Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn tháng 2 năm 2020

Thứ hai - 09/03/2020 11:07
Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 213,3 tỷ đồng, ước thực hiện 02 tháng là 700 tỷ đạt 11,4% dự toán năm và bằng 81,5% so với cùng kỳ
BÁO CÁO
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2020

1-    Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản.
          Thời tiết cuối tháng 01 đầu tháng 02 diễn biến phức tạp, rét đậm, rét hại xảy ra trên diện rộng; Có mưa vừa, mưa to và kèm theo giống lốc, mưa đá trải rộng trên 92 xã của 10 huyện, thành phố, gây thiệt hại và ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất nông nghiệp trong tháng. Bên cạnh đó tiến độ gieo trồng nông nghiệp tháng 02 rơi vào tháng Tết Nguyên đán nên tiến độ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn giảm mạnh.
             Trong tháng bà con đang tập trung thu hoạch cây trồng vụ Đông, đồng thời khẩn trương thu hoạch đến đâu tiến hành làm đất chuẩn bị gieo trồng cho vụ Xuân năm 2020. Sau dịp nghỉ Tết Nguyên đán, nông dân mới tập trung và đẩy mạnh sản xuất vụ Xuân năm 2020. Các ngành, các cấp của tỉnh đã chủ động việc cung ứng giống mới, phân bón các loại. Tập trung sửa chữa, cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới các công trình thủy lợi, nâng cao năng lực tưới, đảm bảo an toàn hồ, đập, kiểm tra khả năng tưới tiêu của các hồ chứa nước, chủ động điều tiết nước phục vụ sản xuất và phòng chống thiên tai, biến đổi của thời tiết.
Tập trung giữ ấm cho đàn gia súc gia cầm, đảm bảo nguồn thức ăn trong thời tiết rét đậm, rét hại, tiêm phòng và vệ sinh tiêu độc khử trùng môi trường; theo dõi phát triển của dịch bệnh để có biện pháp xử lý kịp thời. Chuẩn bị tốt số lượng cây giống lâm nghiệp đủ tiêu chuẩn để trồng rừng theo kế hoạch. Làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu về trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng.
1.1.    Nông nghiêp
a.     Trồng trọt:

 Hiện nay trên địa bàn tỉnh đang tiến hành cày ải đất vụ Xuân, thu hoạch cây trồng vụ Đông, chăm sóc và trồng các loại cây rau màu vụ Xuân.
Thu hoạch vụ Đông 
Diện tích thu hoạch cây vụ Đông trên địa bàn tỉnh ước đạt 1.573,80 ha, (cộng dồn từ đầu năm ước thực hiện được 3.131,52 ha, bằng 87,25% so với diện tích gieo trồng trong vụ). Dự tính, diện tích cây vụ Đông còn lại sẽ thu hoạch xong vào cuối tháng 02/2020. Tình hình thu hoạch một số cây trồng chính vụ Đông trong tháng như sau:
* Cây ngô: Diện tích thu hoạch ước đạt 76,30 ha, giảm 0,22%  so với cùng kỳ; Năng suất ước đạt 43,15 tạ/ha, tăng 0,12%  so với cùng kỳ; Sản lượng ước đạt 329,23 tấn, giảm 0,11%  so với cùng kỳ năm trước. Diện tích thu hoạch giảm do một phần diện tích gieo trồng ngô vụ Đông người dân chuyển sang trồng ớt cay và rau các loại, các loại cây trồng này  cho năng suất thu hoạch và giá trị kinh tế cao; do chăn nuôi lợn giảm, nhu cầu sử dụng ngô làm thức ăn chăn nuôi cũng giảm theo.
* Cây khoai lang: Diện tích thu hoạch ước đạt 42,40 ha, tăng 0,62% ; Năng suất ước đạt 62,9 tạ/ha, tương ứng sản lượng ước đạt 266,7 tấn, tăng 0,65% so với cùng kỳ năm trước. Khoai lang vụ Đông trồng chủ yếu ở huyện Hữu Lũng với diện tích cho thu hoạch ước đạt 25ha. Giống cây khoai lang ruột vàng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, cho năng suất ổn định.
* Cây mía: Diện tích thu hoạch ước đạt 104,26ha, giảm 7,16%;  Sản lượng thu hoạch ước đạt 3.732,1 tấn, giảm 7,36%  so với cùng kỳ năm trước; Cây mía được trồng chủ yếu để ăn nên người dân không mở rộng diện tích và được trồng nhiều ở huyện Cao Lộc, Bắc Sơn.
* Cây rau: Diện tích thu hoạch rau các loại ước đạt khoảng 816,33 ha, tăng 1,32% so với cùng kỳ; Sản lượng ước đạt 9.593,45 tấn, tăng 1,76%  so với cùng kỳ năm trước. Do vào thời điểm dịp tết và do ảnh hưởng của mưa đá, giá rau tăng 6,99% so với cùng kỳ.
* Cây khoai tây: Diện tích thu hoạch khoai tây ước đạt 209,51 ha, bằng 48,37% diện tích gieo trồng; Năng suất ước đạt 109,80 tạ/ha, tương ứng sản lượng ước đạt 2.300,42 tấn. Diện tích gieo trồng cây khoai tây giảm do đầu ra không ổn định, giá bán thấp, người dân chuyển sang trồng cây hàng năm khác cho giá trị kinh tế cao hơn.
* Cây thuốc lá: Diện tích thu hoạch thuốc lá đông ước đạt 110,21 ha, giảm 5,49% so với cùng kỳ năm trước, bằng 100%  diện tích gieo trồng. Diện tích gieo trồng thuốc lá giảm là do giá thu mua thấp, thị trường tiêu thụ khó khăn nên người dân có tâm lý e ngại và gieo trồng ít hơn so với cùng kỳ. 
Diện tích gieo trồng vụ Xuân 2020
Thời tiết trong tháng mưa nhiều thuận lợi cho khâu làm đất với tổng diện tích cày ải ước thực hiện được 11.394 ha, tăng 2,69%  so với cùng kỳ. Bà con tiến hành gieo trồng các loại cây nông nghiệp hàng năm khi đến vụ như:
        * Cây ngô: Diện tích gieo trồng ước 350,95 ha, giảm 2,65%  so với cùng kỳ, diện tích trên chủ yếu trồng các huyện: Bắc Sơn (250 ha), Tràng Định (55 ha), Văn Quan (31ha). Diện tích gieo trồng giảm do mưa nhiều, trồng thối hạt, bên cạnh đó trùng vào dịp Tết Nguyên đán nên người dân chưa xuống đồng.
* Cây khoai lang: Diện tích gieo trồng ước 44,50 ha, giảm 0,67%  so với cùng kỳ năm trước; Giá khoai lang không ổn định, sản phẩm chủ yếu phục vụ nhu cầu địa phương với giống khoai lang tím, vàng, được trồng nhiều nhất ở huyện Lộc Bình.
* Cây mía: Diện tích gieo trồng ước 75,7 ha, giảm 3,57%  so với cùng kỳ. Diện tích mía ngày càng thu hẹp vì giá trị kinh tế không cao, cây mía trồng chủ yếu để ăn nên người dân không mở rộng diện tích; Trồng nhiều ở huyện Cao Lộc, Bắc Sơn.
* Cây rau, đậu: Diện tích gieo trồng ước 1.227,06 ha, giảm 1,33%  so với cùng kỳ, các giống rau chủ yếu là rau diếp, cải các loại, bắp cải, su hào...Diện tích rau màu bị ảnh hưởng của trận giống lốc, mưa đá chủ yếu là rau các loại.
        * Cây thuốc lá: Diện tích gieo trồng ước 318,4 ha, tăng 27,36% so với cùng kỳ; Do thời tiết đầu vụ có mưa, thuận lợi từ khâu làm đất, gieo trồng và chăm sóc; Công tác ươm trồng cây thuốc lá giống được chuẩn bị đầy đủ, đáp ứng đủ giống cho vụ sản xuất, cây con phát triển khỏe mạnh, tỷ lệ sống cao. Diện tích thuốc lá tập trung gieo trồng các huyện Chi Lăng, Bắc Sơn, Văn Quan.
Tình hình dịch bệnh
Trong tháng, Chi cục Bảo vệ thực vật của tỉnh, Trạm Bảo vệ thực vật của các huyện, thành phố đã thực hiện tốt công tác điều tra phát hiện, dự báo dịch hại cây trồng và hướng dẫn nhân dân phòng trừ đạt hiệu quả. Các loài dịch hại chính như sâu xanh bướm trắng, bọ nhảy trên cây rau họ hoa thập tự; bệnh héo xanh, bệnh sương mốc trên cây khoai tây; bệnh xoăn lá, bệnh khảm lá trên cây thuốc lá đông... có diện tích gây hại tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước, tuy nhiên không phát sinh thành dịch, không ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng.
b. Chăn nuôi: 
Tình hình sản xuất 
Trong tháng mặc dù diễn biến thời tiết rất phức tạp, nhưng người chăn nuôi đã chủ động nuôi nhốt trâu, bò và sử dụng các biện pháp giữ ấm cho chúng, hạn chế thả rông nên không có trâu, bò chết rét. Tận dụng rơm khô, cỏ khô tích trữ từ đầu vụ Đông làm thức ăn cho trâu, bò, đảm bảo trâu, bò không bị chết đói. 
* Tổng đàn trâu: Hiện nay, đàn trâu có giảm nhẹ so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu sử dụng sức kéo giảm, không có lao động chăn dắt, cụ thể: Ước tính số đầu con trâu tháng 02 năm 2020 có 85.608 con, giảm 1,83% ; Số con trâu xuất chuồng đạt 2.158 con, tăng 0,41%  so với cùng kỳ; Sản lượng xuất chuồng đạt 517,67 tấn.
* Tổng đàn bò: Do có chính sách hỗ trợ người dân trong phát triển kinh tế, một số chương trình đã được tổ chức và thực hiện có hiệu quả như chương trình Lục lạc vàng; chương trình xóa đói giảm nghèo đưa bò sinh sản đến các hộ dân nên tổng đàn bò có tăng nhẹ so với cùng kỳ, cụ thể: Ước tính số đầu con bò tháng 02/2020 có 32.685 con, tăng 2,2%  so với cùng kỳ năm trước; Số con bò xuất chuồng đạt 677 con tương đương với sản lượng thịt hơi xuất chuồng 132,47 tấn, tăng 1,76%  so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, nuôi bò theo hướng nhốt chuồng, vỗ béo lấy thịt đang được người chăn nuôi thực hiện có hiệu quả, theo định hướng phát triển và hướng dẫn của cơ quan chuyên môn.
* Tổng đàn lợn: Hiện tại tình hình Dịch tả lợn Châu Phi đã ổn định, người dân bắt đầu tái đàn trở lại để phục vụ nhu cầu thịt lợn đang khan hiếm. Tuy nhiên do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi xảy ra trong năm 2019 khiến cho tổng đàn lợn giảm mạnh; Giá lợn con giống và giá thức ăn chăn nuôi tăng cao đã ảnh hưởng đến quy mô tái đàn của người chăn nuôi. Số con xuất chuồng trong tháng ước 16.927 con, giảm 72,54%  so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng hơi xuất chuồng đạt 1.250,40 tấn, giảm 72,78%  so với cùng kỳ năm trước. Giá thịt lợn hơi dao động từ 76.000-80.000 đồng/kg, giảm nhẹ so với tháng trước.
* Tổng đàn gia cầm: Tổng đàn gia cầm tăng cao so với cùng kỳ do nhu cầu tiêu thụ thịt gia cầm tăng thay thế thịt lợn khan hiếm, giá thịt lợn cao đặc biệt vào dịp Tết Nguyên đán và tâm lý e ngại đầu tư vào chăn nuôi lợn sau dịch tả lợn Châu Phi xảy ra, người chăn nuôi tập trung phát triển đần gia cầm. Bên cạnh đó được sự hỗ trợ của Nhà nước về con giống, giúp cho hộ nghèo, cận nghèo phát triển kinh tế nên tổng đàn gia cầm tăng cao. Ước tổng đàn gia cầm hiện có 4.757,50 nghìn con, tăng 14,05%  so với cùng kỳ. (Trong đó tổng đàn gà là 4.400,13 nghìn con, tăng 17,58%  so với cùng kỳ). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng của gia cầm đạt 1.544,38 tấn (Trong đó sản lượng gà hơi đạt 1.412,89 tấn). Sản lượng trứng gia cầm đạt 4.177,31 nghìn quả (Trong đó số lượng trứng gà đạt 3.786,75 nghìn quả). Giá trứng gà ta hiện nay ở mức 44,91 nghìn đồng/ 10 quả, trứng gà công nghiệp 25,10 nghìn đồng/ 10 quả. Được giá cùng với thị trường tiêu thụ ổn định nên người dân nuôi gà đẻ trứng nhiều đặc biệt là giống gà siêu trứng cho sản lượng trứng cao. 
Tình hình dịch bệnh
* Dịch tả lợn Châu Phi: Từ ngày 01/01 – 09/02/2020: Dịch tả lợn Châu Phi phát sinh tại 02 hộ tại 02 xã của 02 huyện; Tổng số lợn mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 06 con lợn với tổng trọng lượng 337kg; Ước giá trị thiệt hại 26,5 triệu đồng. Đến nay trên địa bàn tỉnh chỉ có 01/200 xã chưa qua 30 ngày  phát sinh dịch.
* Một số bệnh địa phương vẫn xảy ra dịch bệnh lẻ tẻ, rải rác  như: bệnh tụ huyết trùng, tiên mao trùng trên đàn trâu, bò; bệnh tiêu chảy, lép tô trên đàn lợn; bệnh tụ huyết trùng trên đàn gia cầm... nhưng không bùng phát thành dịch. 
 Giá cả vật nuôi và thức ăn chăn nuôi 
- Giá gà ta hơi ở mức 129,74 nghìn đồng/kg, tăng 2,44% so với tháng trước do nhu cầu tăng cao vào dịp tết, so với cùng kỳ năm trước tăng 2,64%; giá gà công nghiệp phổ biến ở mức 80,35 nghìn đồng/kg, tăng 2,25% so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước tăng 15,28%; giá gà ta giống ở mức 20 nghìn đồng/con, giá gà công nghiệp giống là 18,64 nghìn đồng/con.
- Giá lợn hơi ở mức 78,64 nghìn đồng/kg, so với tháng trước giảm 2,60%; so với cùng kỳ năm trước tăng 61,48%; giá lợn giống ở mức 103,82 nghìn đồng/kg.
- Giá thịt trâu hơi ở mức 115,16 nghìn đồng/kg, so với tháng trước tăng 2,97%; so với cùng kỳ giảm 0,12%; giá thịt bò hơi ở mức 113,50 nghìn đồng/kg, so với tháng tăng 1,77%; so với cùng kỳ năm trước giảm 7,42%.
- Giá thức ăn chăn nuôi: nhìn chung ổn định, giá thức ăn cho gà thịt từ 270.000đ đến 285.000đ/bao/25kg tùy theo từng hãng thức ăn; cho lợn từ 250.000đ đến 290.000đ/bao/25kg tùy theo từng hãng sản xuất.
1.2. Lâm nghiệp 
a. Công tác trồng rừng:

Chăm sóc nâng cao chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp phục vụ các chương trình trồng rừng đảm bảo chất lượng, tổng số cây con có khả năng xuất vườn là 3.220.900 cây con các loại, trong đó: Cây lâm nghiệp: 3.121.500 cây; Cây cảnh quan, ăn quả: 99.400 cây. Kế hoạch sản xuất cây giống năm 2020 là 19.811.500 cây con các loại. 
Đầu năm thực hiện phong trào Tết trồng cây, các ngành, các cấp, các địa phương đã có sự chuẩn bị kỹ về địa điểm, cây giống và vật tư cần thiết nên đã tạo ra không khí sôi nổi trong mọi tầng lớp nhân dân. Kết quả ra quân đầu năm ước trồng được 49,54 nghìn cây.
b. Công tác quản lý, bảo vệ rừng:
Công tác theo dõi tình hình sâu, bệnh hại rừng tại các xã và các điểm hay có dịch xảy ra trên địa bàn huyện được tăng cường. Qua kiểm tra của Chi cục Kiểm lâm không phát hiện dịch sâu bệnh hại rừng.
Chế độ trực, gác lửa rừng tại các xã trọng điểm, theo dõi cảnh báo, dự báo nguy cơ cháy rừng trên địa bàn tỉnh duy trì thường xuyên. Phối hợp tổ chức kiểm tra tuần rừng, tuần tra kiểm soát trên các tuyến đường, các vùng giáp ranh nhằm phát hiện, kịp thời ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng. Trong tháng không có cháy rừng xảy ra.
Số vụ phá rừng trái pháp luật 02 vụ, xảy ra tại thôn Nà Khu, xã Lâm Ca, huyện Đình Lập, diện tích rừng phòng hộ bị phá 4,08 ha. Do người dân phá rừng để trồng rừng sản xuất. 
    c. Khai thác và thu nhặt gỗ và lâm sản khác:
    Khai thác gỗ và thu nhặt lâm sản trong tháng giảm so với cùng kỳ năm trước do Tết Nguyên đán vào giữa tháng 01. Cụ thế:
    - Khai thác gỗ tròn các loại trong tháng ước 7.025m3, giảm 1,22%  so cùng kỳ. Cộng dồn từ đầu năm 18.204,19 m3, tăng 26,11% so cùng kỳ. Khai thác gỗ từ đầu năm tăng cao, diện tích trồng rừng sản xuất ngày càng mở rộng do trồng rừng mang lại hiệu quả kinh tế, cây lâm nghiệp được trồng chủ yếu là keo, mỡ, bạch đàn; Các cơ sở chế biến gỗ ép mở rộng sản xuất, đáp ứng được nhu cầu đầu ra cho người dân tại địa phương.
          - Củi các loại: 70.280 ste, giảm 1,76 %  so cùng kỳ. Cộng dồn từ đầu năm 154.456,22 ste, giảm 1,40%  so cùng kỳ. Do nhu cầu sử dụng củi đun trong sinh hoạt giảm.
1.3. Thủy sản 
Hoạt động thủy sản trong tháng chủ yếu là khai thác tận thu các ao, hồ đang nuôi thả; người dân tập trung chăm sóc đàn cá đã thả theo đúng quy trình kỹ thuật và tăng cường phòng, chống rét cho chúng.Tiếp tục chăm sóc, nuôi vỗ đàn cá bố mẹ theo đúng quy trình kỹ thuật, đảm bảo cá phát triển tốt, tỷ lệ thành thục cao, phục vụ tốt quy trình sinh sản nhân tạo đầu năm 2020. 
2-    Sản xuất công nghiệp.
2.1 Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 02/2020 so với tháng trước.
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 02/2020 so với tháng 01/2020 bằng 95,70%.Trong đó, giảm chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo do tác động của dịch bệnh, nhu cầu tiêu thụ và sản lượng giảm so với tháng Tết, chỉ số ngành này bằng 90,69% so với tháng trước. Ngành công nghiệp khai khoáng bằng 92,15%, trong ngành này tác động giảm chủ yếu ở hoạt động khai thác đá, do thời tiết phức tạp nồm ẩm xen kẽ mưa rét nên ảnh hưởng hoạt động khai thác đá giảm 17,31%. Ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng nhẹ 1,36%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 1,01%. 
Trong công nghiệp khai khoáng, ngoài tác động giảm từ hoạt động khai thác đá, ngành khai thác than cứng và than non dự ước tăng 1,06%. Để phục vụ nhu cầu sử dụng điện sau dịp Tết của nhân dân đặc biệt trong khoảng thời gian nồm ẩm hoặc giá rét, ngành sản xuất và phân phối điện tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất, có chỉ số tăng, trong đó sản lượng điện sản xuất tăng 1,26%; điện thương phẩm tăng 1,85% so với tháng trước. Trong ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải nước thải: hoạt động cung cấp nước sạch dự ước tăng 1,18%; dự ước hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu tăng 0,36%.
2.2 Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 02 và cộng dồn 2 tháng năm 2020 so với cùng kỳ.
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 02/2020 tăng 24,79% so với cùng kỳ năm trước, do năm nay Tết Nguyên đán nằm trọn trong tháng 01 do vậy sang tháng 02 hoạt động sản xuất tuy không tăng so với tháng 01 nhưng tăng cao so với cùng kỳ. Trong đó, công nghiệp khai thác tăng 23,94%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 23,56%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 28,63%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 10,38% so với cùng kỳ.
Trong ngành khai khoáng: sản xuất, khai thác than tăng 21,11% đảm bảo sản lượng than cho hoạt động của công ty cổ phần nhiệt điện Na Dương, khai thác đá tăng 27,82% so với cùng kỳ.
Trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo chỉ duy nhất ngành sản xuất sản phẩm ống  nhựa (sản phẩm từ cao su và plastic) giảm 5,87% so với cùng kỳ do ảnh hưởng của nhu cầu giảm từ thị trường xuất khẩu Mỹ, hiện nay sản phẩm chỉ xuất khẩu thị trường Trung Quốc và có xu hướng giảm do ảnh hưởng của dịch bệnh. Ngoài ngành sản xuất sản phẩm nhựa, các ngành cấp 2 trong ngành trong ngành chế biến chế tạo đều có chỉ số tăng so với tháng cùng kỳ cụ thể: ngành sản xuất đồ uống tăng 10,5%; sản xuất thuốc lá tăng 9,25%; sơ chế da tăng 24,57%; sản xuất sản phẩm khoáng phi kim loại giảm 23,94% trong đó xi măng porland đen tăng 38,92%; các sản phẩm như in, sao chép, chế biến gỗ, sản phẩm từ kim loại, máy bơm nước, xe điện…đều có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ.
Ngành sản xuất và phân phối điện:sự tăng giảm sản lượng phụ thuộc vào lệnh điều độ sản xuất của tổng công ty Điện lực. So với cùng kỳ, sản lượng điện sản xuất tháng 02/2020 tăng 30,08%; điện thương phẩm tăng 19,07% do nhu cầu sử dụng điện phục vụ đời sống ngày càng tăng cao.
So với cùng kỳ năm trước, ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý, xử lý rác thải tăng. Trong đó, cung cấp nước tăng17,81%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 5,68%; riêng dịch vụ vận hành hệ thống thoát nước giảm 7,76%.
Cộng dồn 2 tháng đầu năm 2020, chỉ số sản xuất công nghiệp trên địa bàn tăng 8,42% so với cùng kỳ. Trong đó, công nghiệp khai thác tăng 6,65%;ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,33%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện bằng 15,82%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 8,6%.
2.3 Chỉ số sử dụng lao động 
Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 02/2020 giảm 0,16% so với tháng trước, tăng 0,07% so với cùng kỳ. Trong đó, so với cùng kỳ ngành khai khoáng chỉ số sử dụng lao động giảm 0,17%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,97%;  ngành sản xuất và phân phối điện giảm 4,51%;  ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,47%. Bình quân 2 tháng đầu năm, lao động toàn ngành công nghiệp tỉnh Lạng Sơn tăng 2,96% so với cùng kỳ.
Trước diễn biến khôn lường của dịch viêm phổi do virus Corona, tình hình họat động về kinh doanh, sản xuất trên toàn quốc nói chung, và ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh nói riêng còn gặp nhiều khó khăn. Dự ước tình hình sản xuất công nghiệp trong những tháng tới, khi dịch bệnh được đẩy lùi sẽ có xu hướng tăng trưởng cao để đảm bảo phục vụ nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu.
3-    Đầu tư, xây dựng.
3.1 Kết quả vốn đầu tư thực hiện tháng 01 năm 2020.

Tháng 01 năm 2020, tiếp tục thực hiện thi công các dự án, công trình chuyển tiếp từ năm 2019, những dự án này chủ yếu là những dự án trọng điểm của tỉnh như: Đường phục vụ xuất nhập khẩu đầu nối cửa khẩu Tân Thanh (Việt Nam) với Khu Kiểm soát Khả Phong (Trung Quốc); Đường đến trung tâm xã Tân Yên, huyện Tràng Định; Hợp phần bồi thường hỗ trợ tái định cư dự án hồ chứa nước Bản Lải, tiếp tục được triển khai và hoàn thiện theo kế hoạch,  từ các nguồn: Vốn cân đối ngân sách tỉnh, vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu, vốn nước ngoài. 
Trong tháng giá vật tư, nhân công ổn định thuận lợi việc thi công, công trình. Được sự chỉ đạo linh hoạt, kịp thời của chính quyền các cấp, tiến độ thi công của các công trình đạt tiến độ. 
Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh tháng 01 năm 2020 đạt 144.653 triệu đồng, đạt 4,51% so với kế hoạch, tăng 20,29% so cùng kỳ (tương đương tăng 24.399 triệu đồng). Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 82.172 triệu đồng, đạt 4,16% so với kế hoạch, tăng 10,86% so với cùng kỳ năm trước. Vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 62.481 triệu đồng, tăng 35,44% so với cùng kỳ.
3.2 Tình hình vốn đầu tư thực hiện tháng 02 năm 2020
Dự ước vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh tháng 02 năm 2020, ước thực hiện 123.922 triệu đồng, đạt 4,86% so với kế hoạch năm 2020, tăng 20,26%  (tương đương 20.877 triệu đồng) so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 72.686 triệu đồng, tăng 11,43% so với cùng kỳ năm trước; Vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 51.136 triệu đồng, tăng 35,50% so với cùng kỳ
3.3 Tiến độ thực hiện một số dự án trên địa bàn tỉnh:
Dự án đường phục vụ xuất nhập khẩu đấu nối Tân Thanh- Khả Phong (Trung Quốc) công trình có tổng mức đầu tư 228.000 triệu đồng. Lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công đến tháng 01 năm 2020, ước thực hiện được 200.718 triệu đồng đạt 88,03% so với kế hoạch.
Dự án Cầu thị trấn Lộc Bình: Công trình có tổng mức đầu tư 181.190 triệu đồng. Lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 01 năm 2020 ước thực hiện được 118.100 triệu đồng đạt 65,18% so với kế hoạch. 
Dự án Đường đến trung tâm xã Tân Yên huyện Tràng Định: Công trình có tổng mức đầu tư 414.410 triệu đồng. Lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 01 năm 2020 ước thực hiện được 329.716 triệu đồng đạt 79,56% so với kế hoạch. 
Dự án Tuyến cao tốc Bắc Giang - Lạng Sơn, công trình có tổng mức đầu tư 11.765.815 triệu đồng, do Công ty cổ phần BOT Bắc Giang - Lạng Sơn làm chủ đầu tư, thực hiện theo hình thức hợp đồng BOT( Dự án Thành phần 1 đoạn Km45+10- Km 108+ 500,  kết hợp tăng cường mặt đường QL1đoạn Km1+800-Km106+500). Trong tháng 1/2020 dự án hoàn thành nốt các công trình dở dang (số vốn thực hiện là 1.929.221 triệu đồng), công trình đã hoàn thành 100% khối lượng. Theo kế hoạch tuyến cao tốc sẽ được thu phí từ 0 giờ ngày 18/02/2020.
4-    Tài chính, ngân hàng
4.1 Tài chính 

Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 213,3 tỷ đồng, ước thực hiện 02 tháng là 700 tỷ đạt 11,4% dự toán năm và bằng 81,5% so với cùng kỳ; trong đó: thu nội địa là 500 tỷ đồng đạt 18,2% dự toán năm và tăng 15,8% so với cùng kỳ; thu hải quan đạt 200 tỷ đồng đạt 5,9% dự toán năm và bằng 46,8% so với cùng kỳ.
Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng là 617 tỷ đồng, ước chi 02 tháng là 1.693 tỷ đồng đạt 14,4% dự toán năm và tăng 24,1% so với cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 345 tỷ đồng đạt 23,5,2% dự toán năm và tăng 4,9% so với cùng kỳ; chi thường xuyên 1.053 tỷ đồng đạt 14,1% dự toán năm và tăng 25,5% so với cùng kỳ.
4.2 Ngân hàng 
Trong tháng, công tác huy động vốn tương đối thuận lợi, nguồn tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán của các thành phần kinh tế tăng để đáp ứng nhu cầu thanh toán. Ước đến cuối tháng 02, nguồn vốn huy động trên địa bàn sẽ đạt 30.250 tỷ đồng, tăng 0,93% so với cuối tháng 01/2020, so với 31/12/2019 tăng 3,78%.
     Nhu cầu vốn tín dụng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh có xu hướng tăng, các thành phần kinh tế tập trung vốn sản xuất hàng hóa sau Tết. Ước đến cuối tháng 02/2019 tổng dư nợ cho vay toàn tỉnh sẽ đạt 31.310 tỷ đồng, tăng 700 tỷ đồng so tháng 01/2020, tỷ lệ tăng 2,29%, so với 31/12/2019  0,04%.
5- Thương mại và dịch vụ
5.1. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 02 năm 2020 dự tính đạt 1.448 tỷ đồng, giảm 9,71% so với tháng trước và giảm 5,44% so với cùng kỳ. Trong 12 nhóm ngành hàng hóa có nhóm đá quý kim loại quý và sản phẩm tăng nhẹ 1,28% so với tháng trước và giảm 1,75% so với cùng kỳ; nhóm ôtô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 40,12% so với cùng kỳ; nhóm nhiên liệu khác tăng nhẹ 0,59% so với tháng trước và tăng 1% so với cùng ký do nhu cầu tiêu dùng về mặt hàng gas của nhân dân trong những ngày tết. Những nhóm ngành hàng hóa khác còn lại đều giảm hơn so với tháng trước trong đó giảm mạnh nhất là nhóm gỗ và vật liệu xây dựng giảm 16,8%; thường sau tết nhu cầu về mua sắm và xây dựng rất ít.
Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 02 năm 2020 đạt 130,5 tỷ đồng, giảm 10,95% so với tháng trước và so cùng kỳ năm trước giảm 13,07%: trong đó doanh thu lưu trú giảm 10,79%; doanh thu dịch vụ ăn uống giảm 13,22%; Ước tính doanh thu hai tháng đầu năm 2020 đạt 277,1 tỷ đồng, giảm 5,58% so với cùng kỳ.
Doanh thu dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch giảm 8,38% so với tháng trước và giảm 15,72% so cùng kỳ.
 Doanh thu hoạt động dịch vụ khác (trừ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) tháng 02 năm 2020 ước đạt 37,1 tỷ đồng, giảm 7,42% so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước giảm 3,96%. Trong những nhóm ngành dịch vụ giảm sâu nhất là nhóm dịch vụ giáo dục và đào tạo giảm 10,36% so với tháng trước; giảm 7,18% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ nghệ thuật vui chơi giải trí so với tháng trước giảm 10,34% chủ yếu giảm ở nhóm mặt hàng kinh doanh karaoke, và doanh thu xổ số…Ngoài nhóm dịch vụ giảm thì có nhóm dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 5,34% so với tháng trước và tăng 9,43% so với cùng kỳ. Dự tính doanh thu 2 tháng đầu năm 2020 doanh thu dịch vụ đạt 77,2 tỷ đồng giảm 1,8% so với cùng kỳ. 
5.2. Vận tải:
Dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do Virus Corona chủng mới (COVID-19), diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt, phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, toàn quốc và một số nước trên thế giới.
Lạng Sơn là một tỉnh biên giới, có nhiều cửa khẩu và các cặp chợ với nước bạn Trung Quốc. Ngoài ra, các lễ, hội trên địa bàn toàn tỉnh cũng được diễn ra hầu hết trong Tháng Giêng (âm lịch) hàng năm. Với một số loại sản phẩm nông sản, ẩm thực ngon nổi tiếng trong vùng cũng như cả nước, nếu thời tiết, khí hậu bình thường, dịch bệnh không xảy ra thì trong thời gian này, không khí lễ hội đang diễn ra vui tươi, nhộn nhịp khắp nơi trong tỉnh, bên cạnh đó khách du lịch đến với Lạng Sơn trong thời gian này cũng cao hơn nhiều các tháng khác trong năm. Cũng khoảng thời gian này hàng năm, một số mặt hàng nông sản có xuất xứ từ các tỉnh phía nam được xuất sang Trung Quốc với số lượng lớn qua  các cửa khẩu chính, phụ. Do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19, mọi hoạt động năm nay trầm lắng hơn.
Triển khai ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công điện số 224/CĐ-TTg ngày 12 tháng 02 năm 2020 về việc tháo gỡ khó khăn cho hoạt động xuất nhập khẩu, vận chuyển hàng hóa qua biên giới và theo văn bản số 980/BCT-XNK ngày 15 tháng 02 năm 2020 của Bộ Công Thương, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã khẩn trương tiến hành trao đổi, hội đàm với chính quyền tỉnh Quảng Tây để thống nhất cho chính thức mở lại các hoạt động xuất nhập khẩu, vận chuyển hàng hóa qua cửa khẩu phụ Tân Thanh - Pò Chài khu vực mốc 1088/2-1089 từ ngày 20/02/2020.
Trước tình hình trên, theo đề nghị của phía Trung Quốc, Tỉnh Lạng Sơn đã chỉ đạo các cơ quan chức năng phối hợp với phía bạn triển khai thí điểmviệc thông quan xuất khẩu nông sản của Việt Nam qua cửa khẩu đường sắt ga quốc tế Đồng Đăng. Hai bên đã thực hiện cho thông quan được 34 container hàng nông sản trên 34 toa tàu được chuyển đi Trung Quốc từ ga Đồng Đăng. Bước đầu thí điểm cho thấy hàng hóa xuất khẩu tại ga Đồng Đăng có nhiều tín hiệu tốt hơn xuất khẩu tại cửa khẩu trong thời điểm dịch bệnh Covid - 19 đang diễn biến phức tạp.
Dự ước, doanh thu ngành vận tải, kho bãi tháng 02/2020 được 97,5 tỷ đồng  trong đó: doanh thu vận tải hành khách là 27,9 tỷ đồng (khối lượng hành khách vận chuyển: 673,6 nghìn khách; hành khách luân chuyển: 31.588,9 nghìn khách .Km); doanh thu vận tải hàng hóa là 47,7 tỷ đồng (Khối lượng hàng hóa vận chuyển: 324,3 nghìn tấn; hàng hóa vận chuyển: 17.806,8 nghìn tấn.Km); doanh thu kho bãi đạt 21,9 tỷ đồng; doanh thu bưu chính, chuyển phát được 30 triệu đồng. Nhìn chung doanh thu ngành vận tải, kho bãi tháng 02/2020 so với cùng kỳ đều giảm.
Dự ước 02 tháng đầu năm: doanh thu vận tải, kho bãi đạt 213,5 tỷ đồng, giảm 10,2% so với cùng kỳ, trong đó: doanh thu vận tải hành khách đạt 57,11 tỷ đồng (doanh thu giảm 14,63%, khối lượng hành khách vận chuyển giảm 25,3%, khối lượng hành khách luân chuyển giảm 29,57%); doanh thu vận tải hàng hóa đạt 108,4 tỷ đồng, (doanh thu giảm 1,3%, khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng 25%, khối lượng hàng hóa luân chuyển giảm 25%); doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 47,8 tỷ đồng giảm 11,56%; doanh thu chuyển phát đạt 30 triệu đồng, tăng 59,57% so với cùng kỳ năm trước.
Dự báo, khi dịch bệnh COVID-19 bị đẩy lùi lúc đó các hoạt động về sản xuất, kinh doanh mới đi vào ổn định và phát triển, đảm bảo mục tiêu phấn đấu đã đề ra trong từng năm của nhiệm kỳ 2015-2020.
5.3. Xuất, nhập khẩu
Lũy kế đến hết ngày 12/02/2020: Tổng kim ngạch XNK đạt 175 triệu USD, giảm 58,2% so với cùng kỳ. Trong đó Xuất khẩu đạt 90 triệu USD, giảm 54 % so với cùng kỳ; Nhập khẩu đạt 85 triệu USD, giảm 62% so với cùng kỳ
Nguyên nhân kim ngạch xuất nhập khẩu giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2019 là do hàng hóa không thực hiện XNK trong dịp nghỉ Tết Nguyên Đán và phía Trung Quốc dừng thông quan hàng hóa tại các cặp chợ cửa khẩu biên giới đề phòng chống dịch bệnh do virus Corona gây ra.
6- Chỉ số giá 
6.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Tháng 02 năm 2020, dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do virus Corona chủng mới (COVID-19) diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. CPI chung toàn tỉnh tháng 02 năm 2020 giảm 0,24% so với tháng trước; tăng 9,48% so với cùng kỳ năm trước, tăng 10,21% so với bình quân cùng kỳ, cụ thể:
Tháng 02, CPI chung toàn tỉnh so với tháng trước
Một số nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước, gồm: 
(1) May mặc, mũ nón và giầy dép giảm 0,19%: Chỉ số giá nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm so với tháng trước do nhu cầu mua sắm người dân giảm.
(2) Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,49%: Chỉ số giá tiêu dùng nhóm hàng này giảm chủ yếu ở các mặt hàng như: giá dầu hỏa bình quân tháng 02 năm 2020 giảm 6,9% so với tháng trước, do điều chỉnh giảm giá vào 15h ngày 14/02/2020; giá gas giảm 3,76%...
(3)  Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,28%: Nhu cầu tiêu dùng thiết bị và đồ dùng gia đình của người dân giảm do không có nhu cầu mua sắm trong thời gian dịch bệnh và các cửa hàng đều giảm giá các mặt hàng vào dịp đầu năm mới.
(4) Nhóm giao thông giảm 2,4%: Tính đến 15 giờ ngày 14/02/2020 giá xăng A95 là 20.127đ/L, giá dầu Diezen là 15.943đ/L, chỉ số nhóm này giảm 5,73%, đóng góp giảm 0,22 điểm % vào CPI.
Dịch vụ giao thông công cộng, giá vé tàu hỏa giảm 8,93% so với tháng trước do nhu cầu đi lại của người dân giảm mạnh khi dịch bệnh COVID-19 diễn ra.
(5) Nhóm Văn hóa giải trí và du lịch giảm 0,88%:  Chỉ số giá nhóm hàng này giảm chủ yếu do giá khách sạn, nhà khách giảm (giảm 2,95%) do nhu cầu lưu trú giảm. Hàng năm, các lễ, hội trên địa bàn toàn tỉnh được diễn ra hầu hết trong Tháng Giêng (âm lịch). Do dịch bệnh COVID-19, mọi hoạt động năm nay đều dừng lại, lượng khách du lịch giảm mạnh ảnh hưởng không nhỏ tới CPI chung toàn tỉnh.
Ngoài ra những nhóm hàng hóa giảm có 3 nhóm hàng hóa tăng là so với tháng trước như:
- Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,23%: Do nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 1,6% bởi giá thịt bò tăng vào đầu tháng đẫn đến mặt hàng phở bò trong nhóm tăng.
- Đồ uống và thuốc lá tăng 0,29%: Chỉ số giá nhóm này tăng chủ yếu ở mặt hàng thuốc hút (tăng 0,68%).
- Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,54%: Chỉ số nhóm hàng này tăng ở mặt hàng đồ dùng cá nhân như: Đồ trang sức (tăng 8,86%) và tăng ở dịch vụ vệ sinh môi trường (tăng 2,14%).
Chỉ số giá CPI chung toàn tỉnh tháng 02/2020 tăng 9,48%  so với cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của một số nhóm hàng sau: (1) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 20,47%; (2) Nhóm may  mặc, mũ nón, giầy, dép tăng 0,44%; (3) Nhóm hàng thiết bị đồ dùng gia đình tăng 1,12%; (4) Nhóm giao thông tăng 3,83%; (5) Nhóm giáo dục tăng 7,42%;  (6) Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,16%. 
    6.2. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
    - Chỉ số giá vàng so với tháng trước tăng 1,58%, tăng 20,62% so với cùng kỳ và tăng 39,15% so với kỳ gốc năm 2014: Chỉ số giá vàng bình quân tháng 02/2020 so với tháng trước tăng, do trong tháng giá vàng thế giới có nhiều biến động thị trường vàng trong nước giao dịch điều chỉnh giá tăng, giảm theo giá thị trường. 
- Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,39% so với tháng trước, tăng 0,89% so với cùng kỳ và tăng 9,26% so với kỳ gốc năm 2014. 
7- Một số tình hình xã hội 
7.1. Giải quyết việc làm 

Trung tâm dịch vụ việc làm đã thực hiện  tư vấn về việc làm, học nghề, chính sách pháp luật lao động cho 388 người, số người đăng ký tìm việc làm là 31 người; số người được giới thiệu việc làm: 93 lượt người; số người nhận được việc làm: 31 người. Hoạt động Sàn giao dịch việc làm trong tháng tổ chức: 03 phiên, số lao động tham gia 228 người. 
Số người nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp 136 người, 177  người có quyết định hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp hàng tháng với tổng số tiền chi trợ cấp thất nghiệp theo Quyết định là 2,5 tỷ đồng.
Trợ cấp thường xuyên cho 4.141 người có công với kinh phí 7,6 tỷ đồng, lũy kế là 8.304 người có công, kinh phí 15,5 tỷ đồng. Tiếp nhận, giải quyết hồ sơ người có công với cách mạng và thân nhân; người hoạt động kháng chiến tháng 02 là 78 hồ sơ, lũy kế 214 hồ sơ. 
7.2. Hoạt động y tế và sức khỏe cộng đồng 
Trong tháng 2, tập trung ưu tiên số 1 cho công tác phòng, chống dịch COVID-19 gây ra. Phối hợp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, Công an tỉnh và các Sở, ngành, địa phương thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch COVID-19, với những việc cụ thể: Tăng cường công tác truyền thông phòng, chống dịch; thành lập, kiểm tra, giám sát những khu vực cách ly của tỉnh bảo đảm đủ điều kiện và hoạt động tốt; thu dung tất cả những người đến từ vùng dịch và cách ly đúng hướng dẫn của Bộ Y tế.
    Tính đến 16h00 ngày 23/02/2020:
         Tổng số người  từ Trung Quốc về cách ly tại cơ sở y tế  là 69 ( Trong đó : số người đủ điều kiện trở về gia đình và cộng đồng 61; Số người hiện vẫn cần thực hiện cách ly theo dõi  là 08; Số người đủ điều kiện lấy mẫu xét nghiệm là 25; Số người có kết quả xét nghiệm âm tính là  25; Số người chưa có kết quả xét nghiệm là 0).
          Tổng số người từ Trung Quốc trở về Việt Nam được cách ly tại các khu cách ly của tỉnh (Trung đoàn 123,Trường Quân sự tỉnh và Tiểu Đoàn bộ binh 1 ) là 1.335 ( Trong đó : số người hoàn thành cách ly 14 ngày được trở về địa phương là  607; Số người hiện tại đang trong thời gian cách ly là 728 ). 
Tổng số người cách ly tại nhà, nơi lưu trú: 12.299 (Trong đó: tổng số trường hợp cách ly tại nhà, nơi lưu trú đã qua 14 ngày là 12.297; tổng số trường hợp đang cách ly tại nhà, nơi lưu trú là 02).
Thực hiện tốt công tác phòng, chống các loại dịch bệnh khác trên địa bàn tỉnh. Trong tháng không có dịch bệnh lớn xảy ra trên địa bàn tỉnh. Không có tử vong do mắc bệnh truyền nhiễm. Tình hình bệnh truyền nhiễm trên địa bàn tỉnh trong tháng một số loại bệnh có số ca mắc tăng, cũng có những bệnh có số ca mắc giảm so với cùng ky năm 2019 .
Duy trì hoạt động thường xuyên của các chương trình mục tiêu Y tế - Dân số như: Dự án Phòng, chống HIV/AIDS ; Công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn toàn tỉnh ; Dự án Tiêm chủng mở rộng; Dự án Phòng, chống một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và các bệnh không lây nhiễm phổ biến; Dự án An toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP)......
7.3. Hoạt động văn hoá, thể thao 
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Sở đã tập trung chỉ đạo dừng tổ chức các lễ hội, các hoạt động tập trung đông người. Chỉ đạo các phòng, đơn vị trực thuộc Sở, Phòng Văn hóa và Thông tin, Trung tâm Văn hóa - Thể thao, Trung tâm Văn hóa, Thể thao và Truyền thông các huyện, thành phố tích cực thực hiện công tác tuyên truyền phòng chống dịch bệnh do chủng mới của vi rút Corona. Chỉ đạo các phòng, đơn vị trực thuộc tích cực phối hợp với cơ quan Y tế, biên tập tài liệu hướng dẫn cách phòng, chống dịch bệnh cấp phát cho nhân dân, đặc biệt tại các xã vùng biên giới.
Bảo vệ và phát huy di sản văn hóa: kiểm tra thực tế trước khi nghiệm thu công trình tu bổ di tích Nhà số 8 phố Kỳ Lừa, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn; đề xuất việc tu bổ di tích đền Tả Phủ, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn; đề xuất về việc Đoàn cán bộ Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga đến khảo sát cổ sinh vật tại hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai, huyện Bình Gia theo yêu cầu của UBND tỉnh
Hoạt động chiếu bóng: Chiếu phim phục vụ đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa đạt 126 buổi chiếu, trong đó có 20 lượt xã, 126 lượt thôn, 1.134 lượt tuyên truyền, 12.640 lượt người người nghe và xem; Rạp Chiếu phim Đông Kinh đã thực hiện chiếu 11 phim (05 phim Việt Nam, 09 phim nước ngoài), 151 suất chiếu (04-06 suất chiếu/ ngày), doanh thu đạt hơn 61 triệu đồng.
Hoạt động Du lịch: Tổng lượng khách du lịch trong tháng 02/2020 đạt 89.600 lượt khách (giảm 86,2% so với cùng kỳ năm 2019), trong đó khách quốc tế đạt 2.340 lượt (giảm 96,8%), khách nội địa đạt 87.260 lượt (giảm 84,8%), doanh thu ước đạt 25 tỷ đồng (giảm 93,6%). Nguyên nhân giảm do tác động của dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona..
7.4. Trật tự - An toàn giao thông 
Ngành chức năng của tỉnh tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh vận tải hành khách, kiểm tra chặt chẽ phương tiện và người điều khiển phương tiện, các điều kiện đảm bảo an toàn kỹ thuật phương tiện trước khi khởi hành xuất bến. Kiểm tra, xử lý vi phạm lòng, lề đường, hành lang an toàn giao thông. Đẩy mạnh tuần tra lưu động, kết hợp bảo đảm trật tự an toàn giao thông và các nhiệm vụ bảo đảm trật tự an toàn xã hội khác. 
Tháng 02 năm 2020 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã xảy ra 01 vụ tai nạn giao thông đường bộ nghiêm trọng, làm 01 người chết, không có người bị thương. Hai tháng đầu năm đã xảy ra 08 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 08 người chết (giảm 01 người so với cùng kỳ), không người bị thương.
7.5. Môi trường
Trong tháng 02/2020, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn xảy ra 01 trường hợp vi phạm môi trường về việc khai thác đất và khoáng sản trái phép, ngành chức năng đã tiến hành xử lý vi phạm, mức xử phạt với số tiền là 36 triệu đồng.     
7.6. Thiệt hại do thiên tai
Thiệt hại do giống lốc, mưa đá: Từ ngày 24/01/2020 đến ngày 25/01/2020 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã xảy ra giống lốc và mưa đá tại 92 xã của 10 huyện, thành phố, gây thiệt hại nặng nề về nhà cửa và hoa màu. Thiệt hại trên địa bàn toàn tỉnh như sau: 
- Riêng về sản xuất  nông nghiệp ước giá trị thiệt hại là 3.513 triệu đồng, cụ thể:
+ Diện tích cây trồng hàng năm: 50ha, ước tính giá trị thiệt hại: 497.5 triệu đồng
+Diện tích hoa màu, rau màu: 147 ha, ước tính thiệt hại : 2.115 triệu đồng.
+ Diện tích rừng hiện có: 10ha, ước tính thiệt hại : 900 triệu đồng ....
- Về người: làm cho 01 người bị thương. 
- Về nhà cửa: 4469 nhà. 
Ước tổng thiệt hại trên địa bàn tỉnh khoảng trên 50 tỷ đồng

Tác giả bài viết: Cục Thống kê Lạng Sơn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây