: 3,449 tỷ đồng, lũy kế từ đầu năm 13,181 tỷ đồng.
     7.2. Hoạt động y tế và sức khỏe cộng đồng 
     Trong tháng 4, Sở Y Tế tiếp tục duy trì các thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống dịch COVID-19 từ khu vực cửa khẩu biên giới đến nội địa, đẩy mạnh tuyên truyền, nắm chắc thông tin, hướng dẫn cộng đồng thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe; đảm bảo tối đa về thuốc, trang thiết bị và vật tư y tế cho công tác phòng chống dịch COVID-19.
     Chỉ đạo triển khai Chỉ thị số 16/CT-TTg  ngày 31 tháng 3 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19.
     Kết quả thực hiện:
     - Công tác truyền thông qua các hoạt động tư vấn Khám sức khỏe, thăm hộ gia đình (được 1.113 lượt người) về phòng chống dịch  Covid-19. 
     - Tại khu vực cửa khẩu: Duy trì thực hiện tờ khai y tế bắt buộc và tờ khai y tế điện tử, kiểm tra thân nhiệt 100% khách xuất nhập cảnh. Phun tiêu độc khử trùng thường xuyên theo quy định. Thực hiện Quy trình kiểm dịch người và phương tiện qua cửa khẩu đảm bảo vừa lưu thông hàng hóa vừa đúng quy trình phòng dịch bệnh COVID-19 theo hướng dẫn của Bộ Y tế .
     - Tại nội địa (tính đến ngày 15/04/2020):
     + Tại các khu các ly của tỉnh: Cách ly 100% người từ vùng có dịch Covid-19 về; tổng số được cách ly tại 03 khu cách ly của tỉnh là 3.644 người (trong đó đã hoàn thành cách ly đủ 14 ngày là 3.390 người, hiện còn 254 người).
     + Tại các cơ sở y tế trong tỉnh: Cách ly là 233 người (trong đó đã hoàn thành cách ly đủ 14 ngày là 206 người, hiện còn 27 người).
     + Xét nghiệm sàng lọc Covid-19 tại tỉnh Lạng Sơn từ ngày 3/4/2020. Lấy mẫu xét nghiệm sàng lọc Covid-19 cho 986 người ( trong đó có 604 mẫu sàng lọc cho lái xe khu vực cửa khẩu).
    + Tại các trường học: Tổ chức phun tiêu độc khử trùng tại 100% các trường học trên địa bàn tỉnh. Tổ chức 04 lớp tập huấn về công tác y tế trường học, phòng chống dịch Covid-19 cho cán bộ ngành giáo dục, nhân viên y tế trường học của các trường trên địa bàn tỉnh, tổng 350 người tham dự… 
    + Công tác kiểm tra tại 07 chốt kiểm dịch y tế liên ngành do tỉnh tổ chức: Số lượt phương tiện đi qua: 64.031 lượt; số lượt người được kiểm tra y tế: 68.451 lượt; đã và đang cách ly tạm thời 06 người (trong đó:03 người Việt nam và 03 người Trung Quốc).
    + Rà soát, cách ly, quản lý những người tiếp xúc gần từ các ổ dịch trong nước: Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội là 654 người Lạng Sơn; công ty TNHH Samsung Display Việt Nam tại tỉnh Bắc Ninh 19 người. 
    + Tại cộng đồng: Thực hiện theo dõi y tế đối với các trường hợp về từ vùng dịch là 14.939 người (trong đó số trường hợp về từ vùng dịch cách ly tại nhà, nơi lưu trú đã qua 14 ngày là 14.855 người; số hiện tại đang theo dõi cách ly là 84 người ). 
    - Tiếp nhận tài trợ và chuẩn bị nhiều vật tư phục vụ cho công tác phòng, chống dịch Covid-19: Khẩu trang y tế, mặt nạ kháng khuẩn/chống giọt bắn, bộ trang phục chống dịch, nhiệt kế điện tử, găng tay cao su y tế, dung dịch rửa tay khô, khẩu trang vải kháng khuẩn,..... 
     - Chuẩn bị vật tư và cơ sở là khu phòng khám của Bệnh viện đa khoa tỉnh cũ làm bệnh viện dã chiến, sẵn sàng cho tình huống khi bùng phát dịch.
     Thực hiện tốt công tác phòng, chống các loại dịch bệnh khác trên địa bàn tỉnh. Trong tháng không có dịch bệnh lớn xảy ra trên địa bàn tỉnh. Không có tử vong do mắc bệnh truyền nhiễm. Tình hình bệnh truyền nhiễm trên địa bàn tỉnh trong tháng một số loại bệnh có số ca mắc tăng, cũng có những bệnh có số ca mắc giảm so với cùng kỳ năm 2019 .
     Phối hợp các ngành, địa phương nắm bắt thông tin về tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm có nguy cơ lây sang người để có các phương án, biện pháp phòng ngừa hiệu quả.    
       Duy trì hoạt động thường xuyên của các chương trình mục tiêu Y tế - Dân số như: Dự án Phòng, chống HIV/AIDS ; Công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn toàn tỉnh ; Dự án Tiêm chủng mở rộng; Dự án Phòng, chống một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và các bệnh không lây nhiễm phổ biến; Dự án An toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP)......
      7.3. Hoạt động văn hoá, thể thao 
      Thực hiện chỉ đạo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Sở đã tích cực thực hiện công tác tuyên truyền phòng chống dịch Covid-19 trên địa bàn toàn tỉnh. Đồng thời tích cực thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch, công tác phòng, chống dịch bệnh.
     Bảo vệ và phát huy di sản văn hóa: 
     Ban hành kế hoạch, dự toán kinh phí, đề cương lập đề án bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Múa sư tử dân tộc Tày, Nùng tỉnh Lạng Sơn; đề nghị UBND tỉnh cho chủ trương lập dự án tu bổ di tích Đền Cửa Nam, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn; đề nghị UBND tỉnh ban hành văn bản đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thẩm định báo cáo kinh tế - kỹ thuật tu bổ di tích lịch sử khởi nghĩa Bắc Sơn (huyện Bắc Sơn) và di tích Nhà lưu niệm đồng chí Lương Văn Tri (huyện Văn Quan).
Hoạt động chiếu bóng: Thực hiện 135 buổi tuyên truyền phòng, chống dịch Covid-19, đến 120 lượt xã, phát hơn 5.000 tờ rơi; chỉ đạo Trung tâm Phát hành phim và Chiếu bóng tạm dừng chiếu phim tại rạp Đông Kinh từ ngày 27/3/2020 đến khi có chủ trương cho hoạt động trở lại. 
    Hoạt động thể dục, thể thao: Thực hiện công tác phòng, chống dịch Covid-19 trong lĩnh vực TDTT; rà soát danh sách các cơ sở kinh doanh hoạt động lĩnh vực TDTT trên địa bàn tỉnh; tạm hoãn các giải thi đấu thể thao cấp tỉnh trong tháng 5 năm 2020; trao đổi với Tổng cục Thể dục thể thao xin ý kiến về cấp phép hoạt động leo núi thể thao của Công ty Vietclimb. Tạm dừng các hoạt động đào tạo, huấn luyện các đội tuyển tham gia các giải thể thao khu vực và toàn quốc để thực hiện công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19. 
     Hoạt động Du lịch: Tổng lượng khách du lịch trong tháng 4/2020 đạt 34.700 lượt khách (giảm 86,6% so với cùng kỳ năm 2019), trong đó khách quốc tế đạt 650 lượt (giảm 98,5%), khách nội địa đạt 34.050 lượt (giảm 84,3%), doanh thu ước đạt 14,5 tỷ đồng (giảm 80%). Nguyên nhân giảm do tác động của dịch bệnh Covid-19 gây ra.
      7.4. Trật tự - An toàn giao thông 
     Thực hiện Chỉ thị 16/CT-TTG, về phòng, chống dịch Covid-19. Ngành chức năng của tỉnh đã yêu cầu tạm dừng tất cả hoạt động vận chuyển của các tuyến vận tải hành khách cố định (liên tỉnh, nội tỉnh), xe buýt, xe hợp đồng, xe du lịch, xe taxi, các loại xe bốn bánh có sử dụng năng lượng điện để vận chuyển hành khách trên địa bàn tỉnh tỉnh Lạng Sơn, trừ trường hợp đặc biệt vì lý do công vụ và các trường hợp cung cấp lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm cần thiết, xe đưa đón công nhân, chuyên gia của các doanh nghiệp, chuyên chở nguyên vật liệu sản xuất. 
      Tháng 4 năm 2020 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã xảy ra 04 vụ tai nạn giao thông đường bộ nghiêm trọng, làm 04 người chết, 01 người bị thương. Tính chung trong 4 tháng đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 14 vụ tai nạn giao thông, làm 14 người chết, 05 người bị thương; giảm 01 vụ (-6,7%), giảm 02 người chết (-12,5%), giảm 01 người bị thương (-16,7%) so với 4 tháng năm 2019.
Nguyên nhân tai nạn chủ yếu là do phóng nhanh vượt ẩu của người điều khiển phương tiện đã không làm chủ được tốc độ.
     7.5. Môi trường
     Trong tháng 4/2020, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn xảy ra 02 trường hợp vi phạm môi trường về việc khai thác đất và khoáng sản trái phép, ngành chức năng đã tiến hành xử lý vi phạm, mức xử phạt với số tiền là 29 triệu đồng.     
     7.6. Thiệt hại do thiên tai
     Thiệt hại do lốc, sét, mưa đá: Trong tháng 4/2020 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã xảy ra giông lốc, sét và mưa đá tại huyện Tràng Định, Văn Lãng, Văn Quan gây thiệt hại nặng nề về nhà cửa và hoa màu. Ước tính thiệt hại như sau: 
     - Thiệt hại về nông, lâm nghiệp ước giá trị thiệt hại là 290 triệu đồng, cụ thể:
      + Diện tích mạ: 20ha, ước tính giá trị thiệt hại: 20 triệu đồng.
     + Diện tích rừng hiện có: 3 ha, ước tính thiệt hại : 270 triệu đồng.
     - Thiệt hại về người: làm cho 01 người chết. 
     - Về nhà cửa: 321 nhà, ước tính thiệt hại 1,4 tỷ đồng.
     - Thiệt hại khác ước tính 510 triệu đồng.
     Ước tổng thiệt hại trên địa bàn tỉnh trên 2,2 tỷ đồng.
     Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn tháng 4 năm 2020./.

Tác giả bài viết: Cục Thống kê tỉnh Lạng Sơn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây