Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Lạng Sơn tháng 9, quý III và 9 tháng năm 2020

Thứ hai - 28/09/2020 00:00
Chỉ số sản xuất chung ngành công nghiệp 9 tháng tăng 3,65% so với cùng kỳ, trong đó: Ngành công nghiệp khai thác tăng 3,19%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,34%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 7,47%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 3,59%.
Đại dịch Covid-19 bùng phát và lan rộng khắp toàn cầu đã khiến bức tranh kinh tế thế giới năm 2020 hết sức u ám. Tại thời điểm cuối tháng 6/2020, các tổ chức quốc tế và thể chế tài chính đều đồng loạt nhận định tăng trưởng kinh tế toàn cầu suy thoái sâu trong năm 2020. Tuy nhiên, đến thời điểm giữa tháng 9, khi các nền kinh tế tái khởi động sau phong tỏa do dịch COVID-19, dự báo về tăng trưởng kinh tế thế giới có những dấu hiệu khả quan hơn.
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn tháng 9, quý III và 9 tháng năm 2020 diễn ra trong bối cảnh tiếp tục chịu ảnh hưởng từ dịch bệnh Covid- 19. Công tác phòng, chống dịch Covid-19 được đặt lên hàng đầu và đã đem lại hiệu quả. Sau khi ghi nhận 4 ca dương tính với Covid-19 vào đầu tháng 8, toàn tỉnh đã thực hiện các biện pháp phong tỏa, cách ly khu dân cư nơi có người nhiễm Covid-19, đến nay trên địa bàn tỉnh chưa ghi nhận thêm ca mắc mới. Dịch bệnh đã tác động lên nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội của tỉnh. Song dưới sự chỉ đạo kịp thời, sát sao của cấp ủy, chính quyền các cấp, các ngành chức năng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, đến nay cơ bản các khó khăn đã được tháo gỡ dần. Kết quả đạt được trên một số lĩnh vực như sau:
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Kết quả sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng năm 2020 trên địa bàn tỉnh đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Thực hiện chỉ thị của Ủy ban nhân dân tỉnh về đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, các cấp các ngành chức năng đã chủ động, tích cực trong chỉ đạo, tổ chức sản xuất trên địa bàn ngay từ những ngày đầu năm. Thực hiện tốt công tác thủy lợi và giao thông nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Cung ứng đầy đủ, kịp thời, bảo đảm chất lượng các loại giống, vật tư nông nghiệp phục vụ sản xuất. Tuy nhiên, do ảnh thời tiết diễn biến phức tạp đầu năm có giông lốc, mưa đá, tháng 6, tháng 7 nắng nóng kéo dài mực nước trên các sông, suối, hồ chứa thủy lợi thấp hơn so với cùng kỳ đã gây ra tình trạng hạn hán, thiếu nước sản xuất tại nhiều địa phương trong tỉnh nên đã phần nào ảnh hưởng đến khâu làm đất gieo cấy; ảnh hưởng dịch tả lợn châu Phi tái phát lẻ tẻ trở lại làm cho tổng đàn lợn giảm, giá con giống tăng cao, người chăn nuôi chưa yên tâm tái đàn. Một số sản phẩm được mùa nhưng không có thị trường tiêu thụ, hoặc tiêu thụ được với giá bán thấp như: Ớt cay, nhựa thông.
1.1. Tình hình sản xuất Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản tháng 9 năm 2020
1.1.1. Nông nghiệp
Tình hình sản xuất các loại cây trồng hằng năm
Trong tháng, người dân thu hoạch một số cây hoa màu cho thu hoạch sớm như rau các loại, đậu các loại. Đối với diện tích chưa được thu hoạch đang trong giai đoạn sinh trưởng, phát triển người dân tiếp tục tập trung chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh. Đến trung tuần tháng 9, toàn tỉnh đã gieo cấy xong toàn bộ diện tích cây trồng vụ Mùa năm 2020. Tiến độ gieo trồng một số cây hoa màu vụ Mùa trong tháng như sau:
Cây lúa, hiện nay điều kiện thời tiết cơ bản thuận lợi cây lúa đang trong giai đoạn đẻ nhánh, sinh trưởng phát triển tốt, mặc dù có phát sinh một số loại sâu bệnh như: rầy các loại, châu chấu, sâu đục thân... gây hại với mật độ, tỷ lệ thấp đã được bà con chủ động phòng trừ kịp thời. Cây ngô thực hiện được 1.702,80 ha, tăng 2,05% so với cùng kỳ, do ngô là nguồn thức ăn chính trong chăn nuôi lợn, người dân đang tái đàn lại sau dịch tả lợn châu Phi. Cây đậu tương thực hiện được 9,1 ha so với cùng kỳ. Cây lạc thực hiện được 274,12 ha, tăng 28,08% so với cùng kỳ, do lạc mang lại hiệu quả kinh tế, giá bán lạc khô đã tách vỏ dao động từ 50.000- 55.000 đồng/kg nên người dân đã mở rộng thêm diện tích gieo trồng. Cây rau các loại thực hiện được 12,11 ha…
1.1.2. Chăn nuôi
- Tổng đàn trâu: Ước tính số lượng đầu con trâu hiện có 83.025 con, giảm 4,07%; số con xuất chuồng ước đạt 1.065 con, tăng 5,97% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng xuất chuồng ước đạt 255,6 tấn, tăng 3,18% so với cùng kỳ. Tổng đàn trâu giảm do môi trường chăn thả bị thu hẹp; cơ giới hóa trong sản xuất, đa số diện tích đất trồng lúa hiện nay đều sử dụng máy móc thay cho sức cày kéo của trâu.
- Tổng đàn bò: Ước tính số lượng đầu con bò hiện có 34.250 con, tăng 2,59% so với cùng kỳ năm trước. Đàn bò trên địa bàn tỉnh tăng do mang lại giá trị kinh tế, giá bán thịt bò hơi ở mức cao, người chăn nuôi có lãi ổn định, đồng thời được sự hỗ trợ về nguồn vốn, hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi của các ngành, các cấp chính quyền địa phương, người dân chuyển hướng chăn nuôi bò nhốt chuồng vỗ béo để lấy thịt. Nhiều mô hình phát triển chăn nuôi bò thịt, kết hợp xử lý chất thải làm phân bón hữu cơ rất có hiệu quả. Trong tháng 9, số con xuất chuồng ước 220 con, giảm 12% so với cùng kỳ; sản lượng thịt hơi xuất chuồng 48,4 tấn, giảm 7,81% so với cùng kỳ năm trước.
- Tổng đàn lợn: Ước tính số lượng đầu con lợn hiện có 109.526,0 con, tăng 12,18 % so với cùng kỳ năm trước, số lượng đầu con tăng do dịch tả lợn châu Phi cơ bản được khống chế, người dân đã tái đàn trở lại. Số con xuất chuồng trong tháng ước 9.580,01 con, giảm 27,8% so với cùng kỳ; sản lượng thịt hơi xuất chuồng 890,75 tấn.
- Tổng đàn gia cầm: Tổng đàn gia cầm của tỉnh phát triển tốt, công tác phòng chống dịch bệnh luôn được quan tâm, trong tháng 9 không phát sinh dịch bệnh. Thị trường tiêu thụ ổn định giá bán gà ta bình quân từ 100.000 – 120.000 đồng/kg, gà công nghiệp từ 50.000 - 70.000 đồng/kg; vịt thịt 40.000 – 60.000 đồng/kg, ngan thịt 60.000 -70.000 đồng/kg; ước tính số lượng đầu con hiện có 5.081,28 nghìn con, tăng 4,22% so với cùng kỳ. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng của gia cầm đạt 2.272,68 tấn, tăng 22,43%, tăng 416,37 tấn so với cùng kỳ; sản lượng trứng gia cầm ước đạt 8.886,78 nghìn quả.
1.1.3. Lâm nghiệp
Công tác chăm sóc bảo vệ rừng thường xuyên được duy trì. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng. Công tác phối hợp kiểm tra, giám sát khai thác gỗ rừng tự nhiên, gỗ rừng trồng và cây trồng phân tán trên địa bàn được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng ước thực hiện 1.251,28 ha, tăng 2,91% so với cùng kỳ năm trước. Do trồng rừng mang lại hiêu quả kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ ổn định; sản lượng gỗ khai thác trong tháng giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước, do người dân tập trung khai thác xong trong những tháng trước.
1.1.4. Thuỷ sản
Nuôi trồng thủy sản tiếp tục phát triển, các hộ dân có ý thức, hiểu biết về nuôi trồng thủy sản. Được sự quan tâm, của các cấp chính quyền địa phương, cơ quan chuyên môn đã hỗ trợ con giống, tập huấn kỹ thuật, tạo điều kiện liên kết sản xuất cho các hộ, hợp tác xã trên địa bàn có hoạt động sản xuất thủy sản. Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT, hiện nay ao cá bột giống các loại (trắm, trôi, mè, chép, rôphi) đảm bảo đạt chất lượng, số lượng cung ứng cho nhu cầu của nhân dân (thả được 5.245.000 con cá bột và 192.000 con cá hương, cung ứng được 3.262.000 con cá giống các loại). Diện tích nuôi trồng thủy sản đến nay ước thực hiện 289,0 ha, tăng 1,46% so với cùng kỳ; sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 432,94 tấn, tăng 1,17%  so với cùng kỳ năm trước.
1.2. Tình hình sản xuất Nông, Lâm Nghiệp, Thủy sản 9 tháng năm 2020

1.2.1. Nông nghiệp
* Tình hình sản xuất các loại cây trồng hằng năm
Tình hình sản xuất các loại cây trồng hằng năm vụ Đông - Xuân 2020
Tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm vụ Đông - Xuân năm 2020 thực hiện được 47.215,65 ha, tăng 1,32% so với cùng kỳ. Diện tích tăng chủ yếu ở cây ớt cay, cây thạch đen và cây lúa. Do ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19, nên phần lớn lao động chính trong các hộ dân ở các địa phương không thể sang Trung Quốc lao động thuê như trước, người nông dân đã mở rộng diện tích gieo trồng để có thêm thu nhập cho gia đình.
- Cây lúa: Diện tích gieo trồng thực hiện 15.458,27 ha, tăng 0,34% so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng cây lúa tăng do thời tiết đầu vụ mưa nhiều thuận lợi cho việc gieo trồng, đồng thời năm nay ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19, lao động chính trong các hộ gia đình không sang Trung Quốc lao động thuê như trước nên đã mở rộng diện tích gieo trồng (huyện Hữu Lũng tăng 39,87 ha, huyện Văn Quan tăng 40,78 ha...); năng suất lúa đạt 51,53 tạ/ha, tăng 0,12% so với cùng kỳ, do thời tiết thuận lợi, sử dụng giống lúa chất lượng, cho năng suất cao phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng trên địa bàn như giống lúa CR203, Kim cương 90, Khang dân.... Sản lượng lúa đạt 79.651,15 tấn, tăng 0,47% so với cùng kỳ, sản lượng lúa tăng là do diện tích gieo trồng và năng suất tăng.
- Cây ngô: Diện tích gieo trồng thực hiện 14.183,57 ha, so với cùng kỳ tăng 0,94%. Diện tích cây ngô tăng chủ yếu ở huyện Tràng Định (do năm 2019 ngô tím dễ tiêu thụ mang lại giá trị kinh tế cao), huyện Văn Quan (do thời tiết thuận lợi, mưa nhiều nên một số diện tích năm trước trồng dưa hấu, đỗ tương, bí xanh, rong riềng trồng xuống ruộng năm nay chuyển sang trồng lúa, ngô).... Năng suất đạt 51,44 tạ/ha, giảm 0,74%, so với cùng kỳ. Năng suất cây ngô giảm là do trong vụ thời tiết mưa nhiều nên ảnh đến quá trình thụ phấn và phát triển của bắp ngô. Sản lượng ngô đạt 72.966,62 tấn, tăng 0,19% so với cùng kỳ, sản lượng cây ngô tăng là do diện tích gieo trồng tăng.
Tình hình sản xuất các loại cây trồng hằng năm vụ Mùa năm 2020
Tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm vụ Mùa năm 2020 ước thực hiện 46.594,60 ha, tăng 0,52%  so với cùng kỳ
- Cây lúa: Gieo cấy vụ Mùa năm 2020 do ảnh hưởng của những đợt nắng nóng kéo dài nên khó khăn hơn trong khâu làm đất. Dự ước diện tích gieo trồng thực hiện 32.992,21 ha, tăng 0,01%  so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng cây lúa tăng, chủ yếu ở huyện Cao Lộc; hiện nay, điều kiện thời tiết cơ bản thuận lợi cây lúa đang trong giai đoạn đẻ nhánh, sinh trưởng phát triển tốt. Mặc dù có phát sinh một số loại sâu bệnh như: rầy các loại, châu chấu, sâu đục thân... gây hại với mật độ, tỷ lệ thấp đã được bà con chủ động phòng trừ kịp thời. Năng suất lúa ước đạt 38,15 tạ/ha, tăng 0,99% so với cùng kỳ, do người dân sử dụng giống lúa thuần chủng, chất lượng, cho năng suất cao phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng trên địa bàn như giống lúa Bao thai.... Sản lượng lúa ước đạt 125.874,43 tấn, tăng 1,01%  so với cùng kỳ, sản lượng lúa tăng là do diện tích gieo trồng và năng suất tăng.
- Cây ngô: Diện tích gieo trồng ước đạt 5.583,24 ha, tăng 0,13%% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích cây ngô tăng là do sản phẩm ngô chủ yếu dùng làm thức ăn chăn nuôi lợn, người dân bắt đầu tái đàn lại sau dịch tả lợn châu Phi. Diện tích ngô tăng chủ yếu ở huyện Lộc Bình, huyện Tràng Định, huyện Văn Lãng, huyện Cao Lộc. Năng suất ước tính 46,37tạ/ha, tăng 1,5% so với cùng kỳ. Sản lượng ước tính 25.886,8 tấn, tăng 1,63% so với cùng kỳ.
* Cây lâu năm
Toàn tỉnh diện tích cây lâu năm ước tính 9 tháng năm 2020: là 48.741,14 ha, tăng 0,86% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:
- Cây ăn quả là 16.554,34 ha, chiếm 33,96% tổng diện tích cây lâu năm, tăng 0,77% so với cùng kỳ năm trước;
- Cây chè 711,48 ha, giảm 1,63% so với cùng kỳ năm trước; 
- Cây gia vị, dược liệu lâu năm là 30.852,33, chiếm 63,30% tổng diện tích cây lâu năm, tăng 0,89% so với cùng kỳ năm trước;
- Cây lâu năm khác 613,48 ha, tăng 5,16% so với cùng kỳ năm trước.
Diện tích các cây lâu năm tăng, giảm so với cùng kỳ chủ yếu là do chuyển đổi từ cây trồng có năng suất, hiệu quả kinh tế thấp sang trồng cây có hiệu quả kinh tế cao và có thị trường tiêu thụ ổn định hơn. Ảnh hưởng của thời tiết diễn biến bất thường, đầu năm mưa đá, giữa năm nắng nóng kéo dài kèm theo mưa, giông lốc xảy ra đã ảnh hưởng đến việc trồng cây mới, và việc thụ phấn hoa, khiến diện tích, sản lượng thu hoạch một số cây trồng giảm; đồng thời diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19 cũng làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Cụ thể một số nhóm cây và từng loại cây lâu năm hiện có như sau:
+ Cây ăn quả: Phong trào trồng cây ăn quả tiếp tục duy trì và phát triển ở tất cả các huyện, thành phố trong tỉnh. Cây ăn quả được chú trọng phát triển, hình thành các vùng trồng cây ăn quả như: vùng trồng na ở Chi Lăng, Hữu Lũng; vùng trồng quýt ở Bắc Sơn, Bình Gia, Tràng Định; vùng trồng hồng ở Cao Lộc, Văn Lãng;... Các cấp, các ngành chức năng của tỉnh tăng cường công tác chỉ đạo về phát triển các sản phẩm chủ lực, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất gắn với đổi mới hình thức sản xuất, có sự tham gia của doanh nghiệp. Hình thành các chuỗi giá trị từ sản xuất đến thị trường tiêu thụ sản phẩm, ưu tiên nguồn lực, chính sách hỗ trợ, đầu tư phát triển các cây ăn quả chủ lực có thương hiệu như na, quýt, hồng; chú trọng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, an toàn vệ sinh thực phẩm. Bên cạnh đó nhiều loại cây đang đứng trước nguy cơ thoái hóa, ảnh hưởng đến diện tích, chất lượng và năng suất (như cây vải, lê, mơ). Việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, đặc biệt là sản xuất cây con giống còn hạn chế, chưa có vườn ươm cây giống. Đặc biệt, Hạt dẻ tươi Quảng Lạc được công nhận "Thương hiệu vàng nông nghiệp Việt Nam năm 2020”.
+ Cây công nghiệp lâu năm: Diện tích chè 711,48 ha, giảm 1,63%  so với cùng kỳ năm trước. Trong đó diện tích trồng chè búp là chủ yếu với 566,83 ha, chiếm khoảng 80% trong tổng diện tích chè, giảm 1,85% so với cùng kỳ năm trước do diện tích chè già cỗi chết đi và diện tích bỏ hoang được chuyển đổi sang trồng thông, keo. Cây chè búp trồng chủ yếu ở huyện Đình Lập, ngoài ra các huyện Lộc Bình, Bình Gia, Bắc Sơn cũng trồng nhiều. Sản lượng ước đạt 1.855,01, giảm 2,99% so với cùng kỳ năm trước do nắng hạn khiến năng suất chè búp giảm.
+ Cây gia vị, cây dược liệu lâu năm: Diện tích 30.852,33 ha, tăng 0,89% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm cây dược liệu, hương liệu lâu năm chiếm phần lớn diện tích là 30.821,19 ha (chiếm 99,9%), tăng 0,88% .Trong đó:
Cây hồi: 30.547,61 ha, tăng 0,91% so với cùng kỳ năm trước. Những cây hồi có năng suất và chất lượng sản phẩm kém hiệu quả người dân đã chặt bỏ, bổ sung trồng mới nên làm tăng diện tích trồng mới. Dự báo năm nay hồi chính vụ năng suất giảm so với cùng kỳ năm trước, sản lượng ước đạt 10.868,27 tấn, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên giá bán cao hơn cùng kỳ năm trước đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân. Giá hoa hồi tứ quý dao động 25-28 nghìn đồng/kg tươi (cùng kỳ năm trước giá bán dao động 13 -15 nghìn đồng/kg tươi); giá hoa hồi chính vụ dao động 40-45 nghìn đồng/kg tươi (cùng kỳ năm trước giá bán dao động 13-15 nghìn đồng/kg tươi).
1.2.2. Chăn nuôi
- Tổng đàn trâu: Tổng đàn trâu toàn tỉnh vẫn giảm dần do hiệu quả kinh tế không cao và môi trường chăn thả bị thu hẹp, một số hộ xuất bán trâu để lấy vốn đầu tư vào trồng rừng. Ước tính số lượng đầu con trâu hiện có 83.025,0 con; số con trâu xuất chuồng ước đạt 18.979 con, tăng 54,13% so với cùng kỳ; sản lượng xuất chuồng đạt 4.374,35 tấn.
- Tổng đàn bò: Đàn bò của tỉnh tăng so với cùng kỳ do có thị trường tiêu thụ tốt, giá bán thịt bò hơi ở mức cao, người chăn nuôi có lãi ổn định. Ước tính số lượng đầu con bò hiện có 34.250 con; số con bò xuất chuồng đạt 8.623 con ; sản lượng thịt hơi xuất chuồng 1.773,56 tấn, tăng 0,55% so với cùng kỳ năm trước, do thực hiện mô hình chăn nuôi bò năng suất cao theo hướng nhốt chuồng, vỗ béo.
- Tổng đàn lợn: Số lượng con hiện có ước 109.526  con, tăng 12,18% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng đầu con tăng là do khống chế dịch tả lợn châu Phi nên người dân tái đàn trở lại; số con xuất chuồng ước 163.770,01con, tương đương sản lượng hơi xuất chuồng đạt 15.227,41 tấn, giảm 37,8%  so với cùng kỳ năm trước (Do trong quý I/2019 chưa bị ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi).
- Tổng đàn gia cầm: Tổng đàn gia cầm phát triển tốt, không có dịch bệnh lớn xảy ra, giá cả và thị trường tiêu thụ ổn định. Ước tổng đàn gia cầm hiện có 5.081,28 nghìn con, tăng 4,22% so với cùng kỳ. Chăn nuôi các loại gia cầm trên địa bàn toàn tỉnh có xu hướng phát triển mang lại hiệu quả kinh tế cao, tiết kiệm chi phí, đầu ra ổn định, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của người dân; sản lượng thịt hơi xuất chuồng của gia cầm đạt 10.318,29 tấn (Trong đó sản lượng gà hơi đạt 8.868,73 tấn). Sản lượng trứng gia cầm đạt 35.605,71 nghìn quả (Trong đó số lượng trứng gà đạt 31.785,86 nghìn quả).
Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm:
Từ đầu năm đến 15/9/2020 bệnh dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 964 hộ/350 thôn/115 xã/11 huyện, thành phố. Tổng số lợn chết và tiêu hủy là 3.033 con, tổng trọng lượng là 140.820 kg. Hiện có 108/115 xã qua 21 ngày có ca bệnh cuối cùng. Tiếp tục chỉ đạo các xã tăng cường triển khai các biện pháp phòng chống dịch theo quy định, tiêu hủy toàn bộ đàn lợn ốm có triệu chứng điển hình và có kết quả dương tính. Cấp phát 1.577 lít thuốc sát trùng và 18.273 kg vôi hướng dẫn các hộ chăn nuôi thực hiện tiêu độc khử trùng tại ổ dịch và các hộ dân giáp ranh. Trong tháng tiêm phòng được 133.244 lượt con, lũy kế 947.689 lượt con đạt 115% so với cùng kỳ, đạt 72% so với kế hoạch. Công tác kiểm dịch vận chuyển, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y được thực hiện đảm bảo quy định.
1.2.3. Lâm nghiệp
+ Kết quả trồng rừng
Ước tính 9 tháng năm 2020, diện tích rừng trồng mới đạt 9.750,28 ha, tăng 12,31% .Phần ngân sách Nhà nước trồng cây phân tán giao cho người dân cũng được chuyển một phần sang trồng rừng tập trung.
Số cây trồng phân tán thực hiện được 2,32 triệu cây quy đổi ra ha tương đương 1.160,1 ha.
Diện tích rừng trồng sau khi được nghiệm thu chuyển sang chăm sóc, trong 9 tháng đầu năm 2020, toàn tỉnh thực hiện chăm sóc được 19.172,21 ha (rừng trồng chăm sóc chủ yếu ở các huyện: Hữu Lũng, Chi Lăng, Lộc Bình, Tràng Định).
+ Công tác quản lý, bảo vệ rừng
Công tác phối hợp kiểm tra, giám sát khai thác gỗ rừng tự nhiên, gỗ rừng trồng và cây trồng phân tán của cá nhân và tập thể trên địa bàn được thực hiện theo đúng qui định của pháp luật. Tuy nhiên, do ý thức của người dân chưa cao, chặt phá rừng tự nhiên để trồng rừng sản xuất; Từ đầu năm đến nay trên địa bàn toàn tỉnh đã  xảy ra 09 vụ cháy rừng, diện tích thiệt hại 12,15 ha rừng (tăng 05 vụ, tăng 1,32 ha diện tích so với cùng kỳ năm 2019), tổng số người được huy động tham gia chữa cháy là 386 người.
+ Khai thác và thu nhặt lâm sản.  
- Tổng sản lượng gỗ khai thác 9 tháng năm 2020 đạt 109.139,03 m3, tăng 0,13% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là gỗ nhóm 5; 6 và 7. Nguyên nhân do trồng rừng mang lại hiệu quả kinh tế, các cây trồng đã đến tuổi khai thác, người dân và doanh nghiệp chủ động khai thác để tái sản xuất rừng trồng mới. Khai thác gỗ nhiều ở các huyện Hữu Lũng, Lộc Bình, Đình Lập
 - Sản lượng củi khai thác và tiêu thụ 9 tháng năm 2020 ước đạt 983.808,27 ste, giảm 3,49% so với cùng kỳ năm trước. Khai thác củi tập trung chủ yếu ở khu vực cá thể, được dùng cho mục đích đun nấu và một phần được tiêu thụ trên thị trường. Khai thác củi giảm chủ yếu do nhu cầu sử dụng tiêu dùng củi trong dân giảm.
1.2.4. Thủy sản
+ Nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản đến nay ước đạt 1.266,0 ha, tăng 1,02% so với cùng kỳ; sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 1.050,35 tấn, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước. Phong trào nuôi cá lồng trên địa bàn tỉnh vẫn tiếp tục có chiều hướng phát triển, có thêm nhiều hợp tác xã nuôi trồng thủy sản, vùng nuôi tập trung như hợp tác xã cá lồng Tân Minh (huyện Văn Quan), hợp tác xã thủy sản Hồng Phong và hợp tác xã Tam Hoa (huyện Bắc Sơn)... Dự ước 9 tháng đầu năm 2020 tổng số lồng nuôi cá là 517 lồng, tăng 14,9% so với cùng kỳ.
+ Khai thác thủy sản: Sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 206,4 tấn, tăng 3,66% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng khai thác cá là 138,3 tấn, tăng 3,92% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng chủ yếu là cá các loại do thả cá bổ sung nguồn lợi thủy sản vào một số hồ chứa.
2. Sản xuất công nghiệp
Trong 9 tháng năm 2020, sản xuất công nghiệp mặc dù có tăng trưởng, nhưng mức tăng trưởng thấp hơn so với cùng kỳ năm trước. Đặc biệt trong giai đoạn từ cuối tháng 3/2020 đến cuối tháng 4/2020, thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về giãn cách xã hội, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp giảm đáng kể, chỉ đạt từ 40% - 50% công suất. Bên cạnh ảnh hưởng của dịch bệnh, tình hình thiếu nguyên liệu sản xuất và thị trường tiêu thụ nhỏ lẻ đã hạn chế phát triển sản xuất công nghiệp trên địa bàn.

2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 9/2020 so với tháng trước
Chỉ số phát triển sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 9 tăng 19,04% so với tháng trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 23,64%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,22%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 49,87%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 1,16%.
Ngành công nghiệp khai khoáng và sản xuất, phân phối điện tăng cao so với tháng trước do trong tháng 8/2020 Công ty Nhiệt điện Na Dương ngừng lò sản xuất trong nửa tháng để bảo dưỡng lò điện, dẫn đến nhu cầu sử dụng than khai thác từ Công ty than Na Dương cũng giảm sâu; sang tuần thứ 2 tháng 9, các lò điện trở lại hoạt động bình thường, sản xuất ổn định, cung cấp điện năng sản xuất cho các cơ sở sản xuất. Ngoài ra, mức năng lượng tiêu thụ điện còn phụ thuộc vào điều độ của EVN. Ngành xử lý và cung cấp nước cung cấp đủ nhu cầu nước sinh hoạt của dân cư so với tháng trước tăng 1,12%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 1,24% so với tháng trước.
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là ngành chiếm tỷ trọng lớn trong toàn ngành công nghiệp của tỉnh, chỉ số sản xuất chung toàn ngành trong tháng giảm nhẹ so với tháng trước. Trong đó, có một số ngành giảm nhiều như: Chế biến thực phẩm giảm 1,16% so với tháng trước, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 5,35%; ngành sản xuất kim loại giảm 7,35%...do những sản phẩm này phụ thuộc nhu cầu thị trường, số lượng đơn đặt hàng trong tháng giảm.
2.2. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 9/2020 so với cùng kỳ
So với cùng kỳ năm trước, sản xuất công nghiệp tháng 9 năm 2020 tăng 3,21%, trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 12,73%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,51%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 14,61%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 0,26%.
Trong ngành công nghiệp khai khoáng, hoạt động khai thác than giảm 13,26%; hoạt động khai thác đá giảm 12,05% do cùng kỳ năm trước nhu cầu sử dụng đá cao cho dự án đường cao tốc Bắc Giang - Lạng Sơn (đoạn Bắc Giang- Chi Lăng). Sang tháng 01/2020 dự án hoàn thành và đi vào sử dụng nên nhu cầu tiêu thụ giảm.
Trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, một số ngành cấp 2 có chỉ số tăng so với cùng kỳ như: sản xuất gỗ lạng tăng gấp 2 lần; gỗ dán tăng 11,2%. Các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh phát triển kinh tế rừng trồng, sản lượng gỗ khai thác ngày càng nhiều, đảm bảo nguồn nguyên liệu cho hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm từ gỗ; sản xuất đồ uống tăng 12,58%, sản xuất da tăng 13,3%,… Một số hoạt động sản xuất khác có xu hướng giảm so với cùng kỳ như: sản phẩm giấy (bìa), sản phẩm từ kim loại đúc sẵn, giấy và sản phẩm từ giấy… Riêng đối với hoạt động sản phẩm từ khoáng phi kim giảm 23,93%, do trong tháng 9, Công ty Xi măng Đồng Bành, Công ty Xi măng Hồng Phong sau điều tiết sản xuất phục vụ sửa chữa, bảo dưỡng lò, hoạt động chỉ đạt 80% công suất nên sản lượng xi măng sản xuất giảm tác động làm giảm chỉ số ngành công nghiệp chế biến chế tạo.
Ngành công nghiệp điện, sự tăng giảm sản lượng phụ thuộc vào lệnh điều độ sản xuất của Tổng Công ty Điện lực. Sản lượng điện sản xuất tháng 9/2020 tăng 15,87%; điện thương phẩm tăng 5,40% so với cùng kỳ.
So với cùng kỳ năm trước, ngành khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 1,69%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải giảm 1,31% so với cùng kỳ.
2.3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2020 so với cùng kỳ
Trong những tháng đầu năm, dịch Covid-19 đã gây khó khăn trong hoạt động sản xuất, việc xuất, nhập nguyên vật liệu ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; dẫn đến một số doanh nghiệp thiếu nguyên vật liệu để sản xuất, lao động thiếu việc làm. Các doanh nghiệp như: Công ty TNHH Thực Nghiệp Long Đằng (sản xuất bật lửa ga); Công ty TNHH Thực Nghiệp Tân Vũ (sản xuất giấy bìa, keo dính), lãnh đạo và kỹ thuật đều là người Trung Quốc, chưa thể quay trở lại Việt Nam làm việc bởi dịch Covid-19, riêng Công ty TNHH Thực Nghiệp Tân Hải (sản xuất bút bi, thước kẻ) đến tháng 9 mới hoạt động lại; Công ty TNHH DK Việt Nhật (sản xuất xe điện) gặp khó khăn trong khâu nhập khẩu nguyên liệu, Công ty TNHH Bảo Long (sản xuất máy bơm) nhập khẩu nguyên vật liệu bị kéo dài do nhiều quãng đường di chuyển ở nội địa Trung Quốc bị cấm, sản xuất và tiêu thụ giảm so với cùng kỳ…Sau khi dịch bệnh cơ bản được khống chế, các hoạt động sản xuất đã hoạt động trở lại.
Cộng dồn 9 tháng, chỉ số sản xuất chung ngành công nghiệp tăng 3,65% so với cùng kỳ, trong đó: Ngành công nghiệp khai thác tăng 3,19%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,34%, (sản xuất chế biến thực phẩm tăng 4,52%; sản xuất đồ uống tăng 14,52%, chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ tăng 18,09%); ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 7,47%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 3,59% (hoạt động khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 4,36%, hoạt động thu gom rác thải tăng 3,14%.
2.4. Chỉ số tiêu thụ, tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9/2020 tăng 5,89% so với tháng trước. Trong đó, chế biến thực phẩm giảm 3,05%; chế biến gỗ tăng 7,65%; sản xuất máy bơm nước tăng 4,70%. Cộng dồn 9 tháng, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến chế tạo dự ước giảm 5,20%, trong đó chỉ có 2 ngành cấp 2 đạt tăng trưởng trong tiêu thụ gồm: sản xuất nước uống và sản xuất máy bơm. Ngoài ra, các sản phẩm khác tiêu thụ đều giảm so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng của dịch bệnh trong những tháng đầu năm, khiến số lượng đơn đặt hàng sản phẩm giảm, một phẩn do thị trường tiêu thụ trong nước chưa được mở rộng, các sản phẩm công nghiệp trên địa bàn ít hoặc chưa có thị trường xuất khẩu do đó tiêu thụ cũng ảnh hưởng giảm.
Chỉ số tồn kho ngành chế biến chế tạo tháng 9/2020 nhìn chung giảm so với tháng trước (giảm 21,52%), tăng so với cùng kỳ (tăng 28,03% so với tháng 9/2019). Hiện nay, các doanh nghiệp trên địa bàn vẫn còn khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị trường đầu ra. Do đó, các ngành, các cấp các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh cần có những định hướng, chính sách giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, từ đó tăng gia sản xuất nâng cao năng suất lao động. Cùng với đó, cần có sự hỗ trợ của các ngành chức năng, các huyện, thành phố tích cực tìm biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp giải phóng hàng tồn kho, đẩy mạnh tuyên truyền và hưởng ứng mạnh mẽ cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, tập trung cải cách thủ tục hành chính trên các lĩnh vực… 
2.5. Chỉ số sử dụng lao động
Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 9/2020 tăng 0,25% so với tháng trước và tăng 0,12% so với cùng kỳ. Trong đó, so với cùng kỳ ngành khai khoáng chỉ số sử dụng lao động giảm 2,14%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,93% chủ yếu tăng ở lao động khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Công ty cổ phần Kim Loại Màu Bắc Bộ tăng 35% lao động để đảm bảo sản xuất); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 5,70%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,54%. Bình quân ,9 tháng đầu năm 2020, chỉ số sử dụng lao động giảm 0,80% so với cùng kỳ năm trước.
2.6. Xu hướng sản xuất kinh doanh 9 tháng năm 2020
 Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên tổng số 38 doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo hỏi về xu hướng kinh doanh. Đánh giá chung về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý III/2020 so với quý trước, có 24,32% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn; 10,81% số doanh nghiệp đánh giá khó khăn và 64,86% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định. Dự kiến quý IV/2020 so với quý III/2020 có 22,22% số doanh nghiệp cho rằng xu hướng sẽ tốt lên; 8,33% số doanh nghiệp dự báo kém đi và 69,44% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định. Để đạt được mức tăng trưởng dự ước cả năm 2020 so với cùng kỳ, các doanh nghiệp tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, tạo tăng trưởng và phát triển sản lượng.
3. Đầu tư - xây dựng
Trong quý mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp nhưng với sự tập trung chỉ đạo, lãnh đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân nhân dân tỉnh, Uỷ ban nhân dân tỉnh, sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành tập trung thực hiện quyết liệt các nhiệm vụ, các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đẩy nhanh tiến độ thi công và giải ngân vốn đầu tư các dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh. Các chủ đầu tư tập trung hoàn thiện các thủ tục đầu tư, đấu thầu các dự án khởi công mới, đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình, dự án chuyển tiếp, nhất là các dự án trọng điểm, dự án cơ sở hạ tầng thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia.

3.1. Dự ước vốn đầu tư thực hiện quý III năm 2020
Phân theo nguồn vốn: Tổng vốn Nhà nước trên địa bàn tỉnh thực hiện đạt 4.210.644 triệu đồng, tăng 3,05%, tương đương tăng 124.777 triệu đồng so với cùng kỳ, trong đó:
- Vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn thực hiện ước đạt 1.363.888 triệu đồng, tăng 4,31%, tương đương tăng 56.294 triệu đồng so với cùng kỳ.
- Vốn ngoài Nhà nước: Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn ngoài Nhà nước quý III năm 2020 ước đạt 2.832.404 triệu đồng, tăng 2,64%, tương đương tăng 72.911 triệu đồng.
- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn đầu tư trưc tiếp nước ngoài quý III năm 2020 ước đạt 14.352 triệu đồng.
Phân theo khoản mục đầu tư: Đầu tư xây dựng cơ bản ước đạt 3.327.572 triệu đồng, chiếm 79,02%; đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản ước đạt 406.033 triệu đồng, chiếm 9,64%; vốn đầu tư sửa chữa lớn nâng cấp tài sản cố định ước đạt 368.086 triệu đồng, chiếm 8,74%; vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động ước đạt 108.627 triệu đồng; vốn đầu tư khác đạt 352 triệu đồng.
3.2. Dự ước vốn đầu tư thực hiện 9 tháng đầu năm 2020
Phân theo nguồn vốn: Dự ước vốn đầu tư thực hiện 9 tháng năm 2020 đạt 10.261.070 triệu đồng, giảm 0,54% , tương đương giảm 55.208 triệu đồng so với cùng kỳ. Trong đó:
- Vốn Nhà nước trên địa bàn ước đạt: 2.986.390 triệu đồng, tăng 6,91% so với cùng kỳ (phân bổ vốn năm 2019 kéo dài sang thực hiện năm 2020 và vốn dự phòng năm 2019 với tổng số vốn phân bổ thêm vào kế hoạch năm 201.181 triệu đồng).
- Vốn ngoài Nhà nước 7.228.030  triệu đồng, giảm 3,13%, tương đương giảm 233.916 triệu đồng so với cùng kỳ; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 47.250 triệu đồng.
Phân theo khoản mục đầu tư: Đầu tư xây dựng cơ bản ước đạt 8.378.866 triệu đồng, chiếm 81,65%; đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản ước đạt 933.367 triệu đồng, chiếm 9,09%; vốn đầu tư sửa chữa lớn nâng cấp tài sản cố định ước đạt 838.049 triệu đồng, chiếm 8,16%; vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động ước đạt 110.562 triệu đồng; vốn đầu tư khác ước đạt 827 triệu đồng.
4. Tài chính, ngân hàng
4.1. Tài chính[1]
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện 9 tháng năm 2020 là 4.626 tỷ đồng, đạt 75,2% so với dự toán tỉnh giao và bằng 90,6% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó: Thu nội địa là 1.915 tỷ đồng, đạt 69,63% so với dự toán tỉnh giao, bằng 81,9 % so với cùng kỳ năm 2019.
Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện 9 tháng năm 2020 là 7.295 tỷ đồng, đạt 62,2% so với dự toán tỉnh giao và tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó: Chi đầu tư phát triển là 796 tỷ đồng, đạt 54,1% dự toán, bằng 84,8% so với cùng kỳ năm 2019; Chi thường xuyên là 5.047 tỷ đồng, đạt 67,6% dự toán, bằng 104,3% so với cùng kỳ năm 2019.
4.2. Ngân hàng[2]
Các ngân hàng trên địa bàn thực hiện nghiêm túc những chính sách tài khoá và tiền tề đúng đắn của Đảng, Chính phủ. Áp dụng mức lại suất cho vay hợp lý, mức độ rủi ro của khoản vay và chia sẻ khó khăn với khách hàng trong bối cảnh dịch Covid-19 ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ước thực hiện đến 30/9/2020: Tổng huy động vốn đạt 30.367 tỷ đồng, tăng 3,8% so với 31/12/2019; Dư nợ tín dụng đạt 31.427 tỷ đồng, tăng 0,8% so với 31/12/2019.
5. Thương mại và dịch vụ
5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9 năm 2020 ước đạt 1.545,79 tỷ đồng, tăng 1,98% so với tháng trước, giảm 1,16% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 9 tháng đầu năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 14.079,25 tỷ đồng, giảm 5,27% so với cùng kỳ năm trước.
* Doanh thu chia theo ngành hoạt động:
- Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 9 năm 2020 ước đạt 1.371,46 tỷ đồng, tăng 2,03% so với tháng trước, giảm 0,85% so với cùng kỳ năm trước.      
Trong tháng 9, hầu hết các ngành hàng đều có ước tính doanh thu tăng so với tháng trước, trong đó: ngành bán lẻ lương thực, thực phẩm tăng 1,89%; hàng may mặc tăng 1,88%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 1,92%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 3,12%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 5,96%; ô tô các loại tăng 0,81%; xăng dầu các loại tăng 0,73%; hàng hóa khác tăng 2,22%; Sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và xe có động cơ tăng 4,24%.

Hiện nay, dịch bệnh cơ bản đã được khống chế, cả nước đang phục hồi nền kinh tế sau đại dịch Covid-19, các gói hỗ trợ thiệt hại do dịch bệnh tiếp tục được triển khai; nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể, người dân đang dần đi vào ổn định, các hoạt động sản xuất, kinh doanh đang dần trở lại nhịp độ bình thường. Quý III/2020, thị trường bán lẻ hàng hóa đã quay trở lại mức tăng trưởng bình thường, ước tính doanh thu bán lẻ quý III đạt 4.205,14 tỷ đồng, tăng 1,8% so với cùng quý năm trước. Trong đó, lương thực, thực phẩm tăng 2,43%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 26,08%; Vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 10,19%; Phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) tăng 4,52%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 8,15%; Nhiên liệu khác (Trừ xăng, dầu) tăng 9,63%...
Tính chung 9 tháng đầu năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 14.079,25 tỷ đồng, giảm 5,27% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: lương thực, thực phẩm giảm 4,9%; hàng may mặc giảm 4,48%; vật phẩm, văn hóa giáo dục giảm 2,2%; gỗ và vật liệu xây dựng giảm 10,86%; ô tô các loại giảm 4,39%; phương tiện đi lại giảm 6,73%; xăng dầu các loại giảm 18,87%, hàng hóa khác giảm 3,34%.
- Đối với ngành dịch vụ: hoạt động các ngành dịch vụ tháng 9/2020 tăng khá hơn so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ năm trước giảm; các cơ sở hoạt động ngành dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ karaoke, cắt tóc, gội đầu, spa làm đẹp đã ổn định và hoạt động trở lại bình thường. Cụ thể:
Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 9 năm 2020 ước đạt 8,13 tỷ đồng, tăng 1,3% so với tháng trước và giảm 5,16% so với cùng kỳ năm trước; quý III/2020 ước đạt 25,82 tỷ đồng, tăng 1,24% so với quý III/2019. Cộng dồn 9 tháng/2020, doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 70,04 tỷ đồng, giảm 10,3% so với cùng kỳ.
Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 9 năm 2020 ước đạt 130,23 tỷ đồng, tăng 1,03% so với tháng trước và giảm 3,27% so với cùng kỳ năm trước; quý III/2020 ước đạt 418,31 tỷ đồng, tăng 4,81% so với quý III/2019. Cộng dồn 9 tháng/2020, doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 1.105,88 tỷ đồng, giảm 9,97% so với cùng kỳ.
Doanh thu du lịch lữ hành tháng 9 năm 2020 ước đạt 0,5 tỷ đồng, tăng 8,71% so với tháng trước, giảm 20,51% so tháng trước và giảm 50,25% so với cùng kỳ năm trước; quý III/2020 ước đạt 2,55 tỷ đồng, giảm 19,2% so với quý III/2019. Cộng dồn 9 tháng/2020, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 7,66 tỷ đồng, giảm 18,97% so với cùng kỳ.
Doanh thu dịch vụ khác tháng 9 năm 2020 ước đạt 35,47 tỷ đồng, tăng 4,43% so với tháng trước, giảm 2,64% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2020, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 104,01 tỷ đồng, giảm 2,5% so với quý III/2019. Cộng dồn 9 tháng/2020, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 308,58 tỷ đồng, giảm 6,97% so với cùng kỳ.
5.2. Vận tải hành khách và hàng hóa
Vận tải hàng hóa, do bị ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, nên vận chuyển hàng hóa 2 chiều tại các cửa khẩu với Trung Quốc bị ảnh hưởng nhiều; tuy nhiên, vận chuyển đường dài với các tỉnh phía Nam vẫn ổn định, doanh thu và sản lượng luân chuyển hàng hóa vẫn tăng so với cùng kỳ.
Do lượng hàng hóa lưu kho, bãi với thời gian dài nên doanh thu hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng cao so với cùng kỳ. Hoạt động chuyển phát cũng có mức tăng khá. Cụ thể:
Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ, bưu chính chuyển phát 9 tháng năm 2020 như sau:
Tổng doanh thu toàn ngành vận tải đạt: 1.078,2 tỷ đồng, giảm 5,1% so với cùng kỳ. Trong đó: doanh thu hoạt động vận tải hành khách ước đạt  161,4 tỷ đồng, giảm 43,05%; về khối lượng hành khách vận chuyển giảm 43,3%  và giảm 41,6% về khối lượng hành khách luân chuyển (khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước: doanh thu giảm 43%, hành khách vận chuyển giảm 43,3%, hành khách luân chuyển giảm 41,6%; Khu vực doanh nghiệp có vốn FDI, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn duy nhất có một doanh nghiệp FDI hoạt động vận tải hành khách, do tình hình dịch bệnh Covid-19, so với cùng kỳ năm trước doanh thu và sản lượng vận chuyển, luân chuyển đều chưa bằng 20% vì doanh nghiệp này chủ yếu là vận chuyển khách theo hợp đồng; khối kinh doanh cá thể đạt hơn 60% so với cùng kỳ);
Hoạt động vận tải hàng hóa: doanh thu tăng 6,8%, khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng 9%, nhưng khối lượng hàng hóa vận chuyển lại giảm 29,7% (do tăng lượng hàng hóa vận chuyển đường dài) so với cùng kỳ năm trước.
Hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ tăng 9%; hoạt động chuyển phát tăng 58,7% so với cùng kỳ năm trước.
6. Chỉ số giá
6.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
CPI chung toàn tỉnh tháng 9 năm 2020 giảm 0,41% so với tháng trước; tăng 5,44% so với cùng kỳ năm trước. Quý III năm 2020 tăng 6,61% so với quý cùng kỳ. Bình quân 9 tháng đầu năm 2020 tăng 7,69% so với bình quân cùng kỳ, cụ thể:
CPI chung toàn tỉnh so với tháng trước: Một số nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước, gồm:
* Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,24%,  trong đó:
- Thực phẩm giảm 1,75%: Chỉ số giá của các mặt hàng trong nhóm thực phẩm biến động so với tháng trước, cụ thể: giá thịt gia súc tươi sống giảm 4,92%, giá thịt lợn hơi giảm dẫn đến giá thịt lợn giảm 2,68% so với tháng trước. Giá thịt lợn bán lẻ trên thị trường bình quân dao động ở mức giá từ 140.000đ/kg – 153.000đ/kg các loại, giảm từ 10.000đ/kg – 15.000đ/kg so với tháng trước. Giá thịt lợn giảm kéo theo giá dầu mỡ và chất béo giảm. Giá thịt gia cầm tươi sống tăng 0,89%, chủ yếu tăng ở mặt hàng thịt gia cầm khác (tăng 2,12%). Nguyên nhân thịt gia cầm tăng là do trong tháng có ngày rằm tháng 7 âm lịch, vào những ngày này hằng năm người dân thường có nhu cầu mua sắm đồ dâng cúng lễ do đó mặt hàng thịt gia cầm không thể thiếu trong mâm lễ theo phong tục, tập quán của người dân. Giá trứng các loại giảm 0,33%. Giá quả tươi tăng 1,92% so với tháng trước, chủ yếu ở các mặt hàng chuối, xoài những loại quả tươi khác dùng cho việc cúng lễ.
- Ăn uống ngoài gia đình giảm 0,06%: các hàng quán phục vụ dịch vụ ăn uống đang dần đi vào hoạt động bình thường và ổn định.
* Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,04%: Những mặt hàng trong nhóm này giảm chủ yếu ở các mặt hàng đồ điện như máy xay sinh tố, máy đánh trứng, tủ lạnh, điều hòa … do điểm giá ở các cửa hàng kinh doanh đồ dùng gia đình đang áp dụng nhiều chương trình khuyến mãi kích cầu tiêu dùng của người dân.
* Nhóm giao thông giảm 0,41%: Tính đến 15giờ ngày 11/9/2020 giá xăng A95 là 15.321đ/L, giá dầu Diezen là 11.905đ/L, chỉ số giá chung nhóm nhiên liệu giảm 0,24% so với tháng trước. Giá vé tàu hỏa giảm 1,26%, giá vé máy bay tăng 1,72%. Các mặt hàng còn lại của nhóm giá ổn định.
* Nhóm Bưu chính viễn thông giảm 0,55%: Chỉ số giá nhóm này giảm chủ yếu ở mặt hàng thiết bị điện thoại do trên thị trường xuất hiện thêm nhiều dòng sản phẩm mới hiện đại, phong phú, đa dạng về mẫu mã, kiểu cách và chất lượng và giảm giá những dòng sản phẩm kém chất lượng hơn để kích cầu người tiêu dùng.
* Nhóm Văn hóa giải trí và du lịch giảm 0,31%: Chỉ số giá nhóm hàng này giảm ở nhóm thiết bị văn hóa chủ yếu là mặt hàng ti vi màu do một số điểm giá đang áp dụng chương trình khuyến mãi để kích cầu người dân mua sản phẩm.
Một số nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước, cụ thể:
* May mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,08%: Chỉ số giá nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng nhẹ so với tháng trước chủ yếu tăng ở các mặt hàng như giày, dép, quần áo... do nhu cầu mua sắm chuẩn bị cho học sinh bước vào năm học mới.
* Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,70%: Chỉ số giá tiêu dùng nhóm hàng này biến động cụ thể ở các mặt hàng sau: Giá điện sinh hoạt tăng 4,04%; Giá dầu hỏa bình quân tháng 9 năm 2020 giảm 4,31% so với tháng trước, do Tập đoàn xăng dầu Việt Nam Petrolimex điều chỉnh giảm giá dầu hỏa vào 15h ngày 11/9/2020; Giá gas, giá nhà ở  trong tháng ổn định.
Chỉ số giá CPI chung toàn tỉnh tháng 9/2020 tăng 5,44% so với cùng  kỳ năm trước do ảnh hưởng của một số nhóm hàng sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 17,48%; Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,41%; Nhóm hàng thiết bị đồ dùng gia đình tăng 0,17%; Nhóm giáo dục tăng 0,70%; Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,17%.
Bình quân quý III năm 2020 tăng 6,61% so với quý cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của một số mặt hàng tăng mạnh như:  Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 19,67%; Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,35%; Nhóm giáo dục tăng 5,25%; Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,3%.
Bình quân 9 tháng năm báo cáo so với cùng kỳ năm trước tăng 7,69% do ảnh hưởng của một số nhóm hàng sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 21,10%; Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,15%; Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 2,63%; Nhóm thiết bị đồ dùng gia đình tăng 0,82%; Nhóm giáo dục tăng 6,72%;  Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,77%.
6.2. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
- Chỉ số giá vàng so với tháng trước tăng 0,19% và tăng 26,99% so với cùng kỳ: trong tháng giá vàng thế giới không biến động mạnh như các tháng trước, thị trường vàng trong nước giao dịch điều chỉnh giá tăng, giảm theo giá thị trường.
- Chỉ số giá đô la Mỹ không đổi so với tháng trước, giảm 0,09% so với cùng kỳ.
7. Một số tình hình xã hội
7.1. Đời sống dân cư
Trong 9 tháng  năm 2020, trên địa bàn tỉnh có 08/11 huyện thiếu đói trong dân cư, có 2.290 lượt hộ thiếu đói với 8.439 lượt nhân khẩu, trong đó: hộ chính sách là 1.315 lượt hộ, với 5.033 lượt nhân khẩu. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, các cấp, các ngành và địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 126,58 tấn gạo (tập trung chủ yếu tháng 3 năm 2020).

7.2. An sinh xã hội, giải quyết việc làm[3]
* Lao động, việc làm - Bảo hiểm xã hội
Trong 9 tháng đầu năm 2020, ước tạo việc làm mới cho 10.961 người  đạt 90% kế hoạch, Quỹ quốc gia giải quyết việc làm cho vay vốn 29,03 tỷ đồng với 780 dự án, tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm cho 780 người lao động.
Trung tâm Dịch vụ việc làm: Tư vấn việc làm, học nghề, chính sách pháp luật lao động cho 5.975 lượt người so với cùng kỳ năm 2019 là 8.871 lượt người đạt 67,15%; 522 người đến Trung tâm đăng ký việc làm so với cùng kỳ năm 2019 là 1.418 người đạt 39%; có 288 người được giới thiệu việc làm so với cùng kỳ năm 2019 là 1.060 người đạt 27,16%; số người giới thiệu việc làm nhận được việc làm là 271 người so với cùng kỳ năm 2019 là 605 người đạt 45%. Tổ chức 33 phiên giao dịch việc làm với 2.658 người, trong đó làm việc tại Trung tâm là 22 phiên với 1.081 người, số phiên GDVL lưu động là 11 phiên với 1.577 người tham gia.
* Giáo dục nghề nghiệp
Thực hiện tuyển sinh được 8710 người, trong đó: Cao đẳng 100; Trung cấp 2243 người; Sơ cấp 2199 và đào tạo thường xuyên 4168 người.Đạt 65% so với kế hoạch năm.
Trường Cao đẳng nghề Lạng Sơn: Tổng số sinh viên học tại trường là: 734 sinh viên với 31 lớp, trong đó có 8 lớp Cao đẳng; học Cao đẳng liên thông là 140 sinh viên; Tổng số có 137học sinh tốt nghiệp.
* Giảm nghèo
Tổng số 17.804 nhân khẩu, tổng kinh phí đã phê duyệt: 132,16 triệu đồng, Trong đó: đối tượng thuộc hộ nghèo: là 21.235 hộ, 86.681 nhân khẩu, kinh phí 65.009,25 triệu đồng; đối tượng thuộc hộ cận nghèo: 20.246 hộ, 89.123  nhân khẩu, kinh 67.145,150 triệu đồng. Tính đến hết ngày 31/7/2020 tổng số đối tượng hộ nghèo, cận nghèo đã chi trả cho 173.073 nhân khẩu, tổng kinh phí: 129.790,500 triệu đồng, đạt  trên 99%. Số còn lại dokhi kê khai bị trùng với đối tượng bảo trợ xã hội, và một số đối tượng đang đi làm ăn xa, có vướng mắc,…chưa chi trả được.
Ước giảm tỷ lệ hộ nghèo 9 tháng đầu năm 2020 đạt 2%, tương đương giảm khoảng 3.800 hộ, đạt 64,86% so với kế hoạch.
7.3. Giáo dục
Trong tháng 9 năm 2020 tình hình dịch Covid – 19 phức tạp. Tuy nhiên, ngành đã chủ động xây dựng kế hoạch tổ chức tổng kết năm học 2019-2020. Tổ chức thành công kỳ thi TN THPT năm 2020 lần 2; thực hiện nghiêm túc  các văn bản chỉ đạo về các biện pháp cấp bách phòng, chống Covid -19; Tích cực tham dự tập huấn, tham gia lựa chọn sách, dạy thực nghiệm sách giáo khoa mới. Công tác biên soạn tài liệu địa phương cơ bản đảm bảo tiến độ; thực hiện biên soạn theo quy trình hướng dẫn. Công tác rà soát, sắp xếp, đổi tên trường sau khi sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã đảm bảo tiến độ. Chất lượng giáo dục ổn định. Công tác kiểm tra công nhận mới trường học đạt chuẩn quốc gia đảm bảo tiến độ và vượt kế hoạch năm 2020 là 06 trường. Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT năm 2020 (lần 1) đạt 97,2% (tăng 6,86% so với năm 2019, tăng phổ điểm các môn thi).
7.4. Hoạt động y tế và sức khỏe cộng đồng[4]
Trong tháng, Sở Y tế tiếp tục chỉ đạo toàn ngành duy trì thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19. Thực hiện báo cáo nhanh tình hình phòng, chống dịch covid-19 hàng ngày theo chỉ đạo của Bộ Y tế. Tiếp tục thực hiện công tác truyền thông phòng, chống dịch; kiểm tra, giám sát những khách sạn lưu trú, cách ly những chuyên gia đến từ nước ngoài; kiểm tra, giám sát những khu vực cách ly của tỉnh bảo đảm thường xuyên đủ điều kiện và hoạt động tốt.
a. Kết quả thực hiện nhiệm vụ
* Công tác phòng chống dịch:
Kiểm tra giám sát công tác phòng chống dịch, duy trì thực hiện các chốt kiểm dịch liên ngành, củng cố lại đội lái xe chuyên nghiệp tại khu vực cửa khẩu để vận chuyển hàng hóa qua biên giới, kiểm soát dịch COVID-19 tại huyện Đình Lập, rà soát củng cố lại các khách sạn cách ly cho chuyên gia, thợ kỹ thuật cao nhập cachr vào Việt Nam qua tỉnh Lạng Sơn theo hướng gọp nhẹ hiệu quả hơn...
Tình hình triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19:
- Số người dương tính với Covid-19: 04 người (Bệnh nhân số 675, 676, 677 và 678 đã được Bộ Y tế công bố khỏi bệnh và hiện tại đang quản lý theo dõi tại địa phương theo quy định, sức khỏe ổn định).
- Tình hình cách ly:
+ Cách ly tại cơ sở y tế (cộng dồn 702 người): 07 người đang cách ly, 688 người đã hoàn thành cách ly, 04 người dương tính  đã điều trị khỏi và 03 người chuyển nơi khác.
+ Cách ly tại khu Quân sự (cộng dồn 8.895 người): 204 người đang cách ly.
+ Cách ly tại khách sạn (cộng dồn 3.700 người): 382 chuyên gia Trung Quốc đang cách ly (tổng số nhập cảnh: 18.037 người), 3.318 người đã hoàn thành cách ly.
 - Tình hình xét nghiệm: Số mẫu xét nghiệm Covid-19: 23.663 (số dương tính: 04 )
- Thông tin liên quan đến ổ dịch tại Đà Nẵng và huyện Đình Lập: hiện tại tình hình ổn định, không có phát sinh (Tổng số người về từ Đà Nẵng: 1.669 người; Tổng số người liên quan quản lý y tế toàn tỉnh: 5.627 người, 100% đã qua 14 ngày sức khỏe ổn định )
Kết quả trong tháng 9/2020: dịch bệnh COVID-19 đã được khống chế và kiểm soát, khu cách ly cộng đồng và các chốt kiểm dịch y tế tại huyện Đình Lập đã được dỡ bỏ từ ngày 28/8/2020, mọi sinh hoạt của người dân tại huyện Đình Lập và tỉnh Lạng Sơn cơ bản đã trở lại bình thường.
* Công tác phòng dịch khác:

Thực hiện tốt công tác phòng, chống các loại dịch bệnh trên địa bàn tỉnh. Trong tháng không có dịch bệnh lớn xảy ra trên địa bàn tỉnh. Bệnh truyền nhiễm được kiểm soát tốt. Cụ thể bệnh truyền nhiễm trên địa bàn tỉnh trong tháng nhiều bệnh có số ca mắc giảm, một số bệnh có số ca mắc tăng so với cùng kỳ năm 2019[5].
Cộng dồn 9 tháng đầu năm: Bệnh truyền nhiễm trên địa bàn tỉnh được kiểm soát tốt, không có dịch lớn xảy ra. So với cùng kỳ năm 2019, đa số những bệnh có số ca mắc giảm, một số loại bệnh có số ca mắc tăng[6].
Phối hợp các ngành, địa phương nắm bắt thông tin về tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm có nguy cơ lây sang người để có các phương án, biện pháp phòng ngừa hiệu quả.
b. Các chương trình mục tiêu quốc gia và các Dự án được duy trì và triển khai thực hiện có hiệu quả, cụ thể: Dự án phòng chống sốt rét[7]; Dự án Dân số - Kế hoạch hóa gia đình[8]; Dự án Tiêm chủng mở rộng[9]; Dự án vệ sinh, an toàn thực phẩm[10]; Dự án phòng chống HIV/AIDS[11]; Dự án phòng chống Lao; Dự án phòng chống rối loạn do thiếu hụt Iốt….
7.5. Hoạt động văn hoá, thể thao[12]
* Lĩnh vực văn hoá
- Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa:  Đề xuất với UBND tỉnh chủ trương tu bổ di tích khảo cổ Mai Pha và di tích Chùa Tiên - Giếng Tiên, di tích Đền Cửa Nam (thành phố Lạng Sơn); di tích Nhà lưu niệm đồng chí Lương Văn Tri (huyện Văn Quan), di tích lịch sử Khởi nghĩa Bắc Sơn (huyện Bắc Sơn), di tích lịch sử chiến thắng Đường số 4 (huyện Tràng Định). Các đề án bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Múa sư tử dân tộc Tày, Nùng tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2020-2030; Kế hoạch và tổ chức các lớp truyền dạy văn hóa phi vật thể năm 2020. Khảo sát thực tế và thống nhất các khu vực bảo vệ di tích Đền Khuôn Dầu và Đền Bậm phục vụ lập hồ sơ xếp hạng di tích cấp tỉnh.
- Hoạt động nghệ thuật biểu diễn: Tổ chức 06 hoạt động văn nghệ quần chúng với các nội dung như Hát Then, Giao lưu dân ca dân vũ..nhân các ngày Lễ kỷ niệm của đất nước, của tỉnh[13]; Phối hợp với Hội bảo tồn Dân ca tỉnh tổ chức Liên hoan dân ca tỉnh Lạng Sơn lần thứ nhất năm 2020 tại huyện Văn Quan; Tổ chức Lễ ra mắt Câu lạc bộ Đàn hát dân ca Điếp Sli then xã Thụy Hùng, huyện Cao Lộc...
- Hoạt động tuyên truyền lưu động: Trong 9 tháng, đội tuyên truyền lưu động phối hợp thực hiện được 21 buổi đạt 21% biểu diễn văn nghệ tuyên truyền bằng ba phương thức; Tổ chức thu thanh, biên tập trên 45 tin bài, tài liệu tuyên truyền với trên 500 bản và tuyên truyền trên 80 lượt bằng xe tuyên truyền lưu động trên địa bàn thành phố Lạng Sơn[14].
- Hoạt động Chiếu bóng: Biên soạn, biên tập 73 nội dung tuyên truyền; 05 phóng sự hình; tổ chức triển khai 06 đợt phim. Kết quả, các đội chiếu bóng lưu động thực hiện được1.233/1.670 buổi chiếu, 9.319 lượt tuyên truyền, phục vụ 268.527 lượt người nghe và xem tuyên truyền.
* Thể dục, thể thao
Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, trong đó tập trung vào việc tổ chức các giải thi đấu Giải Cờ vua, Cờ tướng và Giải Vô địch đồng đội Cầu lông, Bóng bàn tỉnh Lạng Sơn năm 2020, giải Việt dã trong tuần liên hoan Du lịch Mẫu Sơn; Tổ chức Lễ phát động toàn dân tập luyện môn Bơi, phòng chống đuối nước năm 2020 và báo cáo UBND tỉnh, kết quả 7/11 huyện, thành phố đã tổ chức Lễ phát động.
Tham gia được 5 giải thi đấu toàn quốc: giải các Câu lạc bộ Muay toàn quốc tại Tiền Giang từ ngày 2/6 – 15/6/2020, giải vô địch các câu lạc bộ Kickboxing toàn quốc từ ngày 15/6-26/6/2020 tại Đắk Nông; giải vô địch Wushu toàn quốc từ ngày 29/6-12/7/2020 tại Đồng Nai, giải vô địch trẻ toàn quốc Kickboxing từ ngày 18/7-30/7/2020 tại Nghệ An; Giải vô địch cờ vua trẻ toàn quốc năm 2020 tranh cup vietcombank...đạt 10 huy chương (2HCV, 2HCB, 6HCĐ).
* Lĩnh vực du lịch
Số lượng khách du lịch trong 9 tháng: Tổng khách du lịch đạt 630.900 khách (giảm 64% so với cùng kỳ); Khách quốc tế đạt 54.580 (giảm 81% so với cùng kỳ); Khách nội địa đạt 576.320 (giảm 61% so với cùng kỳ); Doanh thu đạt 296,2 tỷ đồng (giảm 64% so với cùng kỳ).
7.6. Trật tự - An toàn giao thông[15]
Tháng 9, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã xảy ra 6 vụ tai nạn giao thông đường bộ (tăng 1 vụ so với cùng kỳ), làm 7 người chết (tăng 2 người so với cùng kỳ) và 3 người bị thương (tăng 1 người so với cùng kỳ).
Quý III/2020 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã xảy ra 14 vụ tai nạn giao thông đường bộ (giảm 1 vụ so với cùng kỳ), làm 15 người chết (không tăng so với cùng kỳ) và 6 người bị thương (giảm 1 người so với cùng kỳ).
Cộng  dồn 9 tháng năm 2020 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã xảy ra 33 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 6 vụ so với cùng kỳ, hậu quả làm chết 34 người, giảm 7 người so với cùng kỳ năm trước và làm bị thương 13 người giảm 5 người so với cùng kỳ năm trước.
Nguyên nhân chủ yếu gây ra tai nạn giao thông là do ý thức kém của người tham gia giao thông như: uống rượu bia, chạy quá tốc độ, đi sai phần đ­ường, không chú ý quan sát ....
Ban An toàn giao thông phối hợp với các cơ quan chức năng tăng cường công tác tuyên truyền đối với công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đường sắt nội địa. Lực lượng Cảnh sát giao thông, Thanh tra giao thông vận tải tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, phát hiện, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông; không để xảy ra ùn tắc giao thông kéo dài, đặc biệt là trên tuyến quốc lộ 1, 4A, 4B đi qua địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
7.7. Môi trường
Tháng 9, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn không xảy ra cháy nổ và vi phạm về môi trường. Tính chung 9 tháng năm 2020 trên địa bàn tỉnh xảy ra 4 vụ cháy, không có người chết, làm  cho 01 người bị thương, ước tổng thiệt hại khoảng 137 triệu đồng; phát hiện và xử lý 8 vụ vi phạm về môi trường với tổng số tiền xử phạt là 233 triệu đồng.
 
[1] Nguồn: Sở tài chính
[2] Nguồn: Ngân hàng Nhà nước tỉnh
[3] Nguồn: Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh.
[4] Nguồn: Sở Y tế tỉnh.
[5]Các ca bệnh có số ca mắc cao so với cùng kỳ năm 2019: Viêm gan virut A 01 ca (tăng 01 ca); Quai bị 16 ca (tăng 04 ca); Thủy đậu 19 ca (tăng 02 ca); Bệnh viêm đường hô hấp do chủng mới của Virut Corona gây ra 04 ca (tăng 04 ca).
Các ca bệnh có số mắc giảm hoặc tương đương so với cùng kỳ năm 2019: Sởi 0 ca (giảm 03 ca); Tay chân miệng 03 ca (giảm 13 ca); Lao phổi 38 ca (giảm 35 ca);Viêm gan vi rút B 0 ca (giảm 02 ca), Adeno Virut 07 ca (giảm 89 ca); cúm 552 ca (giảm 444 ca); Lỵ Amip 03 ca (tăng 05 ca); Lỵ trực trùng 02 ca (giảm 04 ca); Tiêu chảy 222 ca (giảm 20 ca).
[6]Các ca bệnh có số mắc tăng so với cùng kỳ năm 2019: Lỵ a mip 33 ca (tăng 05 ca); Tiêu chảy 1.800 ca (tăng 41 ca); Viêm gan Virut khác 18 ca (tăng 13 ca). Bệnh viêm đường hô hấp do chủng mới của Virut Corona gây ra: 04 ca (tăng 04 ca).
Các ca bệnh có số mắc giảm hoặc tương đương so với cùng kỳ năm 2019: Rubella 0 ca (giảm 07 ca); Sốt xuất huyết 0 ca (giảm 06 ca); Sởi 02 ca (giảm 59 ca); Tay chân miệng 20 ca (giảm 19 ca); Dại mắc 0 ca (mắc giảm 01, tử vong giảm 01 ca); Ho gà 01 ca (giảm 04 ca); Lao phổi 323 ca (giảm 126 ca); Viêm gan vi rút B 02 ca (mắc giảm 21 ca; tử vong tăng 01); Adeno Virut 130 ca (giảm 62 ca); Cúm 5.425 ca (giảm 897 ca); Lỵ trực trùng 18 ca (giảm 23 ca); Quai bị 110 ca (giảm 39 ca); Thủy đậu 195 ca (giảm 134 ca).
 [7]Trong 9 tháng năm 2019, toàn tỉnh đã thực hiện: Xét nghiệm 9053 lam giám sát, đạt 90,53% kế hoạch năm, không phát hiện ký sinh trùng sốt rét; giám sát dịch tễ được 519 lượt, 534 điểm.
[8] Về biến động dân số: Có 901 trẻ mới sinh, trong đó trẻ nam là 482 trẻ nữ là 419. Trẻ mới sinh là con thứ 3 trở lên là 87 trẻ chiếm 9,7%. Cộng dồn 9 tháng: Có 7.499 trẻ mới sinh, trong đó trẻ nam là 4.018 trẻ nữ là 3.481 (tỷ số giới tính khi sinh 115,4/100). Trẻ mới sinh là con thứ 3 trở lên là 748 trẻ chiếm 9,97%.
[9] Số trẻ dưới 1 tuổi được tiêm đầy đủ các loại vắc xin trong tháng là 1.287/1.176 trẻ (đạt 109,4%); Số trẻ em được tiêm vắc xin phòng bệnh viêm gan B < 24 giờ trong tháng 919/1.152 trẻ (đạt 79,8%). Số phụ nữ có thai tiêm đủ AT2+ trong tháng 740/1.152 người đạt 64,2%. Duy trì kết quả loại trừ uốn ván sơ sinh theo qui mô huyện ≤ 1 trường hợp/số trẻ đẻ sống. Đạt chỉ tiêu kế hoạch giao. Cộng dồn 9  tháng: Tỷ lệ tiêm đầy đủ các loại vắc xin của trẻ dưới 1 tuổi  toàn tỉnh đạt 92,5%; Tỷ lệ trẻ em được tiêm vắc xin phòng bệnh viêm gan B < 24 giờ đạt 84,4%.
[10]Trong tháng, không có vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra trên địa bàn tỉnh. Cộng dồn 9 tháng/2020: Thanh tra, kiểm tra liên ngành trên địa bàn toàn tỉnh: Tổng số 4.242. Số  cơ sở vi phạm: 553/4.242 cơ sở (chiếm 13%); cấp giấy Chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP: 52 cơ sở; tiếp nhận hồ sơ tự công bố sản phẩm: 236 sản phẩm; giám sát mối nguy ô nhiễm thực phẩm: 750 mẫu để test nhanh 1.425 chỉ tiêu. Số mẫu không đạt yêu cầu: 20 mẫu. Tổng số mẫu giám sát định kỳ và công bố: 40 mẫu ( 40 mẫu đều đạt yêu cầu). Tổng số cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực ngành Y tế quản lý được kiểm tra: 2.539/3.174 cơ sở (đạt 80 % kế hoạch giao)
[11]Tổng số bệnh nhân được quản lý, chăm sóc tại cộng đồng là 855/926 ( đạt 92,3% ), trong đó số bệnh nhân hiện đang quản lý và dùng thuốc ARV: 730 bệnh nhân; điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con; Duy trì 10 cơ sở điều trị và 9 điểm cấp phát thuốc thực hiện điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế với tổng số 1.617 bệnh nhân.
[12] Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh.
[13] Lễ hội hoa Đào; chào mừng kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam. Khai mạc Lễ hội Xuân Xứ Lạng, Tuần Văn hóa, Thể thao, Du lịch tỉnh Lạng Sơn năm 2020; các hoạt động kỷ niệm 130 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2020); kỷ niệm 75 cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2/9.
[14] Mừng Đảng, mừng Xuân 2020, Kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt nam (03/02/1930 - 03/02/2020), Lễ hội Hoa Đào Xứ Lạng lần thứ III năm 2020, An toàn thực phẩm, An toàn giao thông đường bộ, Phòng, chống tội phạm và Toàn dân thực hiện Nghị định số 36/2009/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo; Phòng, chống dịch bệnh COVID - 19 trên địa bàn thành phố Lạng Sơn.
[15] Nguồn: Ban An toàn giao thông tỉnh

Tác giả bài viết: Cục Thống kê tỉnh Lạng Sơn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây