Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Lạng Sơn Quý I năm 2020

Thứ năm - 26/03/2020 23:28
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 230 triệu USD, giảm 55,3% so với cùng kỳ. Trong đó: Xuất khẩu đạt 101,8 triệu USD, giảm 61,6% so với cùng kỳ; Nhập khẩu đạt 128,2 triệu USD, giảm 48,6% so với cùng kỳ
BÁO CÁO
Tình hình kinh tế - xã hội Quý I năm 2020
 
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn quý I năm 2020 diễn ra trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu có xu hướng chậm lại, ít nhiều chịu ảnh hưởng từ dịch bệnh Covid-19; Giá cả trong nước bị tác động một phần bởi giá vàng, giá dầu trên thế giới; ngành nông nghiệp gặp khó khăn do dịch bệnh, thiên tai. Song nhờ có sự chỉ đạo kịp thời, sát sao của lãnh đạo các cấp, các ngành chức năng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, đến nay cơ bản các khó khăn đã  được tháo gỡ dần. Kết quả đạt được trên một số lĩnh vực như sau:
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản.
Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh trong Quý I/2020 cơ bản ổn định; Đã thu hoạch xong toàn bộ diện tích gieo trồng cây hằng năm vụ Đông 2019 - 2020; Khẩn trương làm đất, gieo trồng vụ Xuân 2020 đảm bảo đúng lịch thời vụ; Cơ quan chuyên môn chủ động chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng cho nhân dân về cơ cấu cây trồng theo hướng tăng diện tích, sản lượng các loại cây trồng có tính chất hàng hoá, lợi thế cạnh tranh, giá trị kinh tế cao; Kết hợp các biện pháp thâm canh, đưa giống mới, quy trình kỹ thuật sản xuất mới vào sản xuất để tăng năng suất cây trồng; Phong trào ra quân làm thuỷ lợi, nước sinh hoạt, vệ sinh môi trường nông thôn, làm đường giao thông thôn, trồng cây trong dịp Tết nguyên đán được các huyện, thành phố tổ chức phát động thiết thực, hiệu quả, toàn thể nhân dân nhiệt tình hưởng ứng tham gia. Công tác giám sát, dự tính, dự báo dịch bệnh trên cây trồng vật nuôi; Công tác quản lý, bảo vệ phát triển tài nguyên rừng được tăng cường; Công tác  khuyến nông, cung ứng vật tư nông nghiệp, đảm bảo yêu cầu cho phục vụ sản xuất.
1.1. Nông nghiêp
1.1.1.Trồng trọt
a- Diện tích thu hoạch

Tính đến trung tuần tháng 3/2020, toàn tỉnh đã thu hoạch xong toàn bộ diện tích gieo trồng vụ Đông 2020, ước thực hiện 3.771,22 ha. Tình hình thu hoạch một số cây trồng chính vụ Đông như sau:
* Cây ngô: Diện tích thu hoạch ước đạt 135,52 ha, tăng 4,41%  so với cùng kỳ; Năng suất ước 43,5 tạ/ha, tăng 0,93% so với cùng kỳ; Sản lượng ước 589,51 tấn, tăng 5,38% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích thu hoạch tăng do tình hình chăn nuôi lợn dần phục hồi, nhu cầu làm thức ăn chăn nuôi tăng nên người dân mở rộng diện tích gieo trồng và đầu tư chăm sóc tăng năng suất thu hoạch. 
* Cây khoai lang: Diện tích thu hoạch ước 73,4 ha, tăng 4,5%, do thị trường tiêu thụ tăng, khoai lang được giá nên người dân đầu tư trồng làm tăng diện tích so với cùng kỳ năm trước; Năng suất ước 63,08 tạ/ha, tương ứng sản lượng ước 462,98tấn, tăng 4,82% so với cùng kỳ năm trước.
* Cây thuốc lá: Diện tích thu hoạch thuốc lá đông ước 118,02 ha, tăng 5,49% so với cùng kỳ năm trước, bằng 100%  diện tích gieo trồng. Diện tích gieo trồng thuốc lá tăng là do các doanh nghiệp sản xuất, chế biến thuốc lá trên địa bàn chủ động hướng dẫn về kỹ thuật, cung cấp cây giống và bao tiêu sản phẩm đầu ra nên người dân trồng nhiều hơn so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của trận mưa đá nên năng suất thu hoạch giảm 0,59% so với cùng kỳ.
b - Diện tích gieo trồng vụ Xuân 2020
* Cây lúa: Diện tích gieo cấy lúa xuân ước thực hiện được 2.576 ha, tăng 6,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong vụ có một số huyện tiến hành gieo cấy sớm hơn so với những năm trước khi cánh đồng có đủ nước; Bên cạnh đó, lực lượng lao động không đi làm ở các công ty do Dịch CoVit-19 nên tiến độ sản xuất tăng hơn so với cùng kỳ (huyện Tràng Định: 1.560 ha, huyện Hữu Lũng: 750ha).
Gieo mạ xuân ước 529,05 tấn, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước, dự kiến đến cuối tháng 3 gieo đủ mạ để cấy hết diện tích theo kế hoạch.
* Cây ngô: Diện tích gieo trồng trong quý I ước thực hiện: 6.112,06 ha, tăng 0,67% so với cùng kỳ, diện tích trên chủ yếu trồng các huyện.
* Cây thuốc lá: Diên tích gieo trồng trong quý I ước thực hiện: 2.276,3 ha, tăng 15,6% so với cùng kỳ; Do thời tiết đầu vụ có mưa, thuận lợi từ khâu làm đất, gieo trồng và chăm sóc; Công tác ươm trồng cây thuốc lá giống được chuẩn bị đầy đủ, đáp ứng đủ giống cho vụ sản xuất , cây con phát triển khỏe mạnh, tỷ lệ sống cao. Diện tích thuốc lá tập trung gieo trồng các huyện Chi Lăng, Bắc Sơn, Văn Quan.
c - Tình hình dịch bệnh
Công tác dự tính dự báo, điều tra phát hiện dịch hại trên cây trồng đã được cơ quan chuyên môn thực hiện thường xuyên, theo dõi sát, nắm chắc diễn biến tình hình, dự báo chính xác, kịp thời, ban hành các thông báo khuyến cáo người dân biện pháp phòng trừ các loại sâu bệnh hại cây trồng trên địa bàn. Từ đầu năm đến nay, trên cây trồng nông nghiệp tình hình dịch hại ít biến động, các đối tượng dịch hại phát sinh, gây hại có mật độ, tỷ lệ gây hại thấp, phân bố trên diện hẹp, không gây thành dịch.
Thiệt hại do giống lốc, mưa đá: Từ ngày 24/01/2020 đến ngày 25/01/2020 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã xảy ra giống lốc và mưa đá tại 92 xã của 10 huyện, thành phố, gây thiệt hại nặng nề về nhà cửa và hoa màu. Riêng sản xuất nông nghiệp, lâm ngiệp và thủy sản ước thiệt hại 3.521 triệu đồng. Cụ thể: 
- Diện tích cây hằng năm bị thiệt hại 197,1ha, ước giá trị thiệt hại 2.691 triệu đồng.
- Diện tích cây lâu năm bị thiệt hại một phần: 4ha, ước giá trị thiệt hại: 170 triệu đồng.
- Diện tích rừng bị thiệt hại một phần: 10ha, ước giá trị thiệt hại 660 triệu đồng.
d - Cây lâu năm
*Cây ăn quả
- Cây chuối diện tích hiện có 1.404,74 ha, giảm 0,67% , sản lượng thu hoạch 2.744,95 tấn, giảm 0,5%  so cùng kỳ năm trước;  Cây xoài diện tích hiện có 426,26 ha, giảm 1,22% ; Cây dứa diện tích hiện có 267,57 ha, giảm 3,55% ; Cây vải thiều diện tích hiện có 1.648,54 ha, giảm 10% so với cùng kỳ năm trước. Một số cây ăn quả đã già cỗi, cho năng suất thấp nên người dân chặt bỏ và những cây ăn quả giá trị sản phẩm thấp, khó tiêu thụ vì chất lượng quả kém nên giảm diện tích trồng.
- Cây thanh long với diện tích hiện có 73,8 ha, tăng 7,38% so với cùng kỳ và được trồng nhiều ở huyện Hữu Lũng, giống thanh long ruột đỏ thích hợp với điều kiện tự nhiên cho năng suất cao; Cây cam là 718,97ha, tăng 5% được trồng nhiều ở huyện Chi Lăng, Hữu Lũng, giống cam được trồng chủ yếu là cam đường canh, cam vinh do cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên nên sinh trưởng, phát triển tốt, cây ra quả nhiều, chất lượng quả đáp ứng được nhu cầu của người dân, thị trường tiêu thụ ổn định; Cây bưởi là 1.392,3ha, tăng 5% diện tích bưởi tăng nhiều do giá trị kinh tế của quả bưởi đem lại mức thu nhập cao, bưởi diễn, bưởi da xanh được bà con trồng nhiều, giá bưởi diễn trung bình 25.000 - 30.000 đồng/quả bình quân mỗi cây từ 20 - 40 quả to đẹp và đều, hiện nay được trồng nhiều ở huyện Chi Lăng, Hữu Lũng.
Cây na với diện tích 3.376,34 ha, tăng 6,84% được trồng chủ yếu ở huyện Chi Lăng (1.804,48 ha), Hữu Lũng (1.470,3 ha); Trong đó có 161,96 ha trồng theo quy trình VietGap, 5 ha trồng theo quy trình GlobalGap. Giá bán bình quân 20.000 đồng/kg – 80.000đồng/kg. Ngoài giống na địa phương thì giống na Thái Lan ngày càng được quan tâm với diện tích hiện có là 10 ha trồng ở huyện Chi Lăng. Một quả na Thái Lan có trọng lượng bình quân từ 0,7 kg đến 1kg, giá bán 100.000 đồng/quả - 200.000 đồng/quả.
* Cây công nghiệp lâu năm
Diện tích chè hiện có 700,28 ha, giảm 2% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích trồng tập trung chè búp chủ yếu vùng thị trấn Nông trường Thái Bình của huyện Đình Lập 350,84 ha, ngoài ra còn phân bố rải rác một số huyện như huyện Bình Gia 34,66 ha, huyện Bắc Sơn 95 ha, huyện Lộc Bình 53,17 ha. Sản lượng chè thu hoạch ước đạt 783,63 tấn, giảm 3% so với cùng kỳ năm trước, do thị trường tiêu thụ chậm, thiếu nhân công chăm sóc, thu hoạch.
1.1.2. Chăn nuôi
Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh có mưa đá, giống lốc và nhiều đợt rét đậm, rét hại nhưng người chăn nuôi tập trung nuôi nhốt trâu, bò và sử dụng các biện pháp giữ ấm cho chúng, hạn chế thả rông. Tận dụng rơm khô, cỏ khô tích trữ từ đầu vụ Đông làm thức ăn cho trâu, bò, đảm bảo trâu, bò không bị chết đói. 
* Tổng đàn trâu: Hiện nay, đàn trâu có giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu sử dụng sức kéo giảm, xuất bán trâu đầu tư cho trồng rừng mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, cụ thể: Ước tính số đầu con trâu có 85.608 con, giảm 5,01% Số con trâu xuất chuồng đạt 6.505 con, tăng 0,9% so với cùng kỳ; Sản lượng xuất chuồng đạt 1.533,92 tấn.
* Tổng đàn bò: Do có chính sách hỗ trợ người dân trong phát triển kinh tế, một số chương trình đã được tổ chức và thực hiện có hiệu quả như chương trình Lục lạc vàng; Chương trình xóa đói giảm nghèo đưa bò sinh sản đến các hộ dân nên tổng đàn bò có tăng nhẹ so với cùng kỳ, cụ thể: Ước tính số đầu con bò có 32.685 con, tăng 1,39% so với cùng kỳ năm trước; Số con bò xuất chuồng đạt 2003 con tương đương với sản lượng thịt hơi xuất chuồng 381,84 tấn, tăng 1,71% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, nuôi bò theo hướng nhốt chuồng, vỗ béo lấy thịt đang được người chăn nuôi thực hiện có hiệu quả, theo định hướng phát triển và hướng dẫn của cơ quan chuyên môn.
* Tổng đàn lợn: Hiện tại tình hình Dịch tả lợn châu Phi đã ổn định, người dân bắt đầu tái đàn trở lại để phục vụ nhu cầu thịt lợn đang khan hiếm. Tuy nhiên do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi xảy ra trong năm 2019 khiến cho tổng đàn lợn giảm mạnh; Giá lợn con giống và giá thức ăn chăn nuôi tăng cao đã ảnh hưởng đến quy mô tái đàn của người chăn nuôi. Số con hiện có ước 103.140 con, giảm 66,98% so với cùng kỳ năm trước; Số con xuất chuồng ước 50.503 con, giảm 71,86% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng hơi xuất chuồng đạt 3.717,88 tấn, giảm 71,89% so với cùng kỳ năm trước. Giá thịt lợn hơi dao động từ 76.000-80.000 đồng/kg.
* Tổng đàn gia cầm: Tổng đàn gia cầm tăng cao so với cùng kỳ do nhu cầu tiêu thụ thịt gia cầm tăng thay thế thịt lợn khan hiếm, giá thịt lợn cao đặc biệt vào dịp Tết Nguyên đán; Tâm lý e ngại đầu tư vào chăn nuôi lợn sau dịch tả lợn Châu Phi xảy ra, người chăn nuôi tập trung phát triển đần gia cầm; Bên cạnh đó được sự hỗ trợ của Nhà nước về con giống, giúp cho hộ nghèo, cận nghèo phát triển kinh tế nên tổng đàn gia cầm tăng cao. Ước tổng đàn gia cầm hiện có 4.757,50 nghìn con, tăng 17,32% so với cùng kỳ... Giá trứng gà ta hiện nay ở mức 44,66 nghìn đồng/ 10 quả, trứng gà công nghiệp 24,78 nghìn đồng / 10 quả. Được giá cùng với thị trường tiêu thụ ổn định nên người dân nuôi gà đẻ trứng nhiều đặc biệt là giống gà siêu trứng cho sản lượng trứng cao. 
Tình hình dịch bệnh
* Dịch tả lợn châu Phi: Từ ngày 01/01 – 09/02/2020: Dịch tả lợn châu Phi phát sinh tại 02 hộ tại 02 xã của 02 huyện Chi Lăng và Văn Quan; Tổng số lợn mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 06 con lợn với tổng trọng lượng 337kg; Ước giá trị thiệt hại 26,5 triệu đồng. Sau khi thực hiện các biện pháp chống dịch, đến nay 02/02 xã đã qua 30 ngày không phát sinh ổ dịch mới; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh đã ban hành hướng dẫn số 03/HD-SNN-CNTY ngày 28/02/2020 hướng dẫn một số biện pháp kỹ thuật chăn nuôi lợn an toàn sinh học, thời điểm tái đàn sau dịch bệnh dịch tả lợn châu Phi. 
* Một số bệnh địa phương vẫn xảy ra lẻ tẻ, rải rác  như: bệnh tụ huyết trùng, tiên mao trùng trên đàn trâu, bò; bệnh tiêu chảy, lép tô trên đàn lợn; bệnh tụ huyết trùng trên đàn gia cầm... nhưng không bùng phát thành dịch. 
Thiệt hại do rét đậm, rét hại: Đợt rét đậm, rét hại xảy ra giữa tháng 02/2020, làm chết 03 con bò ở xã Cường Lợi, huyện Đình Lập; Ước giá trị thiệt hại 70 triệu đồng.
Giá cả vật nuôi và thức ăn chăn nuôi 
- Giá gà ta hơi ở mức 128,35 nghìn đồng/kg, so với cùng kỳ năm trước tăng 2,94%; Giá gà công nghiệp phổ biến ở mức 79,16 nghìn đồng/kg, so với cùng kỳ năm trước tăng 13,62%; Giá gà ta giống ở mức 20 nghìn đồng/con, giá gà công nghiệp giống là 18,58 nghìn đồng/con.
- Giá lợn hơi ở mức 79,89 nghìn đồng/kg, so với cùng kỳ năm trước tăng 69,33%; giá lợn giống ở mức 107,4 nghìn đồng/kg.
- Giá thịt trâu hơi ở mức 113,81 nghìn đồng/kg, so với cùng kỳ  tăng 0,67%; giá thịt bò hơi ở mức 113,58 nghìn đồng/kg, so với cùng kỳ năm trước giảm 5,94%.
- Giá thức ăn chăn nuôi: nhìn chung ổn định, giá thức ăn cho gà thịt từ 270.000đ đến 285.000đ/bao/25 kg tùy theo từng hãng thức ăn; cho lợn từ 250.000đ đến 290.000đ/bao/25kg tùy theo từng hãng sản xuất.
Công tác dịch vụ nông nghiệp
Công tác thuỷ lợi
Kết quả ra quân đầu xuân: Tổng số xã, thị trấn đã ra quân là 196 xã, đạt 93% so với cùng kỳ; Số công lao động là 74.360 công, đạt 76% so với cùng kỳ; Sửa chữa, kiên cố kênh mương được 4.075m, đạt  67% so với cùng kỳ (tập trung phát dọn, nạo vét kênh mương); Đất đào, đắp các loại được 8.125 m3, đạt 131% so với cùng kỳ; Cung ứng xi măng: 92 tấn; Hiện nay, hệ thống kênh mương cơ bản đều đã được tu sửa, nạo vét, thông nước tưới đến mặt ruộng, phục vụ kịp thời cho gieo cấy vụ xuân.
Công tác cung ứng, bảo vệ cây trồng vật nuôi
Cung ứng giống cây trồng, phân bón: trên địa bàn toàn tỉnh đã cung ứng 290 tấn giống các loại (trong đó giống lúa các loại 210 tấn, ngô các loại 80 tấn); 7.550 tấn phân bón các loại. Theo nhận định cơ bản nguồn giống, vật tư phân bón đảm bảo đủ về số lượng, chất lượng phục vụ sản xuất trên địa bàn.
Công tác bảo vệ thực vật: Công tác dự tính dự báo, điều tra phát hiện dịch hại trên cây trồng đã được cơ quan chuyên môn thực hiện thường xuyên, theo dõi sát, nắm chắc diễn biến tình hình, dự báo chính xác, kịp thời, ban hành các thông báo khuyến cáo người dân biện pháp phòng trừ các loại sâu bệnh hại cây trồng trên địa bàn. Từ đầu năm đến nay, trên cây trồng nông nghiệp tình hình dịch hại ít biến động, các đối tượng dịch hại phát sinh, gây hại có mật độ, tỷ lệ gây hại thấp, phân bố trên diện hẹp, không gây thành dịch.
1.2. Lâm nghiệp 
a. Công tác trồng rừng
Đối với trồng rừng tập trung: Từ đầu năm đến nay đã trồng được 169,06 ha, đạt 3,6% KH, nhân dân tự trồng rừng sản xuất khi thời tiết thuận lợi. Do rừng đến tuổi khai thác tăng so với cùng kỳ nên diện tích đất để trồng vụ mới giảm. 
b. Công tác quản lý, bảo vệ rừng
Công tác theo dõi tình hình sâu, bệnh hại rừng tại các xã và các điểm hay có dịch xảy ra trên địa bàn huyện được tăng cường. Qua kiểm tra của Chi cục Kiểm lâm không phát hiện dịch sâu bệnh hại rừng.
Chế độ trực, gác lửa rừng tại các xã trọng điểm, theo dõi cảnh báo, dự báo nguy cơ cháy rừng trên địa bàn tỉnh duy trì thường xuyên. Phối hợp tổ chức kiểm tra tuần rừng, tuần tra kiểm soát trên các tuyến đường, các vùng giáp ranh nhằm phát hiện, kịp thời ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng. Từ đầu năm đến nay trên địa bàn toàn tỉnh đã  xảy ra 01 vụ cháy rừng với diện tích cháy là 0,98 ha, giảm 1 vụ, giảm 1,62 ha so với cùng kỳ do làm tốt công tác tuyên truyền về phòng chống cháy rừng, ý thức người dân được nâng cao không đốt nương làm rẫy.
Số vụ phá rừng trái pháp luật 02 vụ, xảy ra tại thôn Nà Khu, xã Lâm Ca, huyện Đình Lập, diện tích rừng phòng hộ bị phá 4,08 ha. Do người dân phá rừng để trồng rừng sản xuất. 
c. Khai thác và thu nhặt gỗ và lâm sản khác
- Khai thác gỗ tròn các loại trong quý I ước 32.713,26m3, tăng 15,89% so cùng kỳ. Khác thác gỗ từ đầu năm tăng cao diện tích trồng rừng sản xuất ngày càng mở rộng do trồng rừng mang lại hiệu quả kinh tế, cây lâm nghiệp được trồng chủ yếu là keo, mỡ, bạch đàn; Các cơ sở chế biến gỗ ép ngày càng tăng, đáp ứng được nhu đầu ra cho người dân tại địa phương.
- Củi các loại: 287.590,41 ste, giảm 2,11 % so cùng kỳ. Do nhu cầu sử dụng củi đun trong sinh hoạt giảm. Củi chủ yếu là tận thu từ việc phát cành từ rừng sản xuất.
1.3. Thủy sản 
Nuôi trồng thủy sản  
Trên địa bàn tỉnh xuất hiện nhiều mô hình nuôi trồng thủy sản hiệu quả, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật được triển khai; chuyển từ chăn nuôi quảng canh, tự túc, tự cấp sang sản xuất hàng hóa có đầu tư đạt hiệu quả kinh tế cao vì giá bán các sản phẩm thủy sản ổn định hơn so với các sản phẩm nông nghiệp khác, rủi ro thấp, dịch bệnh ít xảy ra do được áp dụng phương pháp nuôi an toàn sinh học. Tiến hành thả cá giống bổ sung nguồn lợi thủy sản vào một số hồ chứa và dự án nuôi cá lồng giống trắm cỏ, chép lai và cá thịt ghép trong ao. Diện tích nuôi trồng thủy sản đến nay ước đạt 300ha, đạt 23,8% kế hoạch năm, bằng diện tích cùng kỳ năm trước; sản lượng ước 140,05 tấn. Số lồng cá nuôi trên địa bàn toàn tỉnh ước 515 lồng, từ đầu năm đến nay đã thả nuôi khoảng 500 kg cá giống các loại (trắm, chép, mè, trôi, rô phi, trê phi, cá vược...). Trạm thủy sản Bản Ngà đã thực hiện tu sửa, tẩy dọn ao nuôi, tiến hành thả cá bột để ương lên cá giống phục vụ cho bà con nuôi trồng thủy sản.
Khai thác thủy sản
Ước tính khai thác thuỷ sản các loại  trong quý I ước đạt 34,09 tấn, tăng 1,76% so với cùng kỳ năm trước, sản phẩm khai thác thủy sản chủ yếu là cá trắm, cá chép, tôm. Sản lượng tăng chủ yếu là cá các loại do thả cá bổ sung nguồn lợi thủy sản vào một số hồ chứa.
2. Sản xuất công nghiệp
2.1 Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3/2020 so với tháng trước
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3/2020 so với tháng 02/2020 tăng 9,08%.Trong đó, tăng cao ở ngành chế biến chế tạo, do trong tháng 2 là đợt cao điểm của giai đoạn 1 bùng phát dịch. Các hoạt động sản xuất của cơ sở và doanh nghiệp tạm ngừng hoặc giảm sản lượng do phần lớn các cơ sở, doanh nghiệp có chủ sở hữu là người Trung Quốc trong thời gian cách ly, kiểm soát dịch. Sang tháng 3, dự tính để đảm bảo sản xuất, sau khi có các biện pháp phòng dịch tại cơ sở, hoạt động sản xuất tiếp tục duy trì. Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 6,47%, trong đó hoạt động khai thác than tăng 2,49%, hoạt động khai thác đá tăng 11,59%. Thuận lợi của ngành khai thác và sản xuất điện chủ yếu ở lực lượng lao động đa số là lao động địa phương nên sản xuất được duy trì đều từ sau Tết. Theo đó, ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 1,04%.Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng nhẹ 0,63%. 
2.2 Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3/2020 so với cùng kỳ năm trước
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3/2020 tăng 2,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, công nghiệp khai thác tăng 4,89%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm nhẹ 0,05%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 1,94%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 11,98% so với cùng kỳ.
Trong ngành khai khoáng: sản xuất, khai thác than giảm nhẹ 1,93% đảm bảo sản lượng than cho hoạt động của công ty cổ phần nhiệt điện Na Dương, khai thác đá tăng 15,09% so với cùng kỳ.
Trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo, nhiều ngành công nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 như: chế biến gỗ giảm 6,19%; sản xuất hóa chất giảm 3,69%; sản xuất sản phẩm từ nhựa giảm 18,15% ngoài ảnh hưởng do dịch bệnh còn có tác động của nhu cầu giảm từ thị trường xuất khẩu Mỹ, hiện nay sản phẩm chỉ xuất khẩu thị trường Trung Quốc; ngành sản xuất phương tiện vận tải khác (xe điện) bị ảnh hưởng nguyên liệu đầu vào do ảnh hưởng dịch, ngoài ra, hiện nay Doanh nghiệp đang bắt đầu, thử nghiệm đưa vào sản xuất sản phẩm mới là ô tô điện nên hoạt động sản xuất xe máy, xe đạp điện giảm 31,86%. Ngoài ra, một số ngành sản xuất phục vụ nhu cầu thường nhật của người dân như: chế biến thực phẩm, nước uống, dệt, sản phẩm giấy, in và sao chép bản ghicó xu hướng tăng so với tháng cùng kỳ.
Ngành sản xuất và phân phối điện: sự tăng giảm sản lượng phụ thuộc vào lệnh điều độ sản xuất của tổng công ty Điện lực.So với cùng kỳ, sản lượng điện sản xuất tháng 3/2020 tăng 0,71%; điện thương phẩm tăng 14,43% do nhu cầu sử dụng điện phục vụ đời sống ngày càng tăng cao.
So với cùng kỳ năm trước, ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý, xử lý rác thải tăng. Trong đó, cung cấp nước tăng 10,39%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 13,94%; riêng dịch vụ vận hành hệ thống thoát nước tăng 4,49%.
2.3 Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I năm 2020 so với cùng kỳ
Là địa phương giáp với nước bạn Trung Quốc - quốc gia đầu tiên bùng phát dịch Covid-19. Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn có đặc điểm thuận lợi là các ngành chiếm tỷ trọng sản xuất lớn có lực lượng lao động chủ yếu là dân địa phương. Công tác kiểm soát, phòng ngừa dịch bệnh hiện nay đã và đang được thực hiện nghiêm ngặt. Do đó, trong quý I năm 2020, chỉ số sản xuất công nghiệp quý  năm 2020 tiếp tục tăng trưởng so với cùng kỳ. Toàn ngành công nghiệp tăng 4,35%; Các ngành công nghiệp cấp 2 gồm: ngành khai khoáng tăng  6%; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 10,35%, riêng ngành Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,11% so với cùng kỳ. Riêng ngành chế biến chế tạo giảm 2,33% so với quý cùng kỳ năm trước (Trong đó có một số hoạt động sản xuất có chủ doanh nghiệp, cơ sở là người nước ngoài chịu tác động của dịch bệnh như: sản xuất hóa chất, sản phẩm từ nhựa, sản xuấtphương tiện vận tải khác, da,…).
2.4 Chỉ số sử dụng lao động
Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 3/2020 tăng 0,14% so với tháng trước, tăng 0,76% so với cùng kỳ. Trong đó, so với cùng kỳ ngành khai khoáng chỉ số sử dụng lao động tăng 0,11%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,06%;  ngành sản xuất và phân phối điện giảm 1,62%;  ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,06%. Bình quân Quý I năm 2020, lao động toàn ngành công nghiệp tỉnh Lạng Sơn tăng 0,95% so với cùng kỳ.
3. Đầu tư, xây dựng.
3.1 Tình hình vốn đầu tư thực hiện quý I năm 2020
Mặc dù dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do virus Corona chủng mới (COVID-19) diễn biến phức tạp. Tuy nhiên, dưới sự chỉ đạo sát sao, kịp thời của các cấp chính quyền, các sở, ngành do vậy các công trình trọng điểm vẫn tiến hành đảm bảo yêu cầu về chất lượng và tiến độ thực hiện vốn đầu tư tăng so với cùng kỳ năm trước.
Vốn đầu tư thực hiện quý I năm 2019 ước đạt 2.996.655 triệu đồng, tăng 16,43% so với cùng kỳ, cụ thể:
* Phân theo nguồn vốn
- Vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn thực hiện ước đạt 579.816 triệu đồng, bằng 85,57%, tương đương giảm 97.779 triệu đồng so với cùng kỳ. Trong quý các dự án công trình chuyển tiếp năm 2019 được thực hiện như dự án:  Hợp phần bồi thường hỗ trợ TĐC dự án Hồ chứa nước Bản Lải ước thực hiện 10.000 triệu đồng; dự án cải tạo nâng cấp đường lên khu du lịch Mẫu Sơn(đoạn km6-km12). Giai đoạn 2 Huyện Lộc ước thực hiện 2.344 triệu đồng....
- Vốn ngoài nhà nước: Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn ngoài nhà nước quý I năm 2020 thực hiện ước đạt 2.400.789  triệu đồng, tăng 29,31%, tương đương tăng 544.234 triệu đồng, trong đó: Vốn của các tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước thực hiện đạt 1.174.201 triệu đồng, chiếm 61,51%. 
- Vốn đầu tư của khu vực dân cư đạt 1.226.588 triệu đồng, tăng 8,58%, tương đương tăng 97.022  triệu đồng so với cùng kỳ. (Nguyên nhân tăng chủ yếu do trong ngày 23 và ngày 24 tháng 1 năm 2020 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn có 10/11 huyện, thành phố  đã  xảy ra mưa đá làm hư hỏng nhiều công trình xây dựng và hoa màu, sau Tết Nguyên đán nhiều hộ dân cư phải sửa chữa lại nhà ở và các công trình xây dựng khác với khoảng 2000 hộ dân).
- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài quý I năm 2020 thực hiện ước đạt 16.050 triệu đồng giảm so với cùng kỳ năm trước.
* Phân theo khoản mục đầu tư: Đầu tư xây dựng cơ bản ước đạt 2.649.766 triệu đồng, chiếm 88,42%; đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản ước đạt 195.996 triệu đồng, chiếm 6,54%; vốn đầu tư sửa chữa lớn nâng cấp tài sản cố định ước đạt 145.453 triệu đồng, chiếm 4,85%; vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động ước đạt 660 triệu đồng; vốn đầu tư khác ước đạt 4.780 triệu đồng.
3.2 Tiến độ thực hiện một số dự án trên địa bàn tỉnh
Dự án Cầu thị trấn Lộc Bình: Công trình có tổng mức đầu tư 181.190 triệu đồng. Lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 3 năm 2020 ước thực hiện được 138.100 triệu đồng đạt 76,21% so với kế hoạch. 
Dự án đường đến trung tâm xã Tân Yên, huyện Tràng Định: Công trình có tổng mức đầu tư 414.410 triệu đồng. Lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 3 năm 2020 ước thực hiện được 334.716 triệu đồng đạt  80,76% so với kế hoạch. 
Dự án đường Hữu Nghị Bảo Lâm thuộc hạ tầng Khu Kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng huyện Cao Lộc: Công trình có tổng mức đầu tư 440.803 triệu đồng. Lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 3 năm 2020 ước thực hiện được 404.000 triệu đồng đạt 91,65% so với kế hoạch. 
Dự án Hợp phần bồi thường hỗ trợ TĐC dự án Hồ chứa nước Bản Lải, công trình có tổng mức đầu tư 1.028.200  triệu đồng. Lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 3 năm 2020 ước thực hiện được 817.366 triệu đồng đạt 79,49 % so với kế hoạch.
Dự án Apec Diamond Park Lạng Sơn, công trình có tổng mức đầu tư 1000 tỷ đồng do công ty cổ phần đầu tư IDJ Việt Nam làm chủ đầu tư. (Dự án khu đất rộng 55.432 m2 nằm trên quốc lộ 1, thôn Phai Duốc, xã Mai Pha, thành phố Lạng sơn. (Trong quý IV năm 2019 dự án bắt đầu, đầu tư vào dự án 50 tỷ đồng)
3.3 Đăng ký kinh doanh
Số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh mới tính đến ngày 9 tháng 3 năm 2020 đã cấp đăng ký kinh doanh mới cho 42 doanh nghiệp. Tổng số vốn đăng ký 367.000 triệu đồng. Số doanh nghiệp cấp đăng ký thay đổi cho ngành nghề kinh doanh 26 doanh nghiệp. Thông báo tạm ngừng hoạt động 51 doanh nghiệp. Số doanh nghiệp giải thể 9 doanh nghiệp.
4. Tài chính, ngân hàng
4.1 Tài chính
Ngay từ đầu năm, Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban chỉ đạo thu NSNN tỉnh đã chỉ đạo cơ quan Thuế, Hải quan, các cơ quan liên quan và UBND các huyện, thành phố tập trung tổ chức thực hiện tốt các chính sách, pháp luật về thuế và nhiệm vụ thu NSNN năm 2020. 
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện quý I/2020 là 1.093.7 tỷ đồng, đạt 18,6% so với dự toán Trung ương giao, đạt 17,8% so với dự toán tỉnh giao và bằng 79,5% so với cùng kỳ năm 2019.Trong đó: Thu nội địa là 692 tỷ đồng, đạt 25,2% so với dự toán tỉnh giao, bằng 110,6% so với cùng kỳ năm 2019.
Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện quý I/2020 là 2.271,5 tỷ đồng, đạt 14,94% dự toán giao đầu năm, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó: Chi đầu tư phát triển là 394 tỷ đồng, đạt 26,8% dự toán, bằng 102% so với cùng kỳ năm 2019; Chi thường xuyên là 1.497 tỷ đồng, đạt 20,1% dự toán, bằng 102,3% so với cùng kỳ năm 2019.
4.2 Ngân hàng
Trước tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ngày càng lan rộng gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân. Trên cơ sở chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Lạng Sơn đã có văn bản chỉ đạo các chi nhánh tổ chức tín dụng trên địa bàn chủ động nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh, bám sát diễn biến tình hình dịch Covid-19, cân đối đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, triển khai giải pháp hỗ trợ đối với khách hàng gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19.
Ước thực hiện đến 31/3/2020: Tổng huy động vốn đạt 30.460 tỷ đồng, tăng 12,92% so với cùng kỳ năm 2019; Dư nợ tín dụng đạt 30.890 tỷ đồng, tăng 10,94% so với cùng kỳ năm 2019.
5. Thương mại và dịch vụ
5.1. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng
Quý I/2020, các hoạt động về kinh doanh dịch vụ đều có doanh thu thấp hơn so với quý trước và cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, hoạt động giao thương tại các cửa khẩu tạm dừng hoạt động thông quan từ những ngày ngay sau tết Nguyên đán Canh Tý 2020. 
Nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động xuất nhập khẩu, vận chuyển hàng hóa qua biên giới, UBND tỉnh đã chỉ đạo các lực lượng chức năng thực hiện nghiêm chỉ đạo của trung ương, của tỉnh về công tác phòng, chống dịch bệnh, tăng cường quản lý, tạo thuận lợi cho hoạt động thông quan hàng hóa đồng thời kiểm soát chặt chẽ phương tiện và chủ phương tiện khi thực hiện giao nhận hàng theo quy định của Bộ Y tế nhằm bảo đảm kiểm soát chặt chẽ,  nghiêm ngặt về  phòng chống dịch.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 3/2020 dự tính đạt khoảng 1.372,6 tỷ đồng, giảm 5,59% so với tháng trước và giảm 9,23% so với cùng kỳ. Quý I/2020 ước đạt 4.430,5 tỷ đồng, giảm 4,28% so với cùng kỳ. 
Các nhóm ngành hàng hóa giảm trong quý I/2020 so với cùng kỳ năm trước: nhóm lương thực, thực phẩm đạt khoảng 2.226,6 tỷ đồng, giảm 4,2%; nhóm hàng may mặc đạt khoảng 689,7 tỷ đồng, giảm 5,5%; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt khoảng 457,4 tỷ đồng, giảm 9,49%; nhóm vật phẩm văn hóa, giáo dục đạt khoảng 23,25 tỷ đồng, giảm 7,46%; nhóm phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) đạt khoảng 99,8 tỷ đồng, giảm 14,92%; nhóm xăng, dầu các loại đạt khoảng 204,3 tỷ đồng, giảm 5,83%; nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm đạt khoảng 66 tỷ đồng, giảm 2,18%.
Trong quý I/2020 do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 các hoạt động trao đổi mua bán, sản xuất kinh doanh thương mại giảm mạnh, hầu hết các cửa hàng, đại lý, hệ thống siêu thị, hệ thống cửa hàng tiện íchVinmart+…trên địa bàn số lượng hàng hóa lưu thông ít, sức mua của người tiêu dùng giảm.
Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống ước tính tháng 3 năm 2020 đạt 120,9 tỷ đồng, giảm 8% so với tháng trước và giảm 21,86% so với cùng kỳ năm trước. Dự ước quý I/2020 đạt 398,8 tỷ đồng so với quý cùng kỳ năm trước giảm 11,01%.
Doanh thu du lịch lữ hành dự ước tháng 3/2020 đạt 0,8 tỷ đồng, giảm 7,65% so với tháng trước và giảm 24,47% so với cùng kỳ năm trước. Dự ước quý I/2020 đạt 2,7 tỷ đồng, so với quý cùng kỳ năm trước giảm 12,53%.
Doanh thu hoạt động dịch vụ (trừ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) dự ước tháng 3/2020 đạt 34,6 tỷ đồng, giảm 6,4% so với tháng trước và giảm 8,75% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các nhóm ngành dịch vụ trong tháng  đều giảm hơn so với tháng trước. Dự ước quý I/2020 đạt 111,8 tỷ đồng so với quý cùng kỳ năm trước giảm 4,16% . 
5.2. Vận tải
Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, hoạt động giao thương tại các cửa khẩu tạm dừng hoạt động thông quan từ những ngày ngay sau Tết Nguyên đán Canh Tý 2020. Nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động xuất nhập khẩu, vận chuyển hàng hóa qua biên giới, UBND tỉnh đã chỉ đạo các lực lượng chức năng tăng cường quản lý, tạo thuận lợi cho hoạt động thông quan hàng hóa đồng thời kiểm soát chặt chẽ phương tiện và chủ phương tiện khi thực hiện giao nhận hàng theo quy định của Bộ Y tế nhằm bảo đảm kiểm soát chặt chẽ,  nghiêm ngặt về  phòng chống dịch. Tại cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị, các lực lượng chức năng đã tiến hành hội đàm với thị Bằng Tường (Trung Quốc) để trao đổi, thống nhất các biện pháp phòng chống dịch bệnh và thực hiện việc xuất nhập khẩu, vận chuyển hàng hóa qua biên giới, thống nhất nhất khôi phục thông quan hàng hóa qua biên giới, thống nhất khôi phục thông quan hàng hóa từ ngày 05/02/2020. 
Thực hiện Công điện số 224/CĐ-TTg ngày 12/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ và văn bản số 980/BCT-XNK ngày 15/02/2020 của Bộ Công Thương các lực lượng chức năng đã tiến hành trao đổi, hội đàm với chính quyền Quảng Tây ( Trung Quốc) để thống nhất cho chính thức mở lại các hoạt động xuất, nhập khẩu, vận chuyển hàng hóa qua cửa khẩu phụ Tân Thanh - Pò Chài từ ngày 20/02/2020. Cửa khẩu Quốc tế đường sắt Đồng Đăng, cặp cửa khẩu song phương Chi Ma – Ái Điểm thực hiện thông quan bình thường đối với loại hình giao thương chính ngạch. Hàng xuất khẩu chủ yếu là khẩu trang y tế và các thiết bị bảo hộ, phòng chống dịch bệnh.
Để phòng chống dịch bệnh được tốt nhất, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan, các lực lượng chức năng thực hiện nghiêm chỉ đạo của trung ương, của tỉnh về công tác phòng, chống dịch bệnh. Các cửa khẩu đã triển khai giám sát y tế chặt chẽ, nghiêm ngặt, thực hiện tiêu độc, khử trùng hệ thống bến bãi, địa điểm làm việc, nhà làm việc liên ngành của các lực lượng chức năng theo quy định.Tại cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị, đã thiết lập một khu vực riêng để làm điểm giao, nhận hàng hóa xuất, nhập khẩu tại cửa khẩu từ 05/02/2020, thành lập tổ lái xe chuyên dụng người Việt Nam để đưa hàng sang Trung Quốc, cho các chủ hàng, lái xe mặc quần áo bảo hộ khi sang Trung Quốc giao dịch, vận chuyển hàng hóa. 
Mặc dù đã có những biện pháp thiết thực để phòng chống dịch bệnh Covid-19, giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn trong hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa, song trước những diễn biến hết sức phức tạp của dịch bệnh, hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn vẫn chịu những tác động xấu từ dịch bệnh trong nước và trên thế giới, do vậy trong quý I/2020, các hoạt động về kinh doanh dịch vụ đều có doanh thu thấp hơn so với quý trước và cùng kỳ năm trước.
Chiều ngày 20/3/2020 đồng chí Nguyễn Công Trưởng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn đã tiến hành điện đàm với đồng chí Dương Tấn Bách, Phó Chủ tịch Chính phủ nhân dân Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc trao đổi, bàn các biện pháp tháo gỡ khó khăn trong xuất nhập khẩu (XNK) hàng hóa của hai bên.
Qua điện đàm, lãnh đạo hai Tỉnh - Khu đánh giá cao sự phát triển tốt đẹp của quan hệ song phương trên nhiều lĩnh vực thời gian qua. Nhằm tiếp tục tạo điều kiện thông quan hàng hóa phục vụ giao thương, đáp ứng nhu cầu của người dân và doanh nghiệp, hai bên cùng thống nhất tạm thời mở lại tuyến đường XNK hàng hóa qua đường hầm Tả Phụ (Km số 0 khu vực mốc 1116-1117 thuộc CK quốc tế Hữu Nghị), nâng cao năng lực thông quan lên 20%, mở rộng các bến bãi, phân luồng hàng hóa, bố trí cán bộ, tăng thời gian làm việc, đơn giản các thủ tục thông quan, chỉ đạo các cơ quan chức năng và chính quyền hai bên cùng tiếp tục trao đổi, hội đàm các biện pháp để giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong XNK hàng hóa.Hoạt động vận tải, kho bãi trên địa bàn cùng chung với những khó khăn do dịch bệnh gây ra. Dự ước, tổng doanh thu của hoạt động kho bãi trong quý I/2020 đạt 276 tỷ đồng, trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 72 tỷ đồng (doanh thu  giảm 27,26%, khối lượng hành khách vận chuyển giảm 33,09%,  khối lượng hành khách luân chuyển giảm 33,63% so với cùng kỳ năm trước); doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 151.8 tỷ đồng (doanh thu giảm 12,4%, khối lượng hàng hóa vận chuyển giảm 0,33%, khối lượng hàng hóa luân chuyển giảm 26,69% so với cùng kỳ năm trước). Trong hoạt động vận tải, doanh thu vận tải hành khách mức độ giảm cao hơn hoạt động vận tải hàng hóa (doanh nghiệp ngoài nhà nước doanh thu vận tải hành khách bằng 57,93%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài doanh thu chỉ bằng 31,39% so cùng kỳ năm trước).
Dự ước, sang quý II, thời tiết ấm lên, dịch bệnh có khả năng chậm và hết, lúc đó mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh trở lại bình thường thì doanh thu các hoạt động, dịch vụ mới có thể tăng trở lại
5.3. Xuất, nhập khẩu
Để thực hiện quản lý chặt chẽ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện xuất nhập cảnh trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn đã ban hành công văn số 156/HQLS-GSQL ngày 17/01/2020 về việc chấn chỉnh công tác giám sát quản lý về Hải quan; yêu cầu các đơn vị thực hiện công tác kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh tạm nhập tái xuất, gửi kho ngoại quan tái xuất theo đúng quy định tại Luật Hải quan và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn về công tác giám sát quản lý về hải quan.
Tính đến hết ngày 12/3/2020: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 230 triệu USD, giảm 55,3% so với cùng kỳ. Trong đó: Xuất khẩu đạt 101,8 triệu USD, giảm 61,6% so với cùng kỳ; Nhập khẩu đạt 128,2 triệu USD, giảm 48,6% so với cùng kỳ.
Kim ngạch xuất nhập khẩu quý I/2020 giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2019 nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 dẫn đến việc thông quan hàng hóa tại các khu vực cửa khẩu bị dừng một thời gian, đến giữa tháng 02/2020 hàng hóa mới bắt đầu được thông quan trở lại, tuy nhiên số lượng hàng hóa được thông quan vẫn còn hạn chế đã ảnh hưởng lớn đến kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa giai đoạn này.
6. Chỉ số giá 
6.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
CPI chung toàn tỉnh trong tháng 3 giảm 0,86% so với tháng trước, trong 11 nhóm mặt hàng chính 07 nhóm hàng hóa giảm, đó là: 
Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,56%, trong đó:
+ Lương thực giảm 0,02%: Chỉ số giá nhóm lương thực giảm ở nhóm mặt hàng bột mì và ngũ cốc khác (giảm 0,24%) và lương thực chế biến (giảm 0,08%).
+ Thực phẩm giảm 0,97%: Chỉ số giá của hầu hết các mặt hàng trong nhóm thực phẩm giảm.
+ Ăn uống ngoài gia đình tăng 0,41%: Do giá thịt bò và thịt lợn tăng vào đầu tháng dẫn đến mặt hàng trong nhóm tăng.
 (2) Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,09%: Chỉ số giá nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm so với tháng trước chủ yếu ở các mặt hàng may mặc vào mùa đông như: áo khoác, áo len, găng tay, bít tất ...
(3) Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,36%, Chỉ số giá tiêu dùng nhóm hàng này giảm chủ yếu ở các mặt hàng giá dầu hỏa bình quân tháng 3 năm 2020 giảm 12,15% so với tháng trước, do điều chỉnh giảm giá vào 15h ngày 15/03/2020; giá gas giảm 5,19%; các mặt hàng còn lại trong nhóm giá ổn định.
(4) Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,03% do người dân không có nhu cầu mua sắm trong thời gian dịch bệnh và tại các cửa hàng đều thực hiện chương trình giảm giá các mặt hàng nhằm kích cầu người dân tiêu thụ sản phẩm.
(5) Nhóm giao thông giảm 3,89%: tính đến 15 giờ ngày 15/03/2020 giá xăng A95 là 17.497đ/L, giá dầu Diezen là 14.151đ/L, chỉ số nhóm này giảm 9,71%, đóng góp giảm 0,38 điểm % vào CPI. Dịch vụ giao thông công cộng, giá vé tàu hỏa giảm 8,93%, giá vé máy bay giảm mạnh 41,14% so với tháng trước do nhu cầu đi lại của người dân giảm mạnh khi dịch bệnh COVID-19 diễn ra. Các mặt hàng còn lại của nhóm giá ổn định.
(6) Nhóm Bưu chính viễn thông giảm 0,23%.
(7) Nhóm Văn hóa giải trí và du lịch giảm 5,19% , chủ yếu do giá du lịch trọn gói trong và ngoài nước giảm (giảm 8,7%); giá khách sạn, nhà khách giảm (giảm 9,01%) do dịch bệnh COVID-19 làm ảnh hưởng không nhỏ tới CPI chung toàn tỉnh.
Có 3 nhóm hàng hóa không thay đổi so với tháng trước là: Nhóm đồ uống và thuốc lá; nhóm thuốc và dịch vụ y tế và nhóm giáo dục. Còn lại nhóm đồ dùng và dịch vụ khác chỉ số giá tăng nhẹ 0,02%, chỉ số nhóm hàng này tăng ở mặt hàng đồ dùng cá nhân như đồ trang sức (tăng 6,25%) do trong tháng có ngày quốc tế phụ nữ 8/3.
Chỉ số giá CPI chung toàn tỉnh tháng 3/2020 tăng 8,57% so với cùng  kỳ năm trước, do ảnh hưởng của một số nhóm hàng sau: (1) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 20,68%; (2) Nhóm may  mặc, mũ nón, giầy, dép tăng 0,25%; (3) Nhóm hàng thiết bị đồ dùng gia đình tăng 1,1%; (4) Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,80%; (5) Nhóm giáo dục tăng 7,42%;  (6) Nhóm đồ dùng và dịch vụ khác tăng 1,84%.
CPI bình quân quý I năm 2020 so với quý cùng kỳ năm trước tăng 9,66%  do ảnh hưởng của một số nhóm hàng sau: (1) Nhóm giáo dục tăng 7,42%; (2) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 21,39%; (3) Nhóm đồ dùng và dịch vụ khác tăng 1,99%; (4) Nhóm may  mặc, mũ nón, giầy, dép tăng 0,62%; (5) Nhóm hàng thiết bị đồ dùng gia đình tăng 1,26%; (6) Nhóm đồ uống thuốc lá tăng 1,99%; (7) Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,55%; (8)Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 3,4%; (9) Nhóm giao thông tăng 2,65%.
6.2. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng tháng 3/2020 tăng 3,6% so với tháng trước; tăng 11,09% so với tháng 12/2019 và tăng 25,48% so với cùng kỳ. Chỉ số giá vàng bình quân quý I năm 2020 tăng 22,25% so với bình quân cùng kỳ năm trước. 
Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2020 tăng 0,21% so với tháng trước; tăng 0,56% so với tháng 12/2019 và tăng 1,02% so với cùng kỳ. Chỉ số đô la Mỹ bình quân quý I năm 2020 tăng 0,8% so với bình quân cùng kỳ năm trước.
7. Một số tình hình xã hội 
7.1. Đời sống dân cư
Những tháng đầu năm, đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn nhìn chung ổn định, do giá cả một số mặt hàng được bình ổn, cung ứng đầy đủ nguồn hàng chinh sách và các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu. Thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, trong dịp Tết Nguyên đán các cấp, các ngành của tỉnh, các tổ chức, cá nhân hảo tâm đã tổ chức nhiều đoàn thăm hỏi, tặng quà cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo trên địa bàn. Quý I năm 2020 đã hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, người cận nghèo và người dân tộc thiểu số là 407.280 thẻ; trong đó, bảo hiểm y tế cho người dân tộc thiểu số là 395.990 thẻ.
Trong quý I năm 2020 trên địa bàn tỉnh có 03/11 huyện thiếu đói trong dân cư, có 712 lượt hộ thiếu đói với 2.533 lượt nhân khẩu, trong đó: hộ chính sách là 6 lượt hộ, với 24 lượt nhân khẩu. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, các cấp, các ngành và địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 38 tấn gạo đến các hộ thiếu đói góp phần giảm bớt khó khăn.
7.2. Giải quyết việc làm
Công tác tư vấn, giới thiệu việc làm, các chính sách lao động - việc làm được duy trì thường xuyên tại Trung tâm dịch vụ việc làm. Quý I/2020, tổng số người lao động được tư vấn về việc làm, học nghề, chính sách pháp luật lao động là 1620 người, số người được giới thiệu việc làm là 110 người; Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm cho vay vốn trên 7,1tỷ đồng với 84 dự án. 
Rà soát, tổng hợp, đề xuất danh mục nghề, công việc người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm trên địa bàn tỉnh gửi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Thông báo kết quả xét duyệt hồ sơ người lao động sau khi có ý kiến của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho 04 trường hợp.
Quý I/2020 có 339 người nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, 355 người có quyết định hưởng bảo hiểm thất nghiệp hàng tháng với tổng số tiền chi trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề trên 5,1 tỷ đồng.
7.3 Giáo dục
Trong quý I năm 2020, Sở Giáo dục và Đào tạo đã triển khai nghiêm túc các nhiệm vụ trọng tâm tới toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh sinh viên trong toàn ngành; thực hiện tốt các hoạt động, các cuộc thi, kỳ thi. Triển khai kịp thời các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của tỉnh, văn bản hướng dẫn của ngành tới các đơn vị trực thuộc; tiếp tục tham mưu tổ chức kiểm tra công nhận, công nhận lại trường học đạt chuẩn quốc gia năm 2020. Ban hành các văn bản chỉ đạo và tiến hành công tác thực hiện phòng chống dịch Covid trong trường học, theo dõi sát sao tình hình dịch bệnh từ đó có chỉ đạo kịp thời đối với các đơn vị trường học.
7.4. Hoạt động y tế và sức khỏe cộng đồng
Trong quý, Sở Y tế đã chủ động tham mưu cho UBND tỉnh tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo phòng chống bệnh dịch COVID-19 trên địa bàn tỉnh, ban hành kế hoạch ứng phó khẩm cấp với các tình huống dịch bệnh. Tập trung nguồn lực thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống dịch COVID-19 từ khu vực cửa khẩu biên giới đến nội địa, đẩy mạnh tuyên truyền, nắm chắc thông tin, hướng dẫn cộng đồng thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe; chỉ đạo các đơn vị, cơ sở y tế thực hiện nghiêm các quy trình chuyên môn, kỹ thuật, giám sát phòng, chống dịch; có phương án tiếp nhận, cách ly điều trị bệnh nhân; chế độ thông tin, báo cáo dịch; đảm bảo tối đa về thuốc, trang thiết bị và vật tư y tế cho công tác phòng chống dịch COVID-19.
Hoạt động của các chương trình Mục tiêu quốc gia và các Dự án về y tế được duy trì, thực hiện có hiệu quả, như: Tăng cường đảm bảo công tác an toàn thực phẩm, phòng chống ngộ độc thực phẩm; công tác Dân số Kế hoạch hóa gia đình; phòng chống HIV/AIDS; dự án Tiêm chủng mở rộng; dự án phòng chống Lao; dự án phòng, chống rối loạn do thiếu hụt Iốt; phòng, chống bệnh Phong….
7.5. Hoạt động văn hoá, thể thao
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị trực thuộc, phòng Văn hóa - Thông tin các huyện, thành phố; Trung tâm Văn hoá - Thể thao, Trung tâm Văn hoá, Thể thao và Truyền thông các huyện, thành phố đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền mừng Đảng, mừng Xuân; kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời kỳ đổi mới, hội nhập và các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2020. Chỉ đạo tuyên truyền phòng, chống dịch bệnh Covid -19 trên địa bàn các huyện, thành phố, đặc biệt tại các xã vùng biên giới. Đồng thời, tăng cường thanh tra, kiểm tra công tác phòng, chống dịch bệnh trong toàn ngành từ tỉnh đến cơ sở.
Trong thời gian đang phòng, chống dịch bệnh Sở đã chỉ đạo hạn chế tổ chức các hoạt động biểu diễn nghệ thuật. Thực hiện nhiều buổi chiếu phim phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao, vùng biên giới.
Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, xúc tiến, quảng bá du lịch. Triển khai các giải pháp phòng, chống dịch Covid-19 trong hoạt động du lịch. Tăng cường các hoạt động tuyên truyền, đôn đốc các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh dịch vụ thực hiện tốt các biện pháp phòng chống dịch, nghiên cứu các giải pháp kích cầu, khôi phục kinh doanh ngay sau khi hết dịch. Thường xuyên theo dõi, nắm bắt thông tin về tình hình dịch bệnh, tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp. Báo cáo kết quả triển khai các giải pháp chống dịch với Đoàn kiểm tra công tác phòng chống dịch Covid-19 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
7.6. Trật tự - An toàn giao thông
Ngành chức năng của tỉnh tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trật tự an toàn giao thông trong dịp Tết Nguyên đán xuân Canh Tý; đẩy mạnh tuần tra lưu động, kết hợp bảo đảm trật tự an toàn giao thông và các nhiệm vụ bảo đảm trật tự an toàn xã hội khác. Tuyên truyền biện pháp hạn chế tai nạn mô tô, xe gắn máy, tai nạn đường đèo dốc, nhất là khu vực nông thôn, thực hiện “đã uống rượu, bia - không lái xe”.
Trong tháng 3 năm 2020 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã xảy ra 02 vụ tai nạn giao thông đường bộ nghiêm trọng (giảm 03 vụ so với cùng kỳ và tăng 01 vụ so với tháng trước), làm chết 02 người (giảm 03 người so với cùng kỳ và tăng 01 người so với tháng trước) và bị thương 01 người (không tăng giảm so với cùng kỳ và tăng 01 người so với tháng trước).
Quý I năm 2020 toàn tỉnh đã xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông (giảm 03 vụ so với cùng kỳ, giảm 23,08%), làm 10 người chết (giảm 04 người, giảm 16,67%) và 04 người bị thương (tăng 01 người, tăng 33,33% so với cùng kỳ).
Nguyên nhân tai nạn chủ yếu là do sử dụng rượu, bia khi tham gia giao thông, ý thức chủ quan, phóng nhanh vượt ẩu của người điều khiển phương tiện đã không làm chủ được tốc độ.
7.7. Môi trường
Trong tháng 3 trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ cháy, nổ nào. Không có vụ vi phạm về môi trường.
Tính đến hết quý I/2020 trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy không có người chết, 01người bị thương; ước tính tổng giá trị thiệt hại khoảng 17 triệu đồng. Xảy ra 05 vụ vi phạm về môi trường, ngành chức năng đã tiến hành xử phạt theo quy định với số tiền là 198 triệu đồng.
7.8. Thiệt hại do thiên tai
Tháng 3/2020 do ảnh hưởng của thời tiết sương muối, sương mù, rét hại, làm cho 03 gia súc bị chết, ước tính thiệt hại 70 triệu đồng. 
Tính đến hết quý I trên địa bàn tỉnh thiệt hại do thiên tai, không có người chết, có 01 người bị thương, thiệt hại nặng về nhà cửa và sản xuất nông nghiệp, ước tính tổng giá trị thiệt hại trên 50 tỷ đồng.


 

Tác giả bài viết: Cục Thống kê tỉnh Lạng Sơn

Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 1 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây