Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Lạng Sơn tháng 11, 11 tháng đầu năm 2020

Thứ tư - 25/11/2020 22:21
Chỉ số giá bình quân 11 tháng năm báo cáo so với cùng kỳ năm trước tăng 6,75% do ảnh hưởng của một số nhóm hàng sau: (1) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 18,98%; (2) Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,14%; (3) Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 2,15%; (4) Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,67%; (5) Nhóm giáo dục tăng 5,55%; (6) Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,6%.
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
1.1. Nông nghiệp
1.1.1. Trồng trọt
Tình hình thu hoạch cây trồng vụ Mùa
a) Đối với cây lúa
Diện tích thu hoạch trong tháng ước đạt 21.328,42 ha, tăng 0,06% so với cùng kỳ. Năng suất thu hoạch lúa sơ bộ đạt 38,14 tạ/ha, tăng 0,98% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch trong tháng đạt 81.367,92 tấn, tăng 1,04% so với cùng kỳ. Trong quá trình sản xuất, cơ quan chuyên môn đã hướng dẫn người dân vệ sinh đồng ruộng, làm đất, phun phòng trừ các loại sâu bệnh kịp thời như: sâu cuốn lá nhỏ, bệnh đạo ôn lá, rầy…. nên không ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của lúa.
b) Đối với một số cây hàng năm khác
- Ngô: Diện tích thu hoạch trong tháng ước đạt 2.596,58 ha, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước. Năng suất thu hoạch đạt 46,37 tạ/ha, tăng 1,51% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thu hoạch trong tháng đạt 12.040,34 tấn, tăng 1,61% so với cùng kỳ năm trước. Do được đầu tư chăm sóc tốt, không có sâu bệnh hại nên năng suất thu hoạch cây ngô tăng và sản lượng thu hoạch tăng so với cùng kỳ năm trước.
- Khoai lang: Diện tích thu hoạch trong tháng ước đạt 829,45 ha, tăng 1,08% so với cùng kỳ năm trước. Năng suất thu hoạch đạt 61,5 tạ/ha, Năng suất sơ bộ đạt 61,5 tạ/ha, giảm 1,9% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thu hoạch trong tháng đạt 5.077,89 tấn, giảm 1,29% so với cùng kỳ năm trước.
- Đậu tương: Diện tích thu hoạch trong tháng ước đạt 102,5 ha, tăng 2,19% so với cùng kỳ năm trước. Năng suất thu hoạch đạt 15,48 tạ/ha, tăng 0,32% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thu hoạch trong tháng đạt 158,67 tấn, tăng 2,52% so với cùng kỳ năm trước.
- Lạc: Diện tích thu hoạch trong tháng ước đạt 546,87 ha, tăng 0,24% so với cùng kỳ năm trước. Năng suất thu hoạch đạt 18,5 tạ/ha tăng 0,11% so với cùng kỳ. Năng suất lạc tăng do hiện nay người dân sử dụng giống lạc đỏ siêu củ, tương đương với sản lượng thu hoạch trong tháng đạt 1.011,16 tấn, tăng 0,35% so với cùng kỳ năm trước. 
Tình hình gieo trồng vụ Đông năm 2020
Cùng với việc thu hoạch các loại cây trồng vụ Mùa, bà con nông dân tranh thủ tiến hành khâu làm đất và tranh thủ thời tiết thuận lợi gieo trồng các loại hoa màu trên diện tích đã thu hoạch xong.
- Trồng ngô: Trong tháng ước thực hiện được 44,25 ha, tăng 1,63% so với cùng kỳ năm trước. Phần diện tích đã thu hoạch người dân chủ động gieo trồng sớm để kịp thời vụ.
- Trồng khoai lang: Trong tháng ước thực hiện được 42,25 ha, tăng 0,88% so với cùng kỳ năm trước
- Rau các loại: Diện tích gieo trồng rau các loại trong tháng ước thực hiện được 703,25 tăng 0,07% so với cùng kỳ năm trước.
Tình hình sâu bệnh
Công tác quản lý nhà nước về giống cây trồng, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh được thực hiện đảm bảo; thường xuyên phối hợp với các địa phương dự tính, dự báo tình hình sâu bệnh hại trên cây trồng; các đối tượng dịch hại cây trồng có sự biến động nhẹ về mật độ, tỷ lệ và diện tích gây hại, cơ quan chuyên môn đã khuyến cáo cho người dân phòng trừ kịp thời, hiệu quả không để phát sinh thành dịch, ít ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng.
1.1.2. Chăn nuôi
2.1. Tình hình sản xuất
- Tổng đàn trâu, bò: Ước tính số đầu con trâu hiện có 80.110 con, giảm 4,12% số con xuất chuồng ước đạt 2.152 con, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng xuất chuồng ước đạt 551,79 tấn. Tổng đàn trâu giảm do sử dụng cơ giới hóa trong sản xuất và thiếu nhân lực chăn thả. Do số con hiện có giảm nên số con xuất chuồng và sản lượng xuất chuồng của trâu giảm theo.
Số đầu con bò ước 33.575 con, tăng 3,72% so với cùng kỳ năm trước; số con xuất chuồng ước 271 con tương đương với sản lượng thịt hơi xuất chuồng 52,03 tấn, tăng  2,26% so với cùng kỳ năm trước, các hộ chăn nuôi có xu hướng nuôi nhốt chuồng vỗ béo để bán giết thịt. Trên địa bàn tỉnh đã có doanh nghiệp đầu tư chăn nuôi bò cái sinh sản, đáp ứng nhu cầu về con giống tại địa phương.
- Tổng đàn lợn: Số đầu con lợn trong tháng ước 121.580 con, tăng 22,79% so với cùng kỳ năm trước, Tổng đàn lợn tăng so với cùng kỳ năm 2019 và tăng so với thời điểm 01/7/2020 do dịch tả lợn châu Phi trên địa bàn tỉnh cơ bản được khống chế các doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ chăn nuôi lợn nuôi tái đàn trở lại. Mặt khác, do ảnh hưởng dịch Covid-19 nên giá thịt lợn hơi cao, nhu cầu tiêu thụ lớn, tuy nhiên tốc độ tái đàn còn chậm do dịch bệnh vẫn còn xảy ra tại một số địa phương, gây tâm lý e ngại cho người chăn nuôi. Số lợn xuất chuồng trong tháng ước 26.639 con, tăng 0,55% so với cùng kỳ năm trước, tương đương sản lượng thịt hơi xuất chuồng 2077,84 tấn.
 - Tổng đàn gia cầm: Chăn nuôi gia cầm phát triển tốt do có thị trường tiêu thụ ổn định, đàn gia cầm có dấu hiệu tăng nhẹ do người dân tập trung chăn nuôi để phục vụ dịp Tết Nguyên đán năm 2021. Ước tính tổng đàn gia cầm hiện có 5.307,12 nghìn con, tăng 2,04% so với cùng kỳ năm trước. (Trong đó, tổng đàn gà là 4.826,41 nghìn con, tăng 9,63% so với cùng kỳ năm trước). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng của gia cầm ước đạt 1.565,24 tấn, tăng 4.67% so với cùng kỳ. Sản lượng xuất chuồng tăng cao là do nhu cầu tiêu dùng thịt gà tăng khi hạn chế sử dụng thịt lợn. Sản lượng trứng gia cầm ước đạt 6.152,54 nghìn quả, tăng 4,95% .Sản lượng trứng gà tăng do người chăn nuôi sử dụng giống gà siêu trứng mang lại hiệu quả kinh tế cao và do số gà mái đẻ tăng so với cùng kỳ năm trước.
2.2. Tình hình dịch bệnh
- Tình hình dịch bệnh viêm da nổi cục trâu bò: xảy ra trên 74 hộ/28 thôn/15 xã/07 huyện tổng số bò ốm là 171 con, số con chết buộc phải tiêu hủy là 07 con với tổng trọng lượng 714 kg.  
- Tình hình dịch lở mồm long móng: Xảy ra trên 18 hộ/ 04 thôn/03 xã/02 huyện tổng số bò ốm 70 con (gồm 20 con trâu, 50 con bò), số chết buộc phải tiêu hủy là: 01 con.  
- Tình hình bệnh dịch tả lợn châu Phi: Xảy ra trên 49 hộ/22 thôn/14 xã/06 huyện tổng số lợn chết, buộc phải tiêu hủy là: 239 con với tổng trọng lượng 11.829 kg (trong đó lợn nái, đực giống 32 con, với trọng lượng 4.294 kg; lợn con, lợn thịt là 207 con).
Ngoài ra tình hình dịch bệnh khác trên đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, không xảy ra các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.
Trong tháng tiêm phòng được 194,4 nghìn lượt con, lũy kế từ đầu năm đạt 1.338 nghìn lượt con, bằng 118% so với cùng kỳ, đạt 102% so với kế hoạch. Công tác kiểm dịch vận chuyển, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y được thực hiện đảm bảo quy định.
2.3. Giá cả vật nuôi và thức ăn chăn nuôi
Giá gà ta hơi ở mức 124,63 nghìn đồng/kg, giá gà công nghiệp phổ biến ở mức 69,39 nghìn đồng/kg; giá gà ta giống ở mức 20 nghìn đồng/con, giá gà công nghiệp giống là 18,57 nghìn đồng/con.
Giá lợn hơi ở mức 75,82 nghìn đồng/kg, giá lợn giống ở mức 113,17 nghìn đồng/kg.
Giá thịt trâu hơi ở mức 119,02 nghìn đồng/kg, giá thịt bò hơi ở mức 117,24 nghìn đồng/kg.
Giá thức ăn chăn nuôi: giá thức ăn cho gà thịt từ 245.000đ đến 258.000đ/bao/25kg tùy theo từng hãng thức ăn; cho lợn từ 220.000đ đến 310.000đ/bao/25kg tùy theo từng hãng sản xuất.
1.2. Lâm nghiệp
1.2.1. Công tác trồng rừng
Tổng diện tích trồng rừng toàn tỉnh trong tháng 11 ước đạt 592,1ha, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước, lũy kế từ đầu năm ước là 9.953,3 ha, tăng 0,38% so với cùng kỳ năm trước và đạt 110% kế hoạch. Trong đó:
+ Trồng rừng tập trung: Trong tháng trồng được 529,1ha, tăng 0,7% ,lũy kế từ đầu năm ước đạt 9.953,3ha, tăng 0,37% so với cùng kỳ năm trước.
+ Trồng cây phân tán: Lũy kế từ đầu năm ước đạt 2.356,17ha, tương đương 4.712 nghìn cây, tăng 1,17%  so với cùng kỳ năm trước.
- Chăm sóc rừng lũy kế từ đầu năm thực hiện được 11.800ha đạt 100% kế hoạch. Bảo vệ rừng trong tháng thực hiện được: 298,2 ha, lũy kế từ đầu năm 40.000ha, đạt 100% kế hoạch giao. Khoanh nuôi tái sinh lũy kế từ đầu năm ước thực hiện được 977,9ha, đạt 83,4% kế hoạch (Khoanh nuôi tái sinh tự nhiên: 70,7ha. Khoanh nuôi tái sinh có trồng bổ sung: 907,2 ha).
- Đối với các chỉ tiêu chăm sóc, bảo vệ không được giao vốn, các Ban quản lý dự án cơ sở đã tuyên truyền, vận động nhân dân tự thực hiện.
1.2.2. Công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng
Các cấp tăng cường bám địa bàn để chủ động tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương cơ sở thường xuyên duy trì chế độ trực, gác lửa rừng tại các xã trọng điểm, theo dõi cảnh báo, dự báo nguy cơ cháy rừng trên địa bàn tỉnh; đôn đốc cấp ủy, chính quyền địa phương và các chủ rừng thực hiện nghiêm túc phương án quản lý bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ. Trong tháng 11, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy rừng trên địa bàn huyện Cao Lộc, Lộc Bình thiệt hại 4,11ha rừng trồng thông.
Quản lý rừng đặc dụng: thường xuyên bám sát địa bàn rừng được giao quản lý, tăng cường công tác tuyên truyền, tuần tra, kiểm tra rừng bảo vệ rừng, ngăn chặn các hành vi xâm hại đến rừng, tuần tra, kiểm tra được 121 lần, với 541 lượt người tham gia.
1.2.3. Khai thác và thu nhặt lâm sản
- Khai thác gỗ các loại trong tháng ước 10.197,71 m3, tăng 1,76% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn từ đầu năm 130,293 m3, tăng 0,39% so với cùng kỳ. Nguyên nhân sản lượng gỗ khai thác tăng do rừng trồng đã đến tuổi khai thác, các cá nhân và đơn vị chủ động khai thác để tái sản xuất rừng trồng mới.
 - Củi các loại: Ước trong tháng khai thác được 124,2 nghìn ste, giảm 2,41% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn từ đầu năm 1.213,1 nghìn ste, giảm 2,9% so với cùng kỳ.
1.3. Thủy sản
Diện tích nuôi trồng thủy sản đến nay ước đạt 1.266,0 ha, tăng 1,02% so với cùng kỳ; sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 1.050,35 tấn, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước. Phong trào nuôi cá lồng trên địa bàn tỉnh vẫn tiếp tục có chiều hướng phát triển, có nhiều hợp tác xã nuôi trồng thủy sản phát triển, vùng nuôi tập trung như Hợp tác xã cá lồng Tân Minh (huyện Văn Quan), Hợp tác xã thủy sản Hồng Phong và Hợp tác xã Tam Hoa (huyện Bắc Sơn)... Dự ước hết tháng 11 năm 2020, tổng số lồng nuôi cá là 517 lồng, tăng 14,9% so với cùng kỳ. Thực hiện chương trình bảo vệ nguồn lợi thủy sản đã tiến hành thả cá bổ sung nguồn lợi thủy sản xuống lưu vực sông Kỳ Cùng với số lượng 108.759 con, gồm các loài cá trắm, chép lai, mè, trôi.
Sản lượng thủy sản thu hoạch trong tháng 137,24 cộng dồn từ đầu năm đén nay 1.533,41 tấn, tăng 0,28% so với cùng kỳ năm trước, tăng chủ yếu tập trung ở sản phẩm thủy sản nuôi trồng (chiếm 83,62%). Phong trào nuôi cá lồng trên địa bàn tỉnh vẫn tiếp tục có chiều hướng phát triển, có nhiều hợp tác xã nuôi trồng thủy sản phát triển, vùng nuôi tập trung như Hợp tác xã cá lồng Tân Minh (huyện Văn Quan), Hợp tác xã thủy sản Hồng Phong và Hợp tác xã Tam Hoa (huyện Bắc Sơn)...
2. Sản xuất công nghiệp
2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11/2020 so với tháng trước
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11 so với tháng 10 tăng 4,39%, trong đó ngành khai khoáng tăng 8,85%; ngành chế biến, chế tạo dự ước tăng 3,63%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,29%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,32%.
Trong ngành công nghiệp khai khoáng: khai thác than dự ước tăng 2,56%; khai thác đá dự ước tăng 16,18% nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường tăng do gia tăng hoạt động đầu tư xây dựng cuối năm.
Trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo, dự ước phần lớn các ngành công nghiệp cấp 2 đều tăng so với tháng trước, cụ thể: các ngành chính chiếm tỷ trọng cao như sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 3,07%, trong đó:Xi măng Portland tăng 3,04%; sản xuất hạt đá mài tăng 9,06%; ngành sản xuất máy móc thiết bị chưa phân vào đâu (máy bơm nước) tăng 12,61%; sản xuất kim loại tăng 11,46% (sản phẩm chì thỏi);… Bên cạnh đó, các ngành công nghiệp khác do sản phẩm sản xuất theo đơn đặt hàng đạt tốc độ tăng nhẹ so với tháng trước.
Một số ngành công nghiệp như: sản xuất sản phẩm da và các sản phẩm có liên quan; sản xuất hoá chất và các sản phẩm hoá chất; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước nguyên nhân do: nhu cầu, đơn đặt hàng giảm, lực lượng lao động không đảm bảo trình độ kỹ thuật ảnh hưởng đến năng suất lao động.
Ngành sản xuất và phân phối điện dự ước tăng 4,29% so với tháng trước trong đó: điện sản xuất tăng 4,91%, điện thương phẩm tăng 0,83% do nhu cầu sử dụng điện của nhân dân tăng và các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể trong những tháng cuối năm nhu cầu sử dụng điện để sản xuất nhiều hơn.
Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải ước tăng 1,32%, cụ thể: nước uống được tăng 1,11%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 1,62%; hoạt động thoát nước và xử lý nước thải dự ước tương đương so với tháng trước.
2.2. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11/2020 so với cùng kỳ
So với cùng kỳ năm trước, sản xuất công nghiệp tháng 11 năm 2020 tăng 5,26%. Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 3,69%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,61%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 8,38%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 1,59% so với cùng kỳ.
Trong ngành công nghiệp khai khoáng, hoạt động khai thác than tăng 6,08% so với cùng kỳ; khai khoáng khác tăng 1,4%.
Trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, một số sản phẩm sản xuất tăng so với tháng cùng kỳ như: sản xuất da và sản phẩm có liên quan tăng 28,62%; chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ tăng 9,52%; in, sao chép bản ghi các loại 23,14%; sản suất máy bơm tăng 24,38%; sản xuất xe đạp điện tăng 21,47%,… Bên cạnh đó còn nhiều ngành có chỉ số sản xuất  giảm, chủ yếu là các ngành sản xuất theo đơn đặt hàng: như sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học, sản phẩm dệt, sản xuất các sản phẩm từ giấy, sản xuất đồ uống trong đó giảm mạnh sản xuất rượu ở khu vực doanh nghiệp…
Ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, sự tăng giảm sản lượng phụ thuộc vào lệnh điều độ sản xuất của Tổng Công ty Điện lực. Sản lượng điện sản xuất tháng 11/2020 ước tăng 9,29%; sản lượng điện thương phẩm ước tăng 1,46% so với cùng kỳ.
Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 1,59%, trong đó hoạt động khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 1,68%, hoạt động thu gom rác thải tăng 1,07%, hoạt động vận hành hệ thống thoát nước tăng 8,17% so với cùng kỳ năm trước.
2.3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 11 tháng năm 2020 so với cùng kỳ
Chỉ số sản xuất của các ngành công nghiệp cộng dồn 11 tháng năm 2020 so với cùng kỳ năm trước tăng 3,87%, cụ thể như sau:
Ngành công nghiệp khai thác tăng 3,11%, trong đó: khai thác than tăng 3,58%, khai khoáng khác tăng 2,59%.
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,53% do tăng ở hầu hết các hoạt động sản xuất như: chế biến thực phẩm, đồ uống, chế biến gỗ, sản xuất kim loại tăng trên 300% (do Công ty Cổ phần Kim Loại Màu Bắc Bộ trong năm 2019 thiếu nguồn nguyên liệu sản xuất, thay đổi bộ máy quản lý nhân sự ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, sang năm 2020 công  ty  hoạt động ổn định, sản lượng sản xuất tăng cao)… Bên cạnh đó, do tác động dịch Covid-19 đã gây khó khăn trong hoạt động sản xuất, việc xuất, nhập nguyên vật liệu ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, dẫn đến một số doanh nghiệp thiếu nguyên vật liệu để sản xuất, lao động thiếu việc làmmột số ngành công nghiệp cấp 2 sản xuất giảm so với cùng kỳ như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 4%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy giảm 9,9%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm10,4%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 7,28%; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 9,61%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 9,79%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 6,89%.
Ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, chỉ số toàn ngành tăng 6,85%, trong đó: hoạt động sản xuất điện tăng 7,43% hoạt động truyền tải, phân phối điện thương phẩm tăng 2,71%.
Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 3,22%, trong đó: hoạt động khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 3,61%, hoạt động thu gom rác thải tăng 3,02%, hoạt động vận hành hệ thống thoát nước giảm 0,47% so với cùng kỳ năm trước.

2.4. Chỉ số sử dụng lao động
Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 11/2020 tăng 0,61% so với tháng trước và tăng 0,63% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, so với tháng cùng kỳ ngành khai khoáng chỉ số sử dụng lao động giảm 5,89%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,66%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 4,74%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,47%. Bình quân 11 tháng năm 2020, chỉ số sử dụng lao động giảm 0,94% so với cùng kỳ năm trước.
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được xác định là động lực để  thúc đẩy tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp của địa phương. Trong giai đoạn khó khăn về nguồn nguyên liệu đầu vào cũng như thị truờng đầu ra cho hoạt động sản xuất do tác động của dịch Covid-19, ngành công nghiệp vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng so với cùng kỳ; các doanh nghiệp đã áp dụng những giải pháp có hiệu quả như: tìm thị tường tiêu thụ sản phẩm đầu ra ngoài thị trường truyền thống, sản xuất và cung cấp mặt hàng, dịch vụ mới theo nhu cầu của thị trường. Từ đó tăng sản lượng tiêu thụ, giảm sản lượng tồn kho, cụ thể: Chỉ số tiêu thụ một số sản phẩm cộng dồn 11 tháng năm 2020 tăng so với cùng kỳ như: sản xuất đồ uống tăng 13,02%; chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ tăng 5,96%; đặc biệt sản phẩm khuôn đúc bằng kim loại màu tăng trên 300% của công ty Kim Loại Màu Bắc Bộ, do công ty ký kết đơn hàng xuất khẩu ra nuớc ngoài.
Dự báo hoạt động công nghiệp trong thời gian tới sẽ ổn định hơn, khi các đơn hàng tăng lên các doanh nghiệp sẽ đẩy mạnh sản xuất kinh doanh. Bên cạnh những giải pháp đã được thực hiện có hiệu quả, các doanh nghiệp có xu hướng áp dụng chính sách thay đổi giá sản phẩm, dịch vụ cũng như đẩy mạnh thương mại điện tử; tập trung đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề cho người lao động, ứng dụng khoa học kỹ thuật cao trong sản xuất. 
3. Đầu tư, xây dựng
3.1. Tình hình vốn đầu tư thực hiện tháng 11 năm 2020
Các sở, ban, ngành, UBND các huyện thành phố, các chủ đầu tư thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 13/3/2020; Công văn số 622/TTg-KTTH ngày 26/5/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công năm 2020 và Công văn số 7865/VPCP-KTTH ngày 18/9/2020 của Văn phòng Chính phủ về việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công nguồn vay nước ngoài.
 UBND tỉnh tổ chức họp giao ban định kỳ hằng tháng về công tác giải phóng mặt bằng các dự án, kiểm điểm tiến độ các dự án trọng điểm theo tháng, quý nhằm kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng và thủ tục đầu tư xây dựng, để tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình, dự án cụ thể:
Dự ước, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh tháng 11 năm 2020 ước thực hiện 395 tỷ đồng,  tăng 16,04 % so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 259 tỷ đồng, tăng 9,59% so với cùng kỳ năm trước; Vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 136 tỷ đồng, tăng 30,72% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng đạt 2.990 tỷ đồng bằng 87,64% so với kế hoạch, tăng 23,19% so với cùng kỳ năm trước. 
3.2. Tiến độ thực hiện một số dự án trên địa bàn tỉnh
Dự án Khu tái định cư dân cư thành phố Lạng Sơn, công trình có tổng mức đầu tư 450.717  triệu đồng. Lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 11 năm 2020 ước thực hiện được 347.711 triệu đồng, đạt 77,14 % so với kế hoạch.
Dự án Cầu thị trấn Lộc Bình: Công trình có tổng mức đầu tư 181.190 triệu đồng. Lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 11 năm 2020 ước thực hiện được 165.100 triệu đồng, đạt 91,11% so với kế hoạch.
 Dự án Trạm bơm Yên Bình - Hòa Bình - Quyết Thắng huyện Hữu Lũng: Công trình có tổng mức đầu tư 268.254 triệu đồng. Lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 11 năm 2020 ước thực hiện được 205.843 triệu đồng, đạt  76,73% so với kế hoạch
 Dự án chương trình mở rộng quy mô vệ sinh và nước sạch dựa trên kết quả đầu ra: Công trình có tổng mức đầu tư 164.633 triệu đồng. Lũy kế vốn thực hiện từ khi khởi công dự án đến tháng 11 năm 2020 ước thực hiện được 123.017 triệu đồng, đạt  74,72% so với kế hoạch
4. Tài chính, ngân hàng        
4.1. Tài chính[1]
Ban Chỉ đạo thu ngân sách tỉnh cũng như các huyện, thành phố đã nỗ lực triển khai những giải pháp để thu ngân sách trong thời điểm khó khăn nhất trong nay. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện 11 tháng đầu năm 2020 là 5.971 tỷ đồng, đạt 101,8% so với dự toán Trung ương giao, đạt 97,1% so với dự toán tỉnh giao, bằng 95,7% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó:
- Thu nội địa: 2.468 tỷ đồng, đạt 89,7% so với dự toán tỉnh giao, bằng 86,2% so với cùng kỳ năm 2019.
- Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu: 3.500 tỷ đồng, đạt 102,9% so với dự toán giao, bằng 104,7% so với cùng kỳ năm 2019.
- Các khoản huy động đóng góp: 2,6 tỷ đồng.
Các cơ quan tham mưu bám sát dự toán ngân sách nhà nước năm 2020 của tỉnh đã được HĐND tỉnh giao; chủ động đề xuất với UBND tỉnh những giải pháp xử lý các nhiệm vụ chi ngân sách hiệu quả, phù hợp trong trường hợp hụt thu. Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện 11 tháng đầu năm 2020: 8.847 tỷ đồng, đạt 75,4% so với dự toán tỉnh giao, bằng 103,8% so cùng kỳ năm 2019. Trong đó:
- Chi cân đối ngân sách địa phương: 7.391 tỷ đồng, đạt 81,1% so với dự toán tỉnh giao, bằng 100,2% so với cùng kỳ năm 2019.
- Chi chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu và các nhiệm vụ khác: 1.456 tỷ đồng đạt 55,8% dự toán tỉnh giao, bằng 127,1% so với cùng kỳ năm 2019.
4.2. Ngân hàng[2]
Thị trường tiền tệ trên địa bàn tiếp tục ổn định, không có những biến động bất thường; các chi nhánh ngân hàng triển khai nhiều giải pháp tích cực: Đẩy mạnh huy động nguồn vốn tại địa phương, khai thác tốt nguồn vốn ngoài tỉnh, nguồn vốn điều hoà hệ thống; tăng trưởng tín dụng gắn với nâng cao chất lượng tín dụng.
Ước thực hiện đến 31/11/2020: Tổng huy động vốn đạt 30.168 tỷ đồng, tăng 5,59% so với cùng kỳ và tăng 3,1% so với 31/12/2019; Dư nợ tín dụng của các ngân hàng trên địa bàn đạt 32.537 tỷ đồng, tăng 5,52% so với cùng kỳ và tăng 4,1% so với 31/12/2019.
5. Thương mại và dịch vụ
5.1. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 11 năm 2020 ước đạt 1.686,05 tỷ đồng, tăng 4,5% so với tháng trước, tăng 1,05% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 11 tháng năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 17.382,53 tỷ đồng, giảm 4,16% so với cùng kỳ năm trước

* Doanh thu chia theo ngành hoạt động:
- Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 11 năm 2020 ước đạt 1.501,3 tỷ đồng, tăng 4,86% so với tháng trước, tăng 1,49% so với cùng kỳ năm trước.
Trong tháng 11, hầu hết các ngành hàng đều có ước tính doanh thu tăng so với tháng trước, trong đó: ngành bán lẻ lương thực, thực phẩm tăng 4,09%; hàng may mặc tăng 6,28%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 7,69%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 6,25%; ô tô các loại tăng 5,65%; xăng dầu các loại tăng 1,22%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 5,21%; hàng hóa khác tăng 8,91%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và xe có động cơ tăng 1,7%.

Tính chung 11 tháng năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 15.522,84 tỷ đồng, giảm 3,68% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Lương thực, thực phẩm giảm 3,13%; hàng may mặc giảm 4,1%; vật phẩm, văn hóa giáo dục giảm 1,94%; gỗ và vật liệu xây dựng giảm 11,52%; ô tô các loại giảm 7,63%; phương tiện đi lại giảm 7,71%; xăng dầu các loại giảm 19,3%, hàng hóa khác giảm 1,58%.
- Đối với ngành dịch vụ: Hoạt động các ngành dịch vụ tháng 11/2020 tăng khá hơn so với tháng trước. Cụ thể:
Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 11 năm 2020: ước đạt 8,41 tỷ đồng, tăng 0,81% so với tháng trước và giảm 5,31% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 11 tháng/2020, doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 86,85 tỷ đồng, giảm 9,1% so với cùng kỳ.
Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 11 năm 2020: ước đạt 137,05 tỷ đồng, tăng 1,2% so với tháng trước và giảm 1,02% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 11 tháng/2020, doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 1.379,55 tỷ đồng, giảm 8,12% so với cùng kỳ.
Doanh thu du lịch lữ hành tháng 11 năm 2020: ước đạt 0,42 tỷ đồng, giảm 8,24% so với tháng trước và giảm 59,09% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 11 tháng/2020, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 8,54 tỷ đồng, giảm 25,99% so với cùng kỳ.
Doanh thu dịch vụ khác tháng 11 năm 2020: ước đạt 38,86 tỷ đồng, tăng 3,83% so với tháng trước, giảm 4,77% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 11 tháng/2020, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 384,76 tỷ đồng, giảm 6,49% so với cùng kỳ.
5.2. Vận tải
Năm 2020, ảnh hưởng từ dịch Covid-19, tháng 10 và tháng 11 các tỉnh miền Trung chịu ảnh hưởng nặng nề từ thiên tai, hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động kinh doanh vận tải nói riêng trên phạm vi toàn quốc bị ảnh hưởng nhiều, những nguyên nhân trên cũng có tác động tiêu cực dến sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Hoạt động kinh doanh vận tải trên địa bàn cũng bị ảnh hưởng, đặc biệt là vận tải hành khách. Mặc dù tháng 10, tháng 11số lượng khách du lịch trong ngày có cao hơn nhiều những tháng giữa năm, tuy vậy hoạt động vận tải hành khách chưa được cải thiện nhiều. Tháng 11/2020 so với tháng cùng kỳ: doanh thu hành khách chỉ bằng 55,22%; số lượng hành khách vận chuyển bằng 70,78% và số lượng hành khách luân chuyển bằng 65,42%, cụ thể:
Dự tính doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi tháng 11đạt 149,1 tỷ đồng giảm 2,07% so với cùng kỳ năm trước (trong đó doanh thu vận tải hành khách đạt 19,7 tỷ đồng, giảm 44,78%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 89,1 tỷ đồng tăng 5,68%; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 40,3 tỷ đồng  tăng 24,85%).
Dự ước 11 tháng, tổng doanh thu toàn ngành đạt 1.378,7 tỷ đồng, giảm 3,93%, trong đó:
- Hoạt động vận tải hành khách: doanh thu đạt 200,5 tỷ đồng (giảm 43,3% về doanh thu; về khối lượng hành khách vận chuyển giảm 42,4%  và khối lượng hành khách luân chuyển giảm 40,11%). Nguyên nhân doanh thu và sản lượng vận tải hành khách giảm nhiều so với cùng kỳ: trên địa bàn số lượng ô tô, phương tiện vận tải cá nhân tăng cao; do ảnh hưởng của dịch Covid-19, nên số lượng người di chuyển giữa các địa phương bằng phương tiện công cộng giảm. Trên địa bàn tỉnh duy nhất chỉ có 01 doanh nghiệp hoạt động vận tải có vốn FDI, hoạt động chủ yếu là kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng, trong năm chủ yếu do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên doanh nghiệp này dự ước doanh thu 11 tháng chỉ được 2,5 tỷ đồng (bằng 17,12% so với cùng kỳ năm trước).
- Hoạt động vận tải hàng hóa:doanh thu vận tải hàng hóa đạt 828,3 tỷ đồng (tăng 7,8% về doanh thu, về khối lượng hàng hóa vận chuyển giảm 30,29%, và khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng 12,69%). Mặc dù ảnh hưởng từ dịch bệnh, hàng hóa xuất, nhập khẩu sang Trung Quốc giảm nhiều, tuy nhiên trên địa bàn có một số doanh nghiệp vẫn duy trì được nguồn hàng vận chuyển đi các nước trong khi vực Đông Nam Á (Lào, Campuchia, Thái Lan), do vậy doanh thu vận chuyển hàng hóa tăng 7,8%, khối lượng luân chuyển tăng 12,69%.
Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 349,9 tỷ đồng, tăng 11,86% so với cùng kỳ năm trước.
Theo báo cáo của Ban an toàn Giao thông tỉnh Lạng Sơn: Số lượng xe ô tô đăng ký mới trong tháng (tính từ 15/10-14/11) là 329 xe, tổng số ô tô hiện đang quản lý 30.929 xe; số xe mô tô, xe gắn máy đăng ký mới trong tháng: 2323xe, số xe mô tô, xe gắn máy hiện đang quản lý: 479.782 xe.
6. Chỉ số giá
CPI chung toàn tỉnh tháng 11 năm 2020 giảm 0,59% so với tháng trước; tăng 1,34% so với cùng kỳ năm trước, chỉ số giá bình quân 11 tháng đầu năm 2020 tăng 6,75% so với bình quân cùng kỳ, cụ thể:
CPI chung toàn tỉnh so với tháng trước: Một số nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước, gồm:
* Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,25%,  trong đó:
+ Lương thực giảm 0,14%: Chỉ số giá nhóm lương thực giảm do chỉ số giá của mặt hàng gạo (giảm 0,23%) và mặt hàng lương thực chế biến (giảm 0,07%). Nguyên nhân giảm chủ yếu do trên địa bàn tỉnh đang bắt đầu thu hoạch vụ Mùa nên nguồn cung về lương thực dồi dào.
+ Thực phẩm giảm 2,09%: Chỉ số giá của các mặt hàng trong nhóm thực phẩm biến động so với tháng trước, cụ thể: Giá thịt gia súc tươi sống giảm 5,59%, giá thịt lợn hơi giảm dẫn đến giá thịt lợn giảm 3,4% so với tháng trước. Giá thịt lợn bán lẻ trên thị trường bình quân dao động ở mức từ 125.000đ/kg – 140.000đ/kg (giảm từ 10.000đ/kg – 15.000đ/kg so với tháng trước). Giá thịt lợn giảm kéo theo giá dầu mỡ và chất béo, thịt chế biến giảm. Giá thịt gia cầm tươi sống giảm 0,04%. Giá trứng các loại giảm 0,44%. Giá thủy sản tươi sống giảm 0,12% do nguồn cung dồi dào.
+ Ăn uống ngoài gia đình tăng 1,29%: Trong tháng có ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 và là những tháng cuối năm thường có nhiều sự kiện được tổ chức như: đám cưới, hội nghị, tổng kết... các hàng quán phục vụ dịch vụ ăn uống đều gia tăng hoạt động phục vụ nhu cầu ăn uống của người dân
* May mặc, mũ nón và giầy dép giảm 0,1%: Chỉ số giá nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép giảm nhẹ so với tháng trước chủ yếu giảm ở các mặt hàng như: dép, quần đùi, áo cộc tay sơ mi... do thời tiết vào mùa Đông nên các cửa hàng đều hạ giá những mặt hàng phục vụ mùa Hè.
* Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,21%: Chỉ số giá tiêu dùng nhóm hàng này biến động ở các mặt hàng sau: Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,44%; giá điện sinh hoạt giảm 3,2%, giá nước sinh hoạt giảm 0,06%; giá dầu hỏa tăng 0,9%, giá gas tăng 6,06%. 
* Nhóm giao thông giảm 0,52%: Tính đến 15giờ ngày 11/11/2020 giá xăng A95 là 15.078đ/lít, giá dầu Diezen là 11.183đ/lít, chỉ số giá chung nhóm nhiên liệu giảm 1,86% so với tháng trước.
* Nhóm Bưu chính viễn thông giảm 0,25%: Chỉ số giá nhóm này giảm chủ yếu ở mặt hàng thiết bị điện thoại do trên thị trường xuất hiện thêm nhiều dòng sản phẩm mới hiện đại, phong phú, đa dạng về mẫu mã, kiểu cách, chất lượng và giảm giá những dòng sản phẩm cũ.
Một số nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước, cụ thể:
 * Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,06%: Những mặt hàng trong nhóm này tăng chủ yếu ở các mặt hàng thiết bị đồ dùng gia đình như lò vi sóng, giường, tủ… Do nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng.
* Nhóm giáo dục tăng nhẹ 0,06%: Chỉ số giá nhóm hàng này tăng ở nhóm văn phòng phẩm như giấy, vở các loại ...
Chỉ số giá CPI chung toàn tỉnh tháng 11/2020 tăng 1,34% so với cùng  kỳ năm trước do ảnh hưởng của một số nhóm hàng sau: (1) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,49%; (2) Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,06%; (3) Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,04%; (4) Nhóm giáo dục tăng 0,27%; (5) Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,63%.
Chỉ số giá bình quân 11 tháng năm báo cáo so với cùng kỳ năm trước tăng 6,75% do ảnh hưởng của một số nhóm hàng sau: (1) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 18,98%; (2) Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,14%; (3) Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 2,15%; (4) Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,67%; (5) Nhóm giáo dục tăng 5,55%;  (6) Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,6%.
6.2. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
- Chỉ số giá vàng so với tháng trước tăng 0,19% và tăng 28,38% so với cùng kỳ: trong tháng giá vàng thế giới không biến động mạnh như các tháng trước, thị trường vàng trong nước giao dịch điều chỉnh giá tăng, giảm theo giá thị trường.
- Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,02% so với tháng trước, tăng 0,06% so với cùng kỳ.
7. Một số tình hình xã hội
7.1. Giải quyết việc làm và Bảo hiểm xã hội[3]
Trung tâm Dịch vụ việc làm: Tổng số người được tư vấn là 3.368 người[4]; lũy kế từ đầu năm là 14.789. Tổ chức 04 phiên GDVL vào thứ 5 hàng tuần tại Trung tâm với tổng số 71 người tham gia và 13 phiên GDVL lưu động với 2.308 người tham gia[5]. Tổng số Doanh nghiệp tham gia mới là 16 doanh nghiệp (trong đó, trực tiếp: 12 DN, gián tiếp: 04 DN) và 08 hộ gia đình. Số lao động đạt kết quả các phiên giao dịch việc làm là 05 người lao động đi làm việc tại các doanh nghiệp trong tỉnh, ngoài ra số hẹn phỏng vấn lại tại DN là 75 người.
Duy trì tiếp nhận hồ sơ hưởng TCTN và thực hiện các quy trình có liên quan đến giải quyết chính sách BHTN, kết quả: có 404 người nộp hồ sơ hưởng BHTN, lũy kế từ đầu năm 4.154 người. có 389 người có quyết định hưởng trợ cấp BHTN, lũy kế từ đầu năm 4.250 người với số kinh phí chi trả là 5.017.844.556 đồng, lũy kế từ đầu năm 54.757.139.739 đồng.
Tổ chức tư vấn, định hướng nghề cho 3.952 học sinh và phát tờ rơi cho 3.292 học sinh tại với 06 trường THPT[6]; tư vấn chính sách nghề, định hướng nghề cho 214 học sinh học khối THCS tại trường THCS và THPT Bình Độ; tư vấn, cung cấp thông tin lao động, việc làm, chính sách nghề cho 748 đoàn viên thanh niên học sinh[7]; phối hợp với Hội liên hiệp phụ nữ xã Mai Pha, TP.Lạng Sơn tư vấn nghề cho 33 người. Khai giảng và quản lý lớp nghề Kỹ thuật chế biến món ăn K3 tại thôn Phai Duốc, xã Mai Pha, TP.Lạng Sơn.
Phối hợp tổ chức tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật lao động, tư vấn giới thiệu việc làm, định hướng nghề và cơ chế hợp tác đưa lao động đi làm việc tại thành phố Sùng Tả, Quảng Tây (Trung Quốc) cho người dân trên địa bàn các xã của huyện Văn Quan, Bình Gia, Bắc Sơn, Đình Lập, Văn Lãng, Tràng Định
Thực hiện chi trả trợ cấp thường xuyên cho 4.069 người có công với kinh phí 7.719 triệu đồng. Lũy kế từ tháng 01 là 45.133 người có công và thân nhân với kinh phí 85.268 triệu đồng.
Lũy kế tiếp nhận và giải quyết hồ sơ người có công với cách mạng và thân nhân: 1.541 hồ sơ. Trong tháng 11 tiếp nhận, giải quyết hồ sơ người có công với cách mạng và thân nhân; người hoạt động kháng chiến 185 hồ sơ[8].
7.2. Hoạt động y tế và sức khỏe cộng đồng[9]
7.2.1. Công tác phòng, chống dịch bệnh
* Công tác phòng, chống dịch COVID-19 ( đến ngày 15/11/2020 )
Tiếp tục chỉ đạo, giám sát thực hiện các biện pháp phòng dịch COVID-19 trong ngành y tế như: Rà soát củng cố bệnh viện an toàn phòng chống dịch bệnh COVID-19, giám sát thường xuyên ổ dịch tại huyện Đình Lập, thực hiện tốt công tác hậu cần trong phòng cống dịch COVID-19...
Tiếp tục các hoạt động tuyên truyền bằng nhiều hình thức như: dán porter, tranh ảnh các khuyến cáo, hướng dẫn phòng, chống dịch bệnh tại các nơi công cộng, đông người qua lại; tăng thời lượng phát sóng, tin bài trên phương tiện thông tin đại chúng, qua mạng xã hội...; thường xuyên cập nhật, cung cấp thông tin trên Cổng thông tin điện tử của Tỉnh, Website của Sở Y tế về tình hình dịch bệnh và các biện pháp phòng, chống dịch bệnh để người dân nâng cao nhận thức và chủ động áp dụng các biện pháp bảo vệ bản thân, gia đình và cộng đồng.
Tình hình triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19:
- Số người dương tính với Covid-19: 04 người (đã điều trị khỏi)
- Tình hình cách ly (đến ngày 15/11/2020): Cách ly tại cơ sở y tế (cộng dồn 719 người): 07 người đang cách ly; 712 người đã hoàn thành cách ly. Cách ly tại khu Quân sự (cộng dồn 10.364 người): 426 người đang cách ly; 9.901 người đã hoàn thành cách ly, 23 người Trung Quốc được trao trả về nước, 14 chuyển cách ly tại khách sạn. Cách ly tại khách sạn (cộng dồn 6.641 người): 466 chuyên gia Trung Quốc đang cách ly; 6.171 người đã hoàn thành cách ly, 04 người Trung Quốc được trao trả về nước. Tổng số người hoàn thành cách ly y tế và cách ly tập trung: 16.784.
- Tình hình xét nghiệm: Số mẫu xét nghiệm Covid-19 38.787 mẫu (trong đó: kết quả âm tính 38.633; chờ kết quả 116; số dương tính 04/làm XN 2 lần).
* Kết quả trong tháng 11/2020: Dịch bệnh COVID-19 tiếp tục được kiểm soát tốt, không có ca dương tính mới.
* Công tác phòng dịch khác
Thực hiện tốt công tác phòng, chống các loại dịch bệnh trên địa bàn tỉnh. Trong tháng không có dịch bệnh lớn xảy ra, một số bệnh có số ca mắc giảm so với cùng kỳ; tuy nhiên, vẫn còn một số bệnh có số ca mắc tăng so với cùng kỳ năm 2019[10]. Cộng dồn 11 tháng: bệnh truyền nhiễm trên địa bàn tỉnh được kiểm soát tốt, không có dịch lớn xảy ra. So với cùng kỳ năm 2019, một số bệnh có số ca mắc tăng, đa số các bệnh có số ca mắc giảm[11]. Phối hợp các ngành, địa phương nắm bắt thông tin về tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm có nguy cơ lây sang người để có các phương án, biện pháp phòng ngừa hiệu quả.
7.2.2. Thực hiện các dự án, chương trình mục tiêu Y tế - Dân số
Các chương trình mục tiêu quốc gia và các Dự án được duy trì và triển khai thực hiện có hiệu quả, cụ thể: Dự án Phòng, chống một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và các bệnh không lây nhiễm phổ biến[12]; Dự án Tiêm chủng mở rộng[13]; Dự án phòng chống HIV/AIDS[14]; Dự án Dân số - Kế hoạch hóa gia đình[15]; Dự án vệ sinh, an toàn thực phẩm[16];...
7.3. Hoạt động văn hoá, thể thao và du lịch[17]
7.3.1. Hoạt động văn hóa
Bảo vệ và phát huy di sản văn hóa: Tổng  hợp  văn  bản  góp  ý  của  các  sở,  ngành  liên  quan,  UBND  các  huyện, thành phố  và tham mưu văn bản đề nghị UBMTTQ tỉnh tổ chức phản biện xã hội về dự thảo đối với Đề án bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị hệ thống di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn ; Tiếp thu ý kiến phản biện xã hội, chỉnh sửa  và tham mưu trình UBND tỉnh dự thảo Đề án  bảo  tồn, phát huy giá  trị  di sản Múa sư tử  trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn;  Tham mưu xem xét dự thảo  hồ  sơ khoa  học  di  tích  Địa  điểm  Thủy  Môn  Đình;  Tổ  chức  khai  giảng  lớp truyền dạy  múa sư tử  tại huyện Văn Quan và chuẩn bị  các điều kiện lớp truyền dạy;  Tham mưu ban hành Quyết định thành lập Ban tổ  chức lớp truyền dạy hát Pả Dung  dân  tộc  Dao  tại  xã  Công  Sơn,  huyện  Cao  Lộc  và  tổ  chức  khai  giảng  lớp truyền dạy; Tham mưu văn bản trả  lời việc bài trí tại chùa Bản Chu, xã Khuất Xá, huyện  Lộc  Bình;  ra  mắt  Câu  lạc  bộ  Hát  then  Đàn  tính  bản  Chăng  xã  Vũ  Lăng, huyện Bắc Sơn..
Hoạt động bảo tàng: Thực hiện triển lãm lưu động chuyên đề  kỷ  niệm 70 năm chiến thắng Biên giới Thu  –  Đông (17/10/1950 –  17/10/2020) tại một số đồn biên  phòng trong tỉnh. Mở cửa nhà trưng bày, phòng triển lãm chuyên đề phục vụ khách tham quan được: 2.837 lượt; hoàn thành công tác kiểm kê trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số Việt Nam trên địa bàn 02 huyện Lộc Bình  và  Hữu Lũng; hoàn thành biên dịch Hán Nôm cổ 9 hiện vật, 42 trang tư liệu, sưu tầm, bổ  sung 02 quyển tư liệu có giá trị  lịch sử  về  Lạng Sơn thế  kỷ  19 và dòng họ Nguyễn Đình ở Hoàng Đồng thành phố Lạng Sơn.
Hoạt động chiếu phim: Các đội chiếu bóng lưu động thực hiện các buổi chiếu theo kế  hoạch,  kết quả, các đội chiếu bóng lưu động thực hiện được 124 buổi chiếu, 2560 lượt tuyên truyền, phục vụ  trên  11.500  lượt người nghe và xem tuyên truyền, đến được  24 lượt xã, 124 lượt thôn. Phối hợp với Cục Điện ảnh Tổ chức lớp tập huấn phổ biến phim năm 2020 các tỉnh phía Bắc. 
Hoạt động thư viện: Tiếp nhận và xử lý nghiệp vụ sách, xây dựng cơ sở dữ liệu sách. Đưa xe ô tô thư viện lưu động đa phương tiện đi phục vụ  tại  06 điểm trường  Trường TH xã Khánh Xuân, Trường THCS thị trấn Lộc Bình huyện Lộc Bình; Trường TH xã Tân Thành,  Trường TH 2 xã Vũ Lăng huyện Bắc Sơn; Trường TH xã Trùng Quán và Trường TH & THCS xã Thụy Hùng huyện Văn Lãng.
7.3.2. Hoạt động thể dục, thể thao
Tổ chức thành công giải Bóng bàn, Cầu lông thiếu niên nhi đồng tỉnh năm 2020; phối hợp, hỗ trợ tổ chức Lễ  Khai mạc và 04 môn thi đấu Hội khỏe  Phù Đổng tỉnh Lạng Sơn lần thứ X năm 2020; giải Cầu lông thanh niên và cán bộ đoàn tỉnh Lạng Sơn lần thứ VIII năm 2020; phối hợp hỗ trợ cơ sở vật chất, trọng tài giải Bóng chuyền hơi cán bộ, viên chức, người lao động ngành giáo dục năm 2020.
Tham gia thi đấu 05 giải toàn quốc: Giải vô địch Boxing trẻ toàn quốc đạt 01 HCB và 04 HCĐ; giải vô địch Kickboxing toàn quốc đạt 01 HCĐ; giải vô địch Wushu trẻ quốc gia đạt 03 HCV, 03 HCB và 02 HCĐ; giải vô địch các CLB mạnh Karate quốc gia đạt 01 HCB và 04 HCĐ; giải vô địch Cử  tạ thanh thiếu niên quốc gia đạt 01 HCB và 02 HCĐ.
7.3.3. Hoạt động du lịch
Tổ chức công bố điểm du lịch cộng đồng xã Yên Thịnh, sản phẩm du lịch leo núi mạo hiểm xã Yên Thịnh, huyện Hữu Lũng; tổ chức Hội thảo xây dựng đề án phát triển du lịch đến năm 2030. Tổng lượng khách du lịch trong tháng 11/2020 đạt 220.000 lượt khách (giảm 2,3% so với cùng kỳ năm 2019), trong đó khách quốc tế đạt 800 lượt, khách nội địa đạt 219.200 lượt, doanh thu đạt 80 tỷ đồng (tăng 6% so với cùng kỳ).
7.4. Trật tự - An toàn giao thông[18]
Tháng 11 năm 2020 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã xảy ra 07 vụ tai nạn giao thông, trong đó: đường bộ 05 vụ, đường sắt 02 vụ. Làm 06 người chết, 01 người bị thương. Tính chung trong 11 tháng/2020, toàn tỉnh xảy ra 42 vụ tai nạn giao thông, làm 42 người chết, 15 người bị thương; giảm 06 vụ (-12,5%), giảm 09 người chết (-17,6%), giảm 07 người bị thương (-31,8%) so với 11 tháng năm 2019.
Nguyên nhân tai nạn chủ yếu là do phóng nhanh vượt ẩu của người điều khiển phương tiện đã không làm chủ được tốc độ.
7.5. Môi trường
Trong tháng 11/2020, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn không xảy ra trường hợp vi phạm môi trường, không xảy ra cháy, nổ. Lũy kế từ đầu năm số vụ vi phạm môi trường là 08 vụ, đã xử lý vi phạm 08 vụ, số tiền xử phạt là 233 triệu đồng;  xảy ra 05 vụ cháy, nổ làm cho 01 người bị thương, ước tính thiệt hại 1,24 tỷ đồng.
7.6. Thiệt hại do thiên tai
Trong tháng 11 năm 2020 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn xảy ra 01 vụ thiệt hại do ảnh hưởng của mưa bão. Ước tính thiệt hại như sau:
- Nhà bị thiệt hại: 01 nhà
- Diện tích lúa bị thiệt hại: 145 (ha)
- Diện tích hoa màu bị thiệt hại: 6,2 (ha)
Ước tổng thiệt hại trên địa bàn tỉnh trên 512 triệu đồng.
 
 

[1] Nguồn: Sở tài chính
[2] Nguồn: Ngân hàng Nhà nước tỉnh
[3] Nguồn: Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh.
[4] Trong đó phòng TVGTVL là 2.964 người , BHTN là 404 người.
[5] Tại tại các huyện Đình Lập, Bắc Sơn, Chi Lăng, Văn Quan và trường Cao đẳng Nghề Lạng Sơn.
[6] THPT Đình Lập, Bình Độ, Văn Lãng, Vũ Lễ, Bắc Sơn, Tràng Định.
[7] Tại Trung tâm GDNN-GDTX huyện Tràng Định, huyện Văn Lãng vàTrường Cao đẳng nghề Lạng Sơn.
[8] Trợ cấp mai táng phí cho 104 thân nhân của NCC với cách mạng và người hoạt động kháng chiến theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ từ trần, cụ thể: thân nhân liệt sĩ: 7 người; thân nhân thương, bệnh binh: 07 người; thân nhân người HĐKC GPDT: 36 người; người HĐKC bị nhiễm CĐHH: 03 ngươi; người HĐKC bị địch bắt tù, đày: 01 người; hưởng theo QĐ 49: 54 người; CCB theo NĐ 150: 14 người; QĐ 62: 25 người; Trình UBND tỉnh QĐ giải quyết mai táng phí theo QĐ 290: 03 người. Tiếp nhận hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ người HĐKC bị nhiễm CĐHH: 03 người. Đề nghị cấp lại bằng TQGC: 02 người. Trợ cấp 1 lần theo QĐ 62: 02 người. Trợ cấp vợ liệt sĩ tái giá: 01 người. Trợ cấp 1 lần theo QĐ 24: 02 người. QĐ thay đổi người thờ cúng liệt sĩ: 25 người.
[9] Nguồn: Sở Y tế.
[10] Các ca bệnh có số ca mắc cao so với cùng kỳ năm 2019: Adeno Virut 16 ca (tăng 07 ca); Cúm 1.062 ca (tăng 178 ca); Lỵ Amip 05 ca (tăng 02 ca); Lỵ trực trùng 07 ca (tăng 03 ca); Quai bị 11 ca (tăng 01 ca); Các ca bệnh có số mắc giảm hoặc tương đương so với cùng kỳ năm 2019: Sốt xuất huyết 03 ca (giảm 07 ca); Sởi 0 ca (giảm 04 ca); Tay chân miệng 11 ca (giảm 22 ca); Lao phổi 30 ca (giảm 03 ca); Viêm gan virut B 0 ca (giảm 04 ca); Viêm gan virut C 0 ca (giảm 02 ca); Viêm não virut khác 0 ca (giảm 01 ca); Thủy đậu 31 ca (giảm 04 ca); Tiêu chảy 257 ca (giảm 65 ca); Viêm gan Virut khác 01 ca (giảm 06 ca).
[11] Các ca bệnh có số mắc tăng so với cùng kỳ năm 2019: Lỵ amip 41 ca (tăng 09 ca);  Bệnh viêm đường hô hấp do chủng mới của Virut Corona gây ra: 04 ca (tăng 04 ca). Ho gà 01 ca (tăng 01 ca); Các ca bệnh có số mắc giảm hoặc tương đương so với cùng kỳ năm 2019: Sốt xuất huyết 05 ca (giảm 17 ca); Sởi 02 ca (giảm 64 ca); Tay chân miệng 46 ca (giảm 101 ca); Dại mắc 0 ca (mắc giảm 01, tử vong giảm 01 ca); Viêm gan virut A mắc 01 (tương đương cùng kỳ 2019); Viêm gan virut B mắc 03, tử vong 01 (mắc giảm 27 ca, tử vong tăng 01 ca), Viêm gan Virut C mắc 0 (giảm 08 ca);  Viêm não Nhật Bản mắc 0 ca (mắc giảm 03, tử vong giảm 01); Viêm não virut khác 0 ca (giảm 04 ca); Adeno Virut 162 ca (giảm 54 ca); Cúm 7.396 ca (giảm 884 ca); Lỵ trực trùng 29 ca (giảm 22 ca); Quai bị 145 ca (giảm 24 ca); Thủy đậu 241 ca ( giảm 168 ca); Tiêu chảy 2.299 (giảm 35 ca); Viêm gan Virut khác 19 ca (giảm 03 ca).
[12] Thực hiện trong tháng 11/2020: Phòng, chống Lao: xét nghiệm đờm 780, cộng dồn 11 tháng đạt 6360, đạt 106% kế hoạch năm; Phòng, chống Phong: Số lượt khám 5.030, cộng dồn 11 tháng đạt 40.595, đạt 101,5% kế hoạch năm; Phòng, chống Sốt rét: Số Lam giám sát 1.010, cộng dồn 11 tháng đạt 10.172, đạt 101,72% kế hoạch năm.
[13] Số trẻ dưới 1 tuổi được tiêm đầy đủ các loại vắc xin trong tháng là 1.207/1.189 trẻ (đạt 101,5%); Số trẻ em được tiêm vắc xin phòng bệnh viêm gan B < 24 giờ trong tháng là 1.218/1.415  trẻ (đạt 86,1%). Số phụ nữ có thai tiêm đủ AT2+ trong tháng là 1.835/1.218 người đạt 129,7%. Duy trì kết quả loại trừ uốn ván sơ sinh theo qui mô huyện ≤ 1 trường hợp/số trẻ đẻ sống. Đạt chỉ tiêu kế hoạch giao. Cộng dồn 11 tháng: Tỷ lệ tiêm đầy đủ các loại vắc xin của trẻ dưới 1 tuổi  toàn tỉnh là 11.138/11.833 trẻ, đạt 94,1% ( chỉ tiêu giao 95%); Tỷ lệ trẻ em được tiêm vắc xin phòng bệnh viêm gan B < 24 giờ là 9.137/10.771 (đạt 84,8%,) (chỉ tiêu giao ≥ 80%). Số phụ nữ có thai tiêm đủ AT2+8.626/10.771 (đạt 80,1%), (chỉ tiêu giao 85%).
[14] Tổng số bệnh nhân được quản lý, chăm sóc tại cộng đồng là 861/928 người,  đạt 92,8%, trong đó số bệnh nhân hiện đang quản lý và dùng thuốc ARV: 739 bệnh nhân; điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con; Duy trì 10 cơ sở điều trị và 9 điểm cấp phát thuốc thực hiện điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế với tổng số 1.621 bệnh nhân.
[15] Về biến động dân số trong tháng: Có 1.100 trẻ mới sinh, trong đó trẻ nam là 558, trẻ nữ là 542. Trẻ mới sinh là con thứ 3 trở lên là 144 chiếm 13,1%.  Cộng dồn 11 tháng: Có 9.659 trẻ mới sinh, trong đó trẻ nam là 5.175 trẻ nữ là 4.484 (tỷ số giới tính khi sinh 115,4/100). Trẻ mới sinh là con thứ 3 trở lên là 1.178 trẻ chiếm 12,2%.
[16] Trong tháng, không có vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra trên địa bàn tỉnh. Cộng dồn đến tháng 11/2020: Thanh tra, kiểm tra liên ngành trên địa bàn toàn tỉnh được 6.240; số  cơ sở vi phạm: 817/6.240 cơ sở (chiếm 13,09%)[16]; cấp giấy Chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP: 54 cơ sở; tiếp nhận hồ sơ tự công bố sản phẩm: 241 sản phẩm; giám sát mối nguy ô nhiễm thực phẩm: 1.150 mẫu để test nhanh 2.225 chỉ tiêu. Số mẫu không đạt yêu cầu: 22 mẫu. Tổng số mẫu giám sát chuyên đề: 40 mẫu ( 40/40 mẫu đều đạt yêu cầu). Tổng số cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực ngành Y tế quản lý được kiểm tra: 3.007/3.174 cơ sở, đạt 94,7% tổng số và 99,7% kế hoạch giao.
[17] Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh.
    [18] Nguồn: Ban An toàn giao thông tỉnh
 

Tác giả bài viết: Cục Thống kê tỉnh Lạng Sơn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây