Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn tháng 7 năm 2021

Thứ hai - 26/07/2021 21:15
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7 tăng 0,59%: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,43%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,75%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 0,37%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 1,04%.
3
3
Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn ra ngày càng phức tạp tại một số một số tỉnh, thành phố trong cả nước. Cấp ủy, chính quyền tỉnh Lạng Sơn đã bám sát tình hình dịch bệnh, thay đổi các biện pháp phòng, chống dịch phù hợp với diễn biến và mức độ của dịch bệnh. Tính từ khi phát hiện ca mắc đầu tiên ngày 06/5 đến nay đã qua 47 ngày trên địa bàn tỉnh không phát sinh ca mắc mới trong cộng đồng. Tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt, các hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng được mở cửa trở lại.
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Trong tháng 7, thời tiết có nhiều ngày nắng nóng nên thuận lợi cho việc thu hoạch vụ Xuân... Kết hợp với thu hoạch cây trồng vụ Xuân, tại các địa phương đang khẩn trương làm đất và gieo trồng vụ Mùa năm 2021. Nguồn nước  ao, hồ cơ bản đáp ứng nhu cầu tưới để làm đất và gieo trồng. Dự kiến đến cuối tháng 7, toàn tỉnh cơ bản sẽ thu hoạch xong diện tích cây trồng vụ Xuân.
1.1. Nông nghiệp
1.1.1 Tình hình sản xuất các loại cây trồng hằng năm
* Tình hình thu hoạch cây hằng năm vụ Đông - Xuân năm 2021
- Cây lúa: Toàn tỉnh đang bước vào thời kỳ thu hoạch lúa Xuân, diện tích đã gặt khoảng 9.215,71 ha, bằng 97,58% so với cùng kỳ, bằng 59,74% diện tích gieo trồng. Nguyên nhân diện tích thu hoạch giảm do năm 2020, lúa vụ Xuân thu hoạch sớm hơn so với năm 2021.
- Cây ngô: Diện tích thu hoạch trong tháng ước đạt 7.658,26 ha, tăng 0,23% so với cùng kỳ; cộng dồn là 8.445,79 ha, bằng 60,8% diện tích gieo trồng. Theo nhận định của các huyện, thành phố: năng suất cây ngô vụ Xuân tăng nhưng không đáng kể dự ước, so với cùng kỳ tăng 0,02%.
- Cây lạc: Diện tích thu hoạch trong tháng ước đạt 718,23 ha, tăng 0,15% so với cùng kỳ. Năng suất thu hoạch ước 19,27 tạ/ha, tương đương với sản lượng thu hoạch trong tháng ước 1.384,03 tấn, tăng 0,19% so với cùng kỳ. Do sử dụng giống lạc tiến bộ kỹ thuật, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng như giống lạc L14, cho năng suất thu hoạch cao.
* Tình hình gieo trồng cây hằng năm vụ Mùa năm 2021
Diện tích làm đất vụ Mùa toàn tỉnh ước đạt 24.382,5 ha. Hiện tại, nguồn nước tưới được đảm bảo, mạ phát triển tốt đáp ứng đủ cho diện tích gieo cấy vụ Mùa năm 2021.
- Cây lúa: Tranh thủ thời tiết thuận lợi, người dân tích cực xuống đồng gieo cấy lúa Mùa năm 2021, tập trung gieo cấy các giống lúa chủ yếu như: Khang dân, Bao thai, Kim cương, đây là những giống lúa có ưu điểm phù hợp với điều kiện thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương cũng như cho năng suất và chất lượng tốt. Tính đến trung tuần tháng 7, ước gieo cấy lúa vụ Mùa đạt 17.521,03 ha, bằng 95,54% so với cùng kỳ.
- Cây ngô: Diện tích gieo trồng ước thực hiện 663,82 ha, tăng 0,63% so với cùng kỳ.  Dự kiến người dân sẽ mở rộng diện tích trồng do nhu cầu sử dụng ngô làm thức ăn chăn nuôi tăng (chăn nuôi lợn phục hồi, xu hướng nuôi nhốt trâu, bò vỗ béo ngày càng tăng).
1.1.2. Chăn nuôi
- Tổng đàn trâu: Vẫn giảm dần do nhu cầu sử dụng sức kéo bằng gia súc của Nhân dân giảm và môi trường chăn thả bị thu hẹp, một số hộ bán trâu để lấy vốn đầu tư vào trồng rừng. Ước tính số trâu hiện có 76.902 con, giảm 3,89%; số trâu xuất chuồng là 2.368 con, tăng 4,13% so với cùng kỳ; sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 575,42 tấn.
- Tổng đàn bò: Đàn bò của tỉnh tăng so với cùng kỳ do có thị trường tiêu thụ tốt, giá bán thịt bò hơi ở mức cao, người chăn nuôi có lãi. Ước tính số bò hiện có 33.594 con, tăng 0,33% so với cùng kỳ năm trước; số con xuất chuồng là 685 con, tương đương với sản lượng thịt hơi xuất chuồng 114,11 tấn, tăng 1,59% so với cùng kỳ năm trước do thực hiện mô hình chăn nuôi bò năng suất cao theo hướng nhốt chuồng, vỗ béo.
- Tổng đàn lợn: Số con hiện có dự ước: 112.851 con, tăng 10,64% so với cùng kỳ năm trước; tổng đàn lợn tăng do người dân chuẩn bị tái đàn cho nhu cầu dịp tết.
- Tổng đàn gia cầm: Tổng đàn gia cầm phát triển tốt, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Ước tổng đàn gia cầm hiện có 5.403,57 nghìn con, tăng 9,76% so với cùng kỳ. Trong chăn nuôi các loại gia cầm trên địa bàn toàn tỉnh có xu hướng phát triển đàn chăn nuôi đàn gà,vịt, chim cút, chim bồ câu; giảm chăn nuôi ngan, ngỗng do điều kiện chăn thả và nhu cầu của thị trường giảm. Nhu cầu sử dụng thịt và trứng gia cầm vẫn cao có thị trường tiêu thụ và giá bán ổn định. Dự kiến tổng đàn gia cầm phát triển trong thời gian tới để đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ vào dịp lễ Vu Lan (rằm tháng Bảy Âm lịch).
1.2. Lâm nghiệp
Diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng ước thực hiện 701,35 ha, tăng 2,35% so với cùng kỳ năm trước. Trồng rừng mang lại hiệu quả kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ ổn định. Số cây trồng phân tán ước 172,51 nghìn cây, tăng 0,68% so với cùng kỳ năm trước.
Khai thác gỗ tròn: Ước 10.364,14m3, tăng 3,46% so với cùng kỳ; cộng dồn từ đầu năm 86.930,2m3, tăng 4,04% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác tăng do hiệu quả kinh tế từ trồng rừng sản xuất mang lại, diện tích rừng sản xuất ngày càng lớn; gỗ đến tuổi khai thác và nhu cầu chế biến gỗ của các cơ sở trên địa bàn tăng.
Củi các loại: Ước 101.328,24 ste, giảm 1,47 % so cùng kỳ. Cộng dồn từ đầu năm 780.750,06 ste, giảm 1,15 % so cùng kỳ năm trước. Sản lượng củi khai thác giảm là do hiện nay, nhiều hộ dân không sử dụng củi đun nên sản lượng khai thác giảm.
Các cấp, các ngành tăng cường bám địa bàn, chủ động tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương cơ sở thường xuyên duy trì chế độ trực, gác lửa rừng tại các xã trọng điểm, theo dõi cảnh báo, dự báo nguy cơ cháy rừng trên địa bàn tỉnh; chính quyền địa phương và các chủ rừng thực hiện nghiêm túc phương án quản lý bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ. Trong tháng xảy ra 02 vụ cháy rừng trên địa bàn huyện Cao Lộc và Văn Quan, ước thiệt hại 0,57 ha rừng trồng.
1.3. Thủy sản
Trong những năm vừa qua diện tích nuôi trồng thủy sản tương đối ổn định, đối tượng nuôi trồng thủy sản phong phú, môi trường nuôi không bị ô nhiễm và không có dịch bệnh xảy ra. Trong tháng đã cung ứng được 250,2 nghìn con cá giống các loại (mè, trôi, trắm, chép, chim, trê, vược…) cho người dân trên địa bàn tỉnh.
2. Sản xuất công nghiệp
Hoạt động sản xuất công nghiệp tương đối ổn định, một số ngành sản xuất sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu, các doanh nghiệp đã ký kết đơn hàng với đối tác nước ngoài. Bên cạnh đó trên địa bàn tỉnh triển khai tu sửa, nâng cấp và mở rộng một số công trình giao thông, nhu cầu sử dụng đá trong xây dựng tăng, nên có chỉ số sản xuất tăng.
2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7/2021 so với tháng trước
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7 tăng 0,59%: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,43%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,75%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 0,37%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 1,04%.
Công nghiệp khai khoáng: Sản lượng than khai thác của Công ty Than Na Dương duy trì ổn định; khai khoáng khác (sản phẩm đá xây dựng khác) tăng 0,95%, do một số doanh nghiệp khai thác đá trên địa bàn huyện Hữu Lũng trong tháng 6 tạm nghỉ, thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ; sang tháng 7 quay trở lại hoạt động, tuy nhiên chỉ số sản xuất ngành này tăng không cao do Mỏ đá Hồng Phong I- Chi nhánh Công ty TNHH Hồng Phong tại huyện Cao Lộc (Mỏ khai thác đá khá lớn trên địa bàn tỉnh) tạm ngừng hoạt động 15 ngày để bảo dưỡng máy móc thiết bị.
Công nghiệp chế biến chế tạo: Trong tháng 7, các doanh nghiệp đã ký kết đơn hàng với đối tác nước ngoài nên có chỉ số sản xuất tăng, như: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 9,24%; chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ tăng 16,89%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 14,54%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 41,16% (sản phấm bóng thể thao khác của Công ty cổ phẩn Động Lực Thành Phát, sản xuất chủ yếu theo đơn đặt hàng). Một số ngành sản xuất có chỉ số giảm nhẹ, như: Ngành dệt giảm 2,23%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy giảm 4,62%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm từ hóa chất giảm 2,39%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 3,96%.
Ngành sản xuất và phân phối điện có chỉ số tăng 0,37%: Sản lượng điện sản xuất tăng 0,28%, phục vụ nhu cầu sử dụng điện của các cơ sở sản xuất kinh doanh; điện thương phẩm tăng 1% so với tháng trước, mức tăng lượng tiêu thụ điện phụ thuộc vào điều độ của EVN.
Ngành xử lý và cung cấp nước đáp ứng đủ nhu cầu nước sinh hoạt, so với tháng trước tăng 2,51%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 8,42%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải giảm 0,69% so với tháng trước.
2.2. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7/2021 so với cùng kỳ
So với cùng kỳ, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7 năm 2021 tăng 9,01%. Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,79%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 9,46%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 5,88%.
Ngành công nghiệp khai khoáng: Hoạt động khai thác than tăng 1,55%; hoạt động khai thác đá tăng 2,08% do trong tháng 7/2021 trên địa bàn tỉnh triển khai tu sửa, nâng cấp và mở rộng một số công trình giao thông, nhu cầu sử dụng đá trong xây dựng tăng. 
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số tăng khá so với cùng kỳ do một số sản phẩm chủ lực có mức tăng khá như ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 11,68%; sản xuất kim loại tăng 87,31%, với tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp từ khâu tổ chức sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp chủ động tìm kiếm thị trường tiêu thụ ngoài thị trường truyền thống. Tuy nhiên, một số ngành sản xuất có chỉ số giảm như ngành sản xuất trang phục giảm 2,83%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 4,30%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 1,46%, nguyên nhân chủ yếu do hoạt động công nghiệp trên địa bàn tỉnh còn khó khăn trong cạnh tranh thị trường đầu ra, sản xuất phụ thuộc vào đơn đặt hàng.
Ngành sản xuất và phân phối điện: Sản lượng điện sản xuất tháng 7/2021 tăng 10,04%,  Nhà máy thủy điện Thác Xăng tăng khối lượng điện sản xuất do nhu cầu mua điện từ công ty mẹ (Công ty cổ phần thủy điện Sử Pán 1) tăng; điện thương phẩm tăng 6,16% so với cùng kỳ. Cân đối về điện được đảm bảo, đáp ứng tốt nhu cầu về điện cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.
Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải ước tăng 5,88%, cụ thể: Khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 1,12%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 7,82%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 10,48%, do địa bàn thị trấn một số huyện mở rộng địa giới, để đảm bảo tiêu chí vệ sinh môi trường cần tập trung thu gom rác thải và xử lý theo quy định nên hoạt động thu gom rác thải, tái chế phế liệu được tăng cường.
2.3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 7 tháng năm 2021 so với cùng kỳ
Tính chung 7 tháng năm 2021, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng 6,22%.
Trong ngành công nghiệp khai thác, sản phẩm than khai thác giảm 0,31%; đá khai thác tăng 6,94%, riêng sản phẩm đá xây dựng do thời tiết khô ráo thuận tiện cho hoạt động khai thác đá và từ đầu năm các công trình dân dụng, đường giao thông đi vào sửa chữa làm mới trên nhiều tuyến, do đó chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ.
Ngành công nghiệp chế biến chế tạo giữ vững được mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước, là nhân tố chính tác động tích cực đến tăng trưởng chung của toàn ngành. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo, là nhóm chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn ngành công nghiệp, tiếp tục tăng với tốc độ cao nhất (tăng 12,92%).
Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 7 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước, đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp, như: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 56,52%, Công ty cổ phần da Nguyên Hồng cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của dịch Covid-19 chỉ có hoạt động gia công sản phẩm cho một số công ty trong nước, năm 2021 quay trở lại hoạt động gia công cho đối tác nước ngoài; chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ tăng 25,75%; sản xuất kim loại tăng 66,22%, Công ty kim loại màu Bắc Bộ cùng kỳ năm trước thiếu nguyên liệu, chủ yếu sản xuất sản phẩm bạc, năm 2021 tập trung đẩy mạnh sản phẩm chì thỏi; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 18,57%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 13,05%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 8,33% (sản phẩm Xi măng Portland đen sản phẩm chủ lực của tỉnh tăng 12,6%, chủ yếu do Công ty xi măng Đồng Bành và Công ty cổ phần xi măng Hồng Phong đẩy mạnh tiêu thụ nội địa, sản xuất cung ứng cho các công ty nên tăng công suất hoạt động). Một số ngành có chỉ số sản xuất giảm: Sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy giảm 5,74%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 0,77%.
Trong sản xuất và phân phối điện thì sản lượng điện sản xuất giảm 1,32%; điện thương phẩm tăng 8,07% so với cùng kỳ.
Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải: Nước uống được tăng 5,16%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế  tăng 6,70%.
Qua số liệu tổng hợp cho thấy: Chỉ số sản xuất công nghiệp chính thức 6 tháng đầu năm 2021 của tỉnh Lạng Sơn tăng 5,73%, thấp hơn mức tăng 9,3% của chỉ số sản xuất công nghiệp chung toàn quốc. Do vậy trong những tháng tiếp theo cần có những biện pháp cụ thể để đạt kế hoạch tăng trưởng đề ra: Chính quyền địa phương bám sát tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn để hướng dẫn thực hiện giải pháp nhằm thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 hiệu quả vừa bảo đảm phát triển sản xuất, kinh doanh; tạo điều kiện thuận lợi để ổn định và nâng cao năng lực hoạt động của các cơ sở sản xuất công nghiệp hiện có; triển khai hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các sản phẩm công nghiệp của tỉnh; đẩy mạnh khai thác và phát triển thị trường nội địa, nâng cao sức tiêu dùng và phát triển thương hiệu Việt; phát triển mạnh thương mại điện tử và sự gắn kết giữa thương mại điện tử với các loại hình hoạt động thương mại truyền thống.
Trên cơ sở tình hình thực hiện 7 tháng năm 2021 và tình hình sản xuất kinh doanh ổn định của một số ngành hàng chủ lực, dự kiến chỉ số sản xuất công nghiệp cả năm 2021 đạt ở mức tăng trưởng trên 6,5%.
2.4. Chỉ số sử dụng lao động
Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 7/2021 giảm 0,06% so với tháng trước và giảm 0,96% so với cùng kỳ. Trong đó, so với cùng kỳ ngành khai khoáng chỉ số sử dụng lao động giảm 8,76%, cho thấy ngành công nghiệp khai khoáng việc ứng dụng khoa học công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại trong sản xuất ngày càng cao; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,76% do một số doanh nghiệp tăng năng suất lao động; ngành sản xuất, phân phối điện giảm 0,21%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,58%. Bình quân 7 tháng năm 2021, chỉ số sử dụng lao động tăng 0,06% so với cùng kỳ năm trước.
 Chỉ số sản xuất toàn ngành 7 tháng năm 2021 tăng 6,22%, trong khi chỉ số sử dụng lao động tăng 0,06% cho thấy hiệu suất sử dụng lao động trong sản xuất tăng.
3. Đầu tư, xây dựng
Để hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2021 của tỉnh và thực hiện nghiêm túc các giải pháp tại Nghị quyết số 01/NQ-CP, ngày 01/01/2020 của Chính phủ, giải ngân hết kế hoạch vốn đã được giao, hoàn thành các dự án theo mục tiêu, tiến độ đề ra. Tập trung  đẩy nhanh tiến độ triển khai  các  công  trình, dự án đầu tư công, nhất là dự án khởi công mới và dự án hoàn thành trong năm 2021 như: Dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 4B (đoạn Km3+700 - Km18); kè chống sạt lở bờ sông Kỳ Cùng (thị trấn Na Sầm, huyện Văn Lãng); các dự án sử dụng vốn ODA.... Đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án: Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố Lạng Sơn; các hạng mục thuộc Hợp phần bồi thường hỗ trợ và tái định cư dự án Hồ chứa nước Bản Lải giai đoạn 1,... Đối với các dự án chuyển tiếp cần đẩy nhanh tiến độ thi công, kịp thời nghiệm thu khối lượng, giải ngân thanh toán theo quy định để  cao nâng  tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công của tỉnh. Tiếp tục phối hợp, hỗ trợ nhà đầu tư tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về việc triển khai thực hiện Dự án thành phần 2, đoạn Hữu Nghị - Chi Lăng thuộc dự án tuyến cao tốc Bắc Giang - Lạng Sơn theo hình thức BOT và các dự án thực hiện theo hình thức PPP khác. Các chủ đầu tư, cơ quan liên quan tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp đảm bảo các dự án được ghi kế hoạch vốn khởi công mới trong năm 2021 nhưng chưa khởi công phải được khởi công trong các tháng tới.
 Dự ước vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh tháng 7/2021 ước thực hiện 327.407 triệu đồng, đạt 11,24% so với kế hoạch năm 2021, tăng 21,50% so với cùng kỳ. Chia ra: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 216.754 triệu đồng, tăng 30,29% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 110.653 triệu đồng, tăng 7,32% so với cùng kỳ.
Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý  trên địa bàn tỉnh 7 tháng năm 2021, ước thực hiện 1.604.187 triệu đồng, đạt 55,09% so với kế hoạch năm, tăng 6,49% so với cùng kỳ. Chia ra: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 993.530 triệu đồng, tăng 8,46% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 610.657 triệu đồng, tăng 3,44% so với cùng kỳ.
* Tiến độ thực hiện một số dự án trên địa bàn tỉnh:
Dự án cải tạo nâng cấp Quốc lộ 4B (đoạn km3+700-km18): Công trình có tổng mức đầu tư 988,2 tỷ đồng. Lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 7/2021 ước thực hiện được 176 tỷ đồng, đạt 17,8% kế hoạch.
Dự án cải tạo, nâng cấp đường lên Khu du lịch Mẫu Sơn, giai đoạn 2 (đoạn km6 - km12): Công trình có tổng mức đầu tư 117 tỷ đồng, lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 7/2021 ước thực hiện được 83 tỷ đồng, đạt 70,9% kế hoạch.
Dự án Hạ tầng cơ bản phát triển các tỉnh Đông Bắc: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn - tiểu dự án tỉnh Lạng Sơn (4 hợp phần): Công trình có tổng mức đầu tư 1.377,6 tỷ đồng, lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 7/2021 ước thực hiện được 297 tỷ đồng, đạt 21,55% kế hoạch.
4. Tài chính, ngân hàng       
4.1. Tài chính[1]
- Về thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn
Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn ước thực hiện tháng 7 năm 2021 là  803,6 tỷ đồng, tăng 29,9% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó: thu nội địa là 200 tỷ đồng bằng 73% so với cùng kỳ năm 2020, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 603,6 triệu đồng tăng 75,1% so với cùng kỳ năm 2020.
Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn ước thực hiện 7 tháng năm 2021 là 6.542,6 tỷ đồng, đạt 116,1% so với dự toán Trung ương giao, đạt 112,1% so với dự toán tỉnh giao, tăng 78,8% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó: Thu nội địa đạt 1.638,7 tỷ đồng, đạt 68,7% so với dự toán tỉnh giao, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2020; Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu: 4.900 tỷ đồng, đạt 142% so với dự toán giao, tăng 134,6% so với cùng kỳ năm 2020; Các khoản huy động, đóng góp: 3,9 tỷ đồng, tăng 54,5% so với cùng kỳ năm 2020.
- Về chi ngân sách địa phương
Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện tháng 7 năm 2021 là 1.003,1 tỷ đồng, bằng 98,9% so với cùng kỳ năm 2020. Lũy kế tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện 7 tháng đầu năm 2021 là 5.306 tỷ đồng, đạt 49,4% dự toán giao đầu năm, bằng 96,6% so với cùng kỳ năm 2020, Trong đó:
- Chi cân đối ngân sách địa phương là 4.636 tỷ đồng, đạt 52,2% dự toán giao đầu năm và tăng 0,9% so cùng kỳ năm 2020: Chi đầu tư phát triển là 703,8 tỷ đồng, đạt 48,1% dự toán, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2020; Chi thường xuyên: 3.833,4 tỷ đồng, đạt 53% dự toán, bằng 99% so với cùng kỳ năm 2020.
- Chi các chương trình mục tiêu và một số nhiệm vụ khác là 670 tỷ đồng đạt 36% dự toán, bằng 74,4% so với cùng kỳ năm 2020.
4.2. Ngân hàng[2]
Hoạt động ngành ngân hàng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn cơ bản ổn định và an toàn, khả năng thanh khoản của các ngân hàng được đảm bảo, đáp ứng đủ nhu cầu vốn cho nền kinh tế và chi trả cho khách hàng, góp phần tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Dự kiến đến 31/7/2021, tổng huy động vốn ước đạt 32.450 tỷ đồng, tăng 3,9% so với 31/12/2020. Dư nợ tín dụng của các ngân hàng trên địa bàn đến 31/7/2021 ước đạt 34.670 tỷ đồng, tăng 3,1% so với 31/12/2020.
5. Thương mại và dịch vụ
Hiện nay, tỉnh Lạng Sơn nới lỏng, cho hoạt động trở lại các hoạt động dịch vụ như ăn uống, thể dục, thể thao tại các huyện, thành phố. Hoạt động mua sắm hàng hoá thiết yếu phục vụ cho đời sống sinh hoạt hằng ngày, đặc biệt các mặt hàng điện lạnh, thiết bị làm mát như điều hoà, tủ lạnh, quạt điện của Nhân dân tại các chợ, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi, đại lý, siêu thị tăng… Bên cạnh đó, các đại lý cũng đã áp dụng nhiều chương trình khuyến mãi giảm giá các sản phẩm để kích cầu tiêu dùng. Riêng giá các mặt hàng sắt, thép hiện nay ổn định nhiều ngày liên tiếp trong tháng 7, tuy nhiên vẫn chưa có dấu hiệu giảm do giá nguyên liệu đầu vào trên thế giới vẫn đang tiếp tục tăng. Doanh thu các hoạt động thương mại trong tháng 7/2021 dự ước tăng so với tháng trước và cùng kỳ, cụ thể:
5.1. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 7/2021 ước tính đạt 1.540,6 tỷ đồng, tăng 1,22% so với tháng trước và tăng 3,43% so với cùng kỳ năm trước. Xét doanh thu theo nhóm ngành hàng hoá thì có 8/12 nhóm ngành hàng hoá có tốc độ tăng dưới 6% so với tháng trước, lần lượt: Nhóm lương thực, thực phẩm tăng 2,12%; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 5,11%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng tăng 5,88%; nhóm ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 2,42%; nhóm xăng dầu tăng nhẹ 0,95%; nhiên liệu khác tăng 1,6%; nhóm hàng hoá khác tăng 2,43%; doanh thu sửa chữa ô tô, mô tô xe máy tăng 2,88%. Các nhóm ngành hàng hóa khác còn lại giảm nhẹ ở mức ổn định không có hiện tượng biến động về giá cũng như khan hiếm mặt hàng.
Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá 7 tháng năm 2021 đạt 11.229,2 tỷ đồng, tăng 13,75% so với cùng kỳ năm trước.
5.2. Dịch vụ
5.2.1. Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành
Trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đến thời điểm hiện tại các nhà hàng, quán ăn đã hoạt động trở lại, tuy nhiên chủ cơ sở phục vụ dịch vụ ăn uống phải đảm bảo thực hiện nghiêm túc các biện pháp phòng, chống dịch theo quy định và phục vụ tối đa không quá 50% công suất.
Hoạt động du lịch nước ngoài tạm thời chưa hoạt động trở lại, các tour du lịch trong nước hầu như phải tạm ngừng do dịch Covid -19 vẫn đang diễn biến phức tạp ở nhiều địa phương trên cả nước. Doanh thu dịch vụ lữ hành tháng 7/2021 ước đạt 536 triệu đồng, so với tháng trước giảm 14,43%; so với cùng kỳ giảm 61,9%.
Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 7/2021 dự ước doanh thu đạt 120,1 tỷ đồng, tăng 2,83% so với tháng trước: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 7 tỷ đồng, tăng 1,8%; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 113,1 tỷ đồng, tăng 2,89% so với tháng trước.
Dự ước 7 tháng năm 2021, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 945,4 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 4,97%. Trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã và đang được đầu tư phát triển mạnh các khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng.
5.2.2. Doanh thu dịch vụ khác
Hiện nay một số dịch vụ chưa cần thiết như: karaoke, quán bar, xông hơi, masage, điểm truy cập game… chưa được phép hoạt động trở lại. Ngoài các dịch vụ trên thì các hoạt động dịch vụ kinh doanh bất động sản, dịch vụ hành chính và hỗ trợ trong tháng 7/2021 tăng hơn so với tháng trước là do đang vào mùa cao điểm thi công các dự án, công trình xây dựng trọng điểm do đó nhu cầu sử dụng các dịch vụ hỗ trợ hành chính, dịch vụ thuê máy móc công trình có xu hướng tăng tác động đến doanh thu hoạt động dịch vụ tăng hơn so với tháng trước. Ngoài ra dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội cũng tăng so với tháng trước do ảnh hưởng của thời tiết nắng, nóng phát sinh nhiều bệnh cho người già và trẻ em do vậy nhu cầu về các dịch vụ y tế tăng.
Doanh thu hoạt động dịch vụ tháng 7/2021 dự ước đạt 35,7 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 0,45%, cụ thể từng nhóm dịch vụ như sau: Nhóm kinh doanh bất động sản tăng 5,20%; nhóm hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 6,70%; nhóm hoạt động y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 4,13%. Ngoài các nhóm tăng trên thì có nhóm dịch vụ giáo dục giảm 1,35%; nhóm nghệ thuật vui chơi giải trí giảm 5,78%; nhóm dịch vụ khác giảm 5,01%; nguyên nhân của các nhóm dịch vụ giảm so với tháng trước là do ảnh hưởng của dịch Covid-19 một số dịch vụ tạm nghỉ, nhất là dịch vụ giáo dục đối với các nhóm trẻ, mầm non.
So với cùng kỳ năm trước, doanh thu hoạt động dịch vụ tháng 7/2021 dự ước tăng 3,18%; lũy kế 7 tháng năm 2021 doanh thu hoạt động dịch vụ ước đạt 270,7 tỷ đồng, tăng 13,19% so với cùng kỳ.
5.3. Vận tải
Do ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19 nên doanh thu từ hoạt động vận tải giảm, đặc biệt vận tải hành khách doanh thu giảm sâu, cụ thể:
- Dự ước doanh thu toàn ngành tháng 7 là 128,6 tỷ đồng, tăng 9,57% so với tháng trước và giảm 5,5% so với cùng kỳ năm trước: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 10,8 tỷ đồng, giảm 42,61%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 74 tỷ đồng, giảm 9,9%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ ước đạt 43,4 tỷ đồng, tăng 24,81%; hoạt động chuyển phát ước đạt 350 triệu đồng, tăng 4,79% so với cùng kỳ năm trước.
- Dự ước 7 tháng năm 2021, doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi đạt 935,8 tỷ đồng, tăng 15,38% so với cùng kỳ: Doanh thu vận tải hành khách đạt 107,9 tỷ đồng, giảm 14,64%; khối lượng vận chuyển hành khách đạt 3.469 nghìn khách tăng 9,99%; khối lượng luân chuyển đạt 146.147 nghìn HK.Km, giảm 6,71% so với cùng kỳ. Doanh thu vận tải hàng hóa đạt 570 tỷ đồng, tăng 16,67%, khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 2.774 nghìn tấn, tăng 24,58%; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 332.163 nghìn tấn.Km, tăng 23,19%. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 255,7 tỷ đồng, tăng 31,4% và hoạt động chuyển phát đạt 2 tỷ đồng, tăng 52,5%.
Với tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn ra phức tạp ở các tỉnh phía Nam, tình hình phát triển kinh tế ở nhiều địa phương gặp nhiều khó khăn, hoạt động vận tải của tỉnh cũng chịu ảnh hưởng. Dự báo, doanh thu hoạt động vận tải các tháng cuối năm tốc độ phát triển sẽ không cao như các tháng đầu năm.
6. Chỉ số giá
6.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chung toàn tỉnh tháng 7/2021 giảm 0,04% so với tháng trước; giảm 0,79% so với cùng kỳ năm trước, tăng 2,29% so với năm gốc 2019, cụ thể:
6.1.1. Một số nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước, gồm:
- May mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,02%: Chỉ số giá nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng nhẹ so với tháng trước chủ yếu tăng ở các mặt hàng như: thắt lưng, mũ bảo hiểm, mũ vải...
- Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,17% do:
+ Chỉ số giá nhóm hàng trên biến động tăng chủ yếu ở một số mặt hàng sau: Giá điện sinh hoạt tăng 5,26% so với tháng trước, do thời tiết nắng nóng kéo dài nhu cầu tiêu thụ điện của người dân trong tháng tăng mạnh. Giá dầu hỏa tăng 7,38%, do trong kỳ liên Bộ Công thương – Tài chính điều chỉnh giá vào ngày 12/7 theo diễn biến giá dầu của thế giới. Giá gas tăng 8% (tăng 30.000 đồng/bình 12 kg), nguyên nhân giá gas tháng 7 tăng là do giá gas thế giới tăng mạnh làm cho giá gas trong nước tăng theo, nhà cung cấp thế giới công bố giá gas bình quân là 620 USD/tấn, tăng 92,5 USD/tấn so với tháng trước.
+ Giá nước sinh hoạt tăng 0,05%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở giảm 1,1%, giá nguyên vật liệu phục vụ cho các công trình xây dựng bắt đầu có xu hướng giảm nhẹ.
- Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,07%: Chỉ số giá nhóm này tăng chủ yếu ở mặt hàng rượu bia, nước giải khát (tăng 0,15%) do trong tháng có giải bóng đá lớn diễn ra, nhu cầu tiêu dùng rượu bia của người dân tăng.
- Nhóm giao thông tăng 2,59%, nguyên nhân:
 + Chỉ số giá nhóm nhiên liệu tăng 7,08% so với tháng trước. Do trong kỳ có điều chỉnh tăng giá xăng vào 15 giờ 00 ngày 12/7, trong đó: Giá xăng A95 III là 21.865đ/lít tăng 1.540đ/lít, giá dầu Diezen là 16.694đ/lít tăng 1.203đ/lít. Giá xăng, dầu trong tháng tăng do hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhiều nước trên thế giới đã phục hồi sau thời gian chịu ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, kinh tế tại nhiều nước bắt đầu phục hồi cùng các gói kích thích kinh tế làm tăng cung tiền đã tác động đến giá xăng dầu tăng trong thời gian qua.
+ Giá vé tàu hỏa tăng 0,55%; giá vé máy bay giảm 4,87%, với tình hình dịch bệnh Covid-19 trong nước tiếp tục diễn biến vô cùng phức tạp, mọi hoạt động di chuyển, của người dân hạn chế nên giá dịch vụ giao thông giảm so với tháng trước.
6.1.2. Nhóm hàng hóa chủ yếu có chỉ số giá giảm so với tháng trước
- Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,42% :
+ Giảm chủ yếu ở những mặt hàng thực phẩm, so với tháng trước giảm 1,99%, trong đó: Giá thịt gia súc tươi sống giảm 3,79%, nguyên nhân chủ yếu do nguồn cung tăng cao, riêng giá thịt lợn giảm 4,35% do hiện nay, dịch bệnh trên đàn lợn cơ bản đã được khống chế, giá bán sản phẩm ổn định, người chăn nuôi yên tâm tái đàn, giá thịt lợn bán lẻ trên thị trường bình quân dao động ở mức từ 112.000đ/kg – 148.000đ/kg (giảm từ 2.000đ/kg – 5.000đ/kg so với tháng trước). Giá thịt lợn giảm kéo theo giá thịt chế biến giảm. Giá thịt gia cầm tươi sống giảm 0,67%; không có dịch bệnh, tạo điều kiện đàn gia cầm phát triển. Giá rau tươi tăng 0,74%, tăng ở các mặt hàng trái vụ thu hoạch (nhưng được nhập khẩu ở các địa phương khác) như bắp cải, su hào, khoai tây ...
+ Lương thực giảm 0,06%: Chỉ số giá nhóm lương thực giảm chủ yếu ở mặt hàng gạo, bột mì và ngũ cốc khác trong đó mặt hàng gạo giảm 0,05%; ngô giảm 0,16%, khoai lang giảm 5,06 lượng sản phẩm dồi dào do đang trong thời gian thu hoạch vụ xuân là nguyên nhân chính dẫn đến giá lương thực giảm.
+ Ăn uống ngoài gia đình giảm nhẹ 0,01%: Do trong tháng, trên bàn tỉnh không tiếp nhận ca dương tính từ cộng đồng, các nhà hàng, hàng ăn uống mở cửa trở lại với nhiều mức giá ưu đãi khách hàng.
- Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình; nhóm văn hóa giải trí và du lịch lần lượt giảm 0,06% và 0,32% so với tháng trước.
6.1.3. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 7 năm 2021 so với cùng kỳ năm trước.
CPI chung toàn tỉnh tháng 7/2021 giảm 0,79%  so với cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của một số nhóm hàng sau: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 7,79%; nhóm may mặc, mũ nón giày dép giảm 0,02%; nhóm Bưu chính viễn thông giảm 1,04%.
6.2. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ.
- Chỉ số giá vàng so với tháng trước giảm 1,14%: Trong tháng giá vàng thế giới biến động mạnh hơn các tháng trước, thị trường vàng trong nước giao dịch điều chỉnh giá tăng, giảm theo giá thị trường.
- Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,21% so với tháng trước.
7. Một số tình hình xã hội
7.1. Giải quyết việc làm và Bảo hiểm xã hội[3]
Tư vấn về việc làm, học nghề, chính sách pháp luật lao động 1.042 lượt người, số người đăng ký tìm việc làm: 30 người; số người được giới thiệu việc làm: 11 người, số người nhận được việc làm là 09 người. Số người nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp 405 người, 296 người có quyết định hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp hàng tháng với tổng số tiền chi trợ cấp thất nghiệp theo Quyết định là 3.983 triệu đồng.  
Trợ cấp thường xuyên cho 3.900 người có công với kinh phí 7.389 triệu đồng ; Lũy kế chi trả trợ cấp cho 27.773 lượt người, kinh phí 52.582 triệu đồng. Tiếp nhận, giải quyết hồ sơ người có công với cách mạng và thân nhân; người hoạt động kháng chiến là 190 hồ sơ; Lũy kế tiếp nhận và giải quyết hồ sơ người có công với cách mạng và thân nhân 1.051 hồ sơ.
7.2. Hoạt động y tế và sức khỏe cộng đồng[4]
7.2.1. Công tác y tế dự phòng
Công tác phòng, chống dịch COVID-19: đến ngày 25/7,  lũy tích toàn tỉnh có: 118 F0 (trong đó: 110 trường hợp đã điều trị khỏi; 01 trường hợp tử vong. Hiện còn điều trị 7 F0); 3.110 F1; 25.758 F2, trong đó 3.049 F1, 22.671 F2 đã hoàn thành cách ly.
- Tình hình cách ly y tế: Hiện đang cách ly tại cơ sở y tế: 98 người/08 đơn vị; Cách ly tập trung ngoài cơ sở y tế: 1.220 người; Cách ly tại nhà: 87 người, có tại 04/11 huyện, thành phố.
- Tình hình xét nghiệm: tổng số mẫu xét nghiệm cộng đồng đã thực hiện trên toàn tỉnh là: Xét nghiệm RT-PCR: 146.963 người/219.714 mẫu; Test nhanh: 49.919 người /57.737 mẫu .
- Tình hình tiếp nhận F0 ngoại tỉnh đủ điều kiện xuất viện, F1, công dân về từ vùng phong tỏa và công dân về từ các tỉnh có dịch.
+ Cộng dồn đến ngày 25/7/2021, đã tiếp nhận 1.207 F0. Xét nghiệm phát hiện 134/1.207 trường hợp F0 xuất viện về địa phương tái dương tính (45 đã về theo dõi tại gia đình, 89 theo dõi tại các cơ sở y tế); tiếp nhận 3.754 trường hợp F1 và 8.239 công dân;
- Tiêm vắc xin phòng Covid-19: Trong tháng 7/2021, tổ chức tiêm vắc xin phòng Covid-19 đợt 2 năm 2021 tại 11 điểm tiêm trên địa bàn tỉnh (Bệnh viện Đa khoa tỉnh và 10 Trung tâm y tế huyện). Kết quả: Số được tiêm mũi 1: 29.200 người; Số được tiêm mũi 2: 9.430 người
Công tác phòng, chống dịch bệnh khác: tiếp tục được kiểm soát; không để dịch lớn xảy ra. Trong tháng có 05 bệnh có số mắc tăng[5] và 05 bệnh có số mắc giảm hoặc tương đương so với cùng kỳ[6]. Các ca bệnh có số mắc tăng so với cùng kỳ đều phân bố rải rác, không có yếu tố dịch tễ gây dịch hay ổ dịch
Duy trì tiêm chủng mở rộng cho trẻ em dưới 01 tuổi trên 11 huyện, thành phố. Đảm bảo thực hiện đúng các quy định, quy trình tiêm chủng; không có tai biến xảy ra trong tiêm chủng.
7.2.2. Công tác khám chữa bệnh
Các đơn vị khám, chữa bệnh tổ chức trực 04 cấp, đảm bảo trực 24/24 giờ; đảm bảo cơ số thuốc, dịch truyền, vật tư, hoá chất, hậu cần, bố trí đủ cơ số giường bệnh, phương tiện cấp cứu và cấp cứu ngoại viện để sẵn sàng đáp ứng kịp thời các tình huống có thể xảy ra. Tiếp tục thực hiện phân luồng, phân loại khám ngay từ khi người bệnh đến bệnh viện, nhằm phát hiện những ca nghi ngờ mắc Covid-19 để cách ly kịp thời. Đảm bảo các điều kiện để tiếp nhận và điều trị bệnh nhân Covid - 19. Triển khai kế hoạch thực hiện Đề án khám chữa bệnh từ xa 6 tháng cuối năm 2021.
Kết quả khám và chữa bệnh công lập cả 3 tuyến trong tháng 7: Khám được 93.668 lượt; điều trị nội trú bệnh viện và lưu trú tại trạm y tế xã cho 8.674 lượt; điều trị ngoại trú cho 11.004 lượt. Khám chữa bệnh ngoài công lập trong tháng, khám được 18.951 lượt, trong đó số khám bảo hiểm y tế  13.741  lượt; chuyển viện 521 lượt; khám sức khỏe 1.717 lượt
7.3. Hoạt động văn hoá, thể thao và du lịch[7]
Hoạt động thư viện: Tiếp nhận và xử lý nghiệp vụ sách từ các nguồn được 317 tên sách, 1.221 bản sách. Cơ sở dữ liệu sách nhập mới 485 biểu ghi, cơ sở dữ liệu báo nhập mới 50 biểu ghi, số hóa tài liệu được 400 trang; phục vụ bạn đọc tại chỗ 3.000 lượt, luân chuyển 9.000 lượt sách; luân chuyển kho lưu động tại 45 điểm phục vụ 2.250 lượt bạn đọc; luân chuyển 6.750 lượt sách, báo. Tổ chức trao giải Cuộc thi “Đại sứ Văn hóa đọc” tỉnh Lạng Sơn năm 2021.
Hoạt động chiếu bóng: tăng cường tổ chức công tác tuyên truyền về phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn toàn tỉnh, đặc biệt tại các xã vùng biên giới; tuyên truyền về chính sách của Đảng và Nhà nước; tuyên truyền về vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn giao thông, phòng, chống buôn bán, vận chuyển, tàng trữ và đốt pháo nổ…. Chiếu phim phục vụ tại cơ sở đạt 135 buổi chiếu, đạt 810 lượt tuyên truyền đến 25 lượt xã, 135 lượt thôn, phục vụ 11.475 lượt người. Do diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 Rạp chiếu phim Đông Kinh tiếp tục dừng chiếu phim.
Tiếp tục duy trì mở cửa nhà trưng bày, phòng triển lãm chuyên đề đón tiếp khách tham quan (do dịch Covid-19 nên lượng khách tham quan chỉ đạt 16 lượt người tham quan).
Lĩnh vực thể dục, thể thao: Tổ chức giải Bóng chuyền hơi chào mừng ngày Gia đình Việt Nam 28/6/2021. Tiếp tục duy trì công tác đào tạo, huấn luyện vận động viên năng khiếu, huấn luyện các đội tuyển tham gia các giải thể thao khu vực và toàn quốc; các đội tuyển tăng thời gian tập luyện trong thời gian dịch bệnh.
7.4. Giáo dục[8]
Hoàn thành công tác thi tốt nghiệp THPT (lần 1) năm 2021 và thi vào lớp 10 THPT an toàn, đúng quy chế (kỳ thi diễn ra an toàn trong điều kiện phòng, chống dịch Covid-19). Hoàn thiện Tài liệu Giáo dục địa phương lớp 2, lớp 6 trong Chương trình giáo dục phổ thông 2021. 03 trường được công nhận trường học đạt chuẩn quốc gia. Hoàn thiện danh mục mua sắm thiết bị dạy học tối thiểu lớp 2, lớp 6 năm 2021 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn; quy định mức thu các khoản thu dịch vụ phục vụ, hỗ trợ hoạt động giáo dục ngoài học phí của các cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Tiếp tục thực hiện và đánh giá công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, củng cố kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, tăng cường phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và xóa mù chữ cho người lớn.
7.5. Trật tự - An toàn giao thông[9]
Tháng 7 năm 2021, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã xảy ra 04 vụ tai nạn giao thông đường bộ nghiêm trọng. Làm 04 người chết, không có người bị thương. Cộng dồn 7 tháng đầu năm toàn tỉnh xảy ra 22 vụ tai nạn giao thông làm 20 người chết, 07 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước tăng 01 vụ (+4,76%), giảm 01 người chết (-4,76%), giảm 01 người bị thương (-11,5%). Nguyên nhân tai nạn chủ yếu là do phóng nhanh vượt ẩu của người điều khiển phương tiện đã không làm chủ được tốc độ.
7.6. Môi trường
Trong tháng 7/2021, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn xảy ra 01 vụ vi phạm môi trường của 01 doanh nghiệp về khai thác khoáng sản vượt công suất được cấp phép, xử phạt 200 triệu đồng. Xảy ra 02 vụ cháy rừng làm cháy 0,25 ha rừng trồng thông, sở, dẻ, sa mộc, trám và lát tại huyện Cao Lộc; cháy 0,317 ha rừng trồng hồi tại huyện Văn Quan; ước giá trị thiệt hại 02 vụ là 189 triệu đồng. Cộng dồn từ đầu năm đã xảy ra 20 vụ cháy, nổ không có thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại là 2.234 triệu đồng.
7.7. Thiệt hại do thiên tai
Trong tháng 7 năm 2021 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn không xảy ra thiệt hại do thiên tai.
 

[1] Nguồn: Sở Tài chính
[2] Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Lạng Sơn
[3] Nguồn: Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh.
[4] Nguồn: Sở Y tế.
[5] Bệnh do VirutAdeno 36 ca (tăng 22 ca); Lỵ trực trùng 05 ca (tăng 03 ca ); thủy đậu 38 ca (tăng 15 ca); Viêm gan virut khác 05 ca (tăng 05 ca); Bệnh Viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virut Corona 28 ca (tăng 28 ca; tháng 6/2020 không có ca bệnh). 
[6] Tay chân miệng 0 ca (giảm 06 ca); Cúm 473 ca (giảm 292 ca); Lỵ Amip 03 ca (giảm 07 ca); Quai bị 13 ca (giảm 34 ca); Tiêu chảy 180 ca (giảm 75 ca).
[7] Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh.
     [8] Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo
     [9] Nguồn: Ban An toàn giao thông tỉnh

Tác giả bài viết: Cục Thống kê tỉnh Lạng Sơn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây