Tình hình kinh tế - xã hội tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2020

Thứ ba - 30/06/2020 23:50
Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước tính 6 tháng đầu năm 2020 tăng 0,47% so với cùng kỳ. Trong mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế 6 tháng đầu năm 2020...
Trong 6 tháng đầu năm 2020, đại dịch COVID-19 bùng phát và lan rộng khắp toàn cầu đã khiến bức tranh kinh tế thế giới năm 2020 bị bao phủ bởi nhiều gam màu tối. Trong nước, bên cạnh những thuận lợi từ kết quả tăng trưởng tích cực năm 2019, kinh tế vĩ mô ổn định nhưng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, khó lường làm tăng trưởng ở hầu hết các ngành chậm lại, làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc. Cùng với đó, thời tiết những tháng đầu năm không thuận lợi, dịch tả lợn Châu Phi chưa được khống chế hoàn toàn, đã làm ảnh hưởng đến kết quả sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản.
 
Trước tình hình đó, ngay từ đầu năm Cấp ủy, chính quyền tỉnh Lạng Sơn đã bám sát sự chỉ đạo của Trung ương, chủ động nắm bắt, dự báo tình hình để lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt nhằm cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, huy động tối đa các nguồn lực, tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thực hiện “nhiệm vụ kép”, vừa phòng chống dịch COVID-19 có hiệu quả, vừa phấn đấu hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội, chủ quyền biên giới quốc gia, với mục tiêu hoàn thành cao nhất kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020. Kết quả đạt được của từng ngành, lĩnh vực dự ước tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2020 kết quả đạt được ở một số lĩnh vực như sau:

 1. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)
 1.1. Tăng trưởng kinh tế
 Tổng sản phẩm trên địa bàn[1] (GRDP) ước tính 6 tháng đầu năm 2020 tăng 0,47% so với cùng kỳ. Trong mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế 6 tháng đầu năm 2020, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,27%, đóng góp 0,06 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 0,59%, đóng góp 0,14 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 0,49%, đóng góp 0,24 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 0,60%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm vào mức tăng chung.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: Trong 6 tháng đầu năm 2020 sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của thiên tai (giông lốc, mưa đá), thị trường tiêu thụ một số sản phẩm nông sản gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19. Công tác tái đàn lợn chậm hơn so với dự kiến do giống lợn khan hiếm, giá cao, trong tháng 6 dịch tả lợn Châu Phi xảy ra trên địa bàn toàn tỉnh.
 Khu vực công nghiệp - xây dựng. Trước tình hình dịch COVID-19 cơ bản được kiểm soát, cả nước bước sang giai đoạn vừa phòng, chống dịch bệnh vừa khôi phục và phát triển kinh tế, hoạt động sản xuất công nghiệp và xây dựng đã có tín hiệu tích cực. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 0,59% so với cùng kỳ.
Khu vực dịch vụ: Là khu vực chịu nhiều ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, các quán ăn, cửa hàng kinh doanh dịch vụ hầu như bị đóng cửa trong tháng 3 và tháng 4; hoạt động du lịch cũng hạn chế do việc giãn cách toàn xã hội theo chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 5,74% do Ngân hàng Nhà nước đã kịp thời chỉ đạo các tổ chức tín dụng trên địa bàn tăng cường áp dụng các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 và triển khai các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19. Bên cạnh đó một số gói bảo hiểm được các công ty bảo hiểm mở ra để phục vụ phòng, chống dịch COVID-19 cũng thu hút được nhiều khách hàng. Tuy vậy tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ cũng thấp hơn nhiều so với các năm trước, chỉ tăng 0,49% so với cùng kỳ năm trước.
Thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm: Tăng 0,60%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

1.2. Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu và tốc độ tăng GRDP 6 tháng đầu năm 2020
Khu vực kinh tế Cơ cấu kinh tế (%) Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước (%)
Thực hiện 6 tháng 2019 Ước tính 6 tháng năm 2020 Tăng (+), giảm (-) so với cùng kỳ Thực hiện 6 tháng 2019 Ước tính 6 tháng năm 2020 Đóng góp của mỗi khu vực vào tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2020 (điểm phần trăm)
Tổng số 100,00 100,00   2,91 0,47 0,47
I- NLTS 22,35   23,27 0,92 -8,20 0,27 0,06
II- CN-XD 20,74   21,47 0,73 9,19 0,59 0,14
III- Dịch vụ 51,88   50,23 -1,64 5,28 0,49 0,24
IV- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 5,04      5,03 -0,01 8,73 0,60 0,03
Quy mô GRDP theo giá hiện hành ước tính đạt 15.864 tỷ đồng. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 23,27%; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 21,46%; khu vực dịch vụ chiếm 50,24%; thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm chiếm 5,03%.
        
  2. Tài chính, ngân hàng

  2.1. Tài chính
 Ước thực hiện thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2020 là 2.985 tỷ đồng, đạt 50,9% so với dự toán Trung ương giao, đạt 48,5% so với dự toán tỉnh giao, bằng 89,4% so với cùng kỳ, trong đó: Thu nội địa ước thực hiện là 1.278 tỷ đồng, đạt 51,8% so dự toán Trung ương giao, đạt 46,5% so dự toán tỉnh giao, bằng 82,2% so với cùng kỳ.
 Ước thực hiện tổng chi ngân sách địa phương 6 tháng đầu năm 2020 là 4.663 tỷ đồng, đạt 39,8% dự toán giao, tăng 2,3% so với cùng kỳ, trong đó: Chi cân đối ngân sách địa phương là 3.863 tỷ đồng, đạt 42,4% dự toán, bằng 100,2% so với cùng kỳ; Chi các chương trình mục tiêu, một số chương trình, dự án, nhiệm vụ khác là 800 tỷ đồng, đạt 30,6% dự toán, bằng 113,4% so với cùng kỳ.
 
2.2. Ngân hàng
 Các ngân hàng trên địa bàn chấp hành nghiêm túc các quy định của Nhà nước và pháp luật về hoạt động cho vay; tăng cường huy động vốn, mở rộng đầu tư tín dụng với cơ cấu hợp lý, nguồn vốn huy động và dư nợ của các ngân hàng tăng trưởng tốt đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế; các giải  pháp điều hành tiền tệ và hoạt động ngân hàng tiếp tục được thực hiện có hiệu quả trên địa bàn tỉnh.
Về lãi suất huy động: Lãi suất huy động tiền Việt Nam của các tổ chức tín dụng: đối với tiền gửi không kỳ hạn dưới 1 tháng phổ biến ở mức 0,5%/năm; kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 0,47%/năm; kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng ở mức 5,1-7,2%/năm; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên khoảng 6,0- 7,8%/năm. Lãi suất huy động bằng đồng đô la Mỹ: tối đa đối với cá nhân và tổ chức là 0%/năm theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Về lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay tiền Việt Nam: cho vay ngắn hạn đối với 5 lĩnh vực ưu tiên[2] phổ biến ở mức 5,5%/năm; cho vay ngắn hạn thuộc lĩnh vực không ưu tiên ở mức 6,5- 15,5%/năm; cho vay ngắn hạn khác (tiêu dùng, thấu chi, thẻ tín dụng,…) ở mức 6,6-15%/năm; cho vay trung, dài hạn sản xuất kinh doanh ở mức 8-16,9%/năm; cho vay trung dài hạn khác (tiêu dùng, thấu chi, thẻ tín dụng,…) ở mức 9,5-18%/năm.
Ước thực hiện đến 30/6/2020: Tổng huy động vốn tín dụng đạt 30.380 tỷ đồng, tăng 3,8% so với 31/12/2019. Dư nợ tín dụng ước đạt 31.196 tỷ đồng, giảm 0,2% so với 31/12/2019.

3. Chỉ số giá
3.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
CPI chung toàn tỉnh tháng 6/2020 tăng 1,04% so với tháng trước. Trong đó nhóm hàng có chỉ số tăng, cụ thể:
(1) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,45%, trong đó: Lương thực tăng 0,42%, do chỉ số giá nhóm lương thực tăng chủ yếu ở mặt hàng gạo (tăng 0,38%), mặt hàng lương thực chế biến (tăng 0,83%);  Thực phẩm tăng 2,1%, do Chỉ số giá của các mặt hàng trong nhóm thực phẩm đều biến động so với tháng trước, giá thịt gia súc tươi sống tăng 5,85%, giá thịt lợn hơi tăng dẫn đến giá thịt lợn tăng 2,36% so với tháng trước, đóng góp tăng 0,17 điểm phần trăm vào CPI. Nguyên nhân do ở môt số nơi tại địa phương đang có dấu hiệu bùng phát trở lại của dịch tả lợn Châu Phi.
(2) Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,99%, do chỉ số giá nhóm này tăng ở nhóm nước khoáng và nước có ga tăng 0,98%, nhóm rượu bia tăng 0,45%. Do nhu cầu giải khát của người dân trong ngày hè nắng nóng.
 (3) Nhóm giao thông tăng 5,2%, do tính đến 15 giờ ngày 12/6/2020 giá xăng A95 là 13.986đ/L, giá dầu Diezen là 11.424đ/L, chỉ số nhóm này tăng 13,99% và đóng góp tăng 0,53 điểm phần trăm vào CPI. Giá vé tàu hỏa giảm 2,18%. Các mặt hàng còn lại của nhóm giá ổn định. 
Có 4 nhóm hàng hóa giảm so với tháng trước là: nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD giảm 0,68%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,08%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,34%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,07%. Còn lại nhóm thuốc và dịch vụ y tế, nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giá ổn định.
CPI chung toàn tỉnh tháng 6 tăng 7,38% so với cùng  kỳ năm trước do ảnh hưởng của một số nhóm hàng sau: Nhóm giáo dục tăng 7,61%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 23,05%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,98%; nhóm hàng thiết bị đồ dùng gia đình tăng 0,68%; nhóm đồ uống thuốc lá tăng 2,56%.
CPI bình quân 6 tháng đầu năm tăng 8,23% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 9,66%; quý II tăng 6,82% so với cùng kỳ) do ảnh hưởng của một số nhóm hàng sau: Nhóm giáo dục tăng 7,47%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 21,83%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,00%; nhóm may  mặc, mũ nón, giầy, dép tăng 0,14%; nhóm hàng thiết bị đồ dùng gia đình tăng 1,07%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,11%; nhóm đồ uống thuốc lá tăng 2,05%;

3.2. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng tháng 6 tăng 1,78%% so với tháng trước do trong tháng giá vàng thế giới có nhiều biến động  thị trường vàng trong nước giao dịch điều chỉnh giá tăng, giảm theo giá thị trường; tăng 17,51% so với tháng 12 năm trước và tăng 30,01% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng bình quân 6 tháng đầu năm tăng 26,26% so với bình quân cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6 giảm 0,18% so với tháng trước; tăng 0,39% so với tháng 12 năm trước và giảm 0,27% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số đô la Mỹ bình quân 6 tháng đầu năm tăng 0,76% so với bình quân cùng kỳ năm trước

4. Đầu tư - Xây dựng
Hoạt động đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh cơ bản trở lại trạng thái bình thường khi dịch COVID-19 đã được kiểm soát, các dự án, công trình đang được tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Tuy nhiên, mức đạt thấp hơn so với cùng kỳ, ước thực hiện vốn đầu tư trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2020 đạt 6.056 tỷ đồng, giảm 2,81% so với cùng kỳ năm trước, do ảnh hưởng của dịch COVID-19 về giãn cách xã hội và điều kiện thời tiết, gây khó khăn cho việc đẩy nhanh hoàn thiện các thủ tục khảo sát, thiết kế; các đơn vị thi công bị ảnh hưởng trong việc tập trung nhân lực, vật lực để triển khai, đẩy nhanh tiến độ thi công và với nhiều nguyên nhân khách quan khác đã làm chậm tiến độ thi công các dự án.
Các dự án hoàn thành trước 31/12/2019 (58 dự án) đều được chủ đầu tư thực hiện thủ tục giải ngân theo quy định. Tuy nhiên, còn một số dự án chưa được chủ đầu tư thực hiện giải ngân thanh toán vốn, như: Hệ thống xử lý rác thải và nước thải Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn; cải tạo, sửa chữa Trụ sở Chi cục kiểm lâm tỉnh; cải tạo, mở rộng hệ thống cấp nước thị trấn Thất Khê; Trạm quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường; trường Trung học cơ sở xã Chi Lăng, huyện Tràng Định. Các dự án sử dụng nguồn thu tiền sử dụng đất chưa có nguồn cấp kinh phí do dự toán thu 6 tháng đầu năm chưa đạt kế hoạch nên chưa thể thực hiện thủ tục thanh toán khối lượng hoàn thành.

4.1. Dự ước vốn đầu tư thực hiện quý II năm 2020
Trong quý II tiếp tục triển khai các dự án chuyển tiếp năm 2019, các sở, ngành thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các chương trình, dự án, nhất là các dự án trọng điểm, dự án phải hoàn thành trong năm 2020; công trình xây dựng nông thôn mới…. Chỉ đạo kịp thời xử lý những khó khăn, vướng mắc về vốn, về công tác giải phóng mặt bằng, nhất là đối với một số dự án lớn, dự án đang gặp phải những khó khăn vướng mắc phức tạp, kéo dài, như: Hồ chứa nước Bản Lải; đường đến trung tâm xã Xuân Dương, Ái Quốc, huyện Lộc Bình và xã Thái Bình, huyện Đình Lập; hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố Lạng Sơn và những phát sinh khác đối với từng dự án cụ thể, tạo điều kiện để các chủ đầu tư, nhà thầu triển khai các dự án, công trình được thuận lợi nhất.  
Vốn đầu tư thực hiện quý II năm 2020 ước đạt 3.061 tỷ đồng, giảm 10,15% so với cùng kỳ, cụ thể:
- Vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn thực hiện ước đạt 1.017 tỷ đồng tăng 25,83% so với cùng kỳ.
- Vốn ngoài nhà nước thực hiện ước đạt 2.029 tỷ đồng, giảm 21,84%.
- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện ước đạt 15,6 tỷ đồng tăng 387,31% so với cùng kỳ năm trước.

4.2. Dự ước vốn đầu tư thực hiện 6 tháng đầu năm 2020
Vốn đầu tư thực hiện 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt 6.056 tỷ đồng, giảm 2,81% so với cùng kỳ, cụ thể:
- Vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn thực hiện ước đạt 1.624 tỷ đồng tăng 9,31% so với cùng kỳ.
- Vốn ngoài nhà nước thực hiện ước đạt 4.399 tỷ đồng, giảm 6,45%.
- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện ước đạt 33 tỷ đồng giảm 22,90% so với cùng kỳ năm trước.
* Tiến độ thực hiện một số dự án trên địa bàn tỉnh:
- Dự án Hệ thống thoát nước thải thành phố Lạng Sơn được định kỳ kiểm tra hàng tháng, chủ đầu tư đã tích cực trong việc phối hợp, thực hiện dự án, tuy nhiên tiến độ chưa đạt yêu cầu; công tác lập, trình thẩm định, phê duyệt hồ sơ thiết kế và điều chỉnh dự án một số công trình còn chậm;
- Dự án đường đến trung tâm các xã Xuân Dương, Ái Quốc, huyện Lộc Bình và xã Thái Bình, huyện Đình Lập, tuyến chính cơ bản đã hoàn thành, đang đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện đối với tuyến nhánh Ái Quốc - Lợi Bác (ĐH.35), huyện Lộc Bình và sửa chữa nền, mặt đường đoạn Km0 - Km4+025,32 ĐH.45 (Thị trấn Nông trường Thái Bình - xã Thái Bình), huyện Đình Lập, tăng cường kiểm tra, giám sát, đôn đốc nhà thầu thi công công trình đảm bảo tiến độ theo hợp đồng đã ký kết;
- Dự án đường đến trung tâm xã Tân Yên, nhìn chung tiến độ thực hiện cơ bản đạt yêu cầu, cụ thể là đã hoàn thành 100% khối lượng tuyến chính dài 21,04km từ tháng 12/2019; đối với nhánh rẽ vào trung tâm xã Tân Yên dài  6,54km do phải thực hiện thủ tục đầu tư bổ sung nên hoàn thành chậm hơn tuyến chính, nhưng hiện nay cũng đã hoàn thành 95% khối lượng nền đường và chuẩn bị thi công hạng mục mặt đường. Chủ đầu tư đang đẩy nhanh tiến độ, đảm bảo hoàn thành toàn bộ các hạng mục trên tuyến chính trong tháng 6/2020 và hoàn thành nhánh rẽ vào trung tâm xã Tân Yên chậm nhất đến ngày 15/8/2020, kịp thời gian gắn biển công trình chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVII.
- Dự án cao tốc Chi Lăng - Hữu Nghị được tách từ dự án cao tốc Bắc Giang - Lạng Sơn - Hữu Nghị (dự án thành phần 2). Công trình có tổng mức đầu tư 8.758 tỷ đồng, trong 6 tháng đầu năm ước thực hiện được 180,7 tỷ đồng. trong đó giải phóng mặt bằng là 149,7 tỷ đồng, chiếm 2,06% tổng giá trị 6 tháng đầu năm 2020. Nguyên nhân vốn đầu tư thực hiện 6 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ giảm là do, công tác giải phóng mặt bằng còn vướng mắc; vấn đề tài chính của dự án đang tiếp tục được tháo gỡ giải quyết.
Trong thời gian tới các đơn vị, địa phương, chủ đầu tư, ban quản lý dự án cần tích cực và quyết liệt trong công tác triển khai, thi công, tăng nhanh khối lượng thực hiện, khẩn trương triển khai thực hiện các dự án đầu tư theo kế hoạch vốn đã được giao.

5. Hoạt động của doanh nghiệp
- Đăng ký kinh doanh
Trong 6 tháng đầu năm 2020, có 165 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, với tổng số vốn đăng ký là 1.234 tỷ đồng; 97 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; 54 doanh nghiệp thông báo giải thể.
- Xu hướng sản xuất kinh doanh 6 tháng đầu năm 2020
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên tổng số 38 doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo hỏi về xu hướng kinh doanh. Đánh giá chung về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý II/2020 so với quý trước: Có 18,42% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn; 36,84% số doanh nghiệp đánh giá khó khăn và 44,74% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định. Dự kiến quý III/2020 so với quý II/2020: Có 63,16% số doanh nghiệp cho rằng xu hướng sẽ tốt lên; 5,26% số doanh nghiệp dự báo kém đi và 31,58% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định. Đánh giá 6 tháng cuối năm so với 6 tháng hiện tại: Có 60,53% doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất cao hơn, 50% doanh nghiệp kỳ vọng có số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên.
Do ảnh hưởng của dịch COVID-19, trong những tháng đầu năm 2020 nhìn chung sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo gặp nhiều khó khăn. Để đạt tăng trưởng so với năm trước, dựa theo kết quả điều tra xu hướng có thể thấy rằng phần lớn các doanh nghiệp thuộc ngành chế biến, chế tạo đều kỳ vọng vào kết quả kinh doanh trong 6 tháng cuối năm năm 2020, tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, tạo tăng trưởng và phát triển sản lượng cao hơn so với 6 tháng đầu năm và so với cùng kỳ năm 2019. Ngoài ra, ngành công nghiệp khai khoáng và sản xuất, phân phối điện tiếp tục đạt tăng trưởng thúc đẩy toàn ngành công nghiệp của tỉnh Lạng Sơn tăng trưởng cao hơn so với năm 2019.
 
6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
a. Nông nghiệp
Hiện nay, cây trồng vụ Xuân bắt đầu cho thu hoạch, chủ yếu là cây ngô, thuốc lá, ớt, rau đậu các loại. Riêng cây lúa, huyện Hữu Lũng có diện tích gieo cấy lúa Xuân sớm, bà con nông dân bắt đầu gặt lúa. Đối với diện tích chưa được thu hoạch đang trong giai đoạn sinh trưởng, phát triển người dân tiếp tục tập trung chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh. Kết hợp với làm đất, gieo mạ mùa chuẩn bị cho sản xuất vụ mùa kịp thời vụ và gieo cấy lúa mùa sớm.
Tiến độ sản xuất vụ mùa: làm đất vụ mùa toàn tỉnh đạt 6.692 ha, giảm 3,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó làm bằng máy là 5.229 ha. Gieo mạ vụ mùa 1.361 tấn, gieo cấy lúa mùa sớm 32,5 ha  (huyện Tràng Định: 20,5ha, Văn Quan: 9ha). Diện tích giảm chủ yếu ở huyện Bình Gia, do năm nay nhuận tháng Tư, người dân chưa tiến hành gieo cấy. Cây ngô, diện tích gieo trồng ước đạt 224 ha, giảm 6,7% so với cùng kỳ. Một số cây hằng năm khác cũng bắt đầu gieo trồng như: đậu tương, lạc và rau các loại.
Tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm sơ bộ vụ Đông - Xuân năm 2020 thực hiện được 47.216 ha, tăng 1,3% so với cùng kỳ. Sản lượng lương thực có hạt ước đạt 153 nghìn tấn, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng lúa tăng 0,5%, sản lượng ngô tăng 0,3% so với cùng kỳ).
Tổng đàn trâu: Tổng đàn trâu toàn tỉnh tiếp tục giảm do hiệu quả kinh tế không cao, môi trường chăn thả bị thu hẹp. Ước tính số đầu con có 80.135 con, giảm 8,67%; số con xuất chuồng ước đạt 13.355 con, tăng 4,9% so với cùng kỳ; sản lượng xuất chuồng đạt 3.013 tấn.
Tổng đàn bò: Đàn bò của tỉnh tăng so với cùng kỳ do có thị trường tiêu thụ tốt, giá bán thịt bò hơi ở mức cao, người chăn nuôi có lãi ổn định. Ước tính số đầu con 33.478 con, tăng 0,25% so với cùng kỳ năm trước; số con xuất chuồng đạt 3.973 con tương đương với sản lượng thịt hơi xuất chuồng 737 tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước do thực hiện mô hình chăn nuôi bò năng suất cao theo hướng nhốt chuồng, vỗ béo.
Tổng đàn lợn:. Số con hiện có ước 102 nghìn con, tăng 9,95%  so với cùng kỳ năm trước; chăn nuôi lợn có chiều hướng giảm do giá con giống cao, dịch tả lợn Châu Phi đang có nguy cơ bùng phát trở lại; số con xuất chuồng ước 128.790 con, tương đương sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 10.092 tấn, giảm 41,6% so với cùng kỳ năm trước (do trong quý I/2019 chưa bị ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi).
Tổng đàn gia cầm: Không có dịch bệnh lớn xảy ra, giá cả và thị trường tiêu thụ ổn định. Ước tổng đàn gia cầm hiện có 4.780 nghìn con, tăng 3,17% so với cùng kỳ.
b. Lâm nghiệp
Ước tính 6 tháng đầu năm 2020, diện tích rừng trồng mới đạt 6.104 ha, tăng 2,85%. Trong đó, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 6.032 ha, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước. Nguồn ngân sách trồng cây phân tán giao cho người dân cũng được chuyển một phần sang trồng rừng tập trung.
c. Thủy sản
Diện tích nuôi trồng thủy sản đến nay ước đạt 882 ha, tăng 0,02% so với cùng kỳ; sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 725 tấn, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước. Phong trào nuôi cá lồng trên địa bàn tỉnh vẫn tiếp tục có chiều hướng phát triển, vùng nuôi tập trung như hợp tác xã cá lồng Tân Minh (huyện Văn Quan), hợp tác xã thủy sản Hồng Phong và hợp tác xã Tam Hoa (huyện Bắc Sơn)... Dự ước 6 tháng đầu năm 2020 tổng số lồng nuôi cá: 517 lồng tăng 117 lồng so với cùng kỳ.
Sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 139,62 tấn, tăng 0,85% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng khai thác cá là 92,5 tấn, tăng 0,98% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng chủ yếu là cá các loại do thả cá bổ sung nguồn lợi thủy sản vào một số hồ chứa.
 
7. Sản xuất công nghiệp
Tính chung 6 tháng đầu năm, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì tăng trưởng. Song, do ảnh hưởng của dịch COVID-19 mức tăng thấp so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, giai đoạn từ cuối tháng 3/2020 đến cuối tháng 4/2020, thực hiện chủ trương của Chính phủ về cách ly và giãn cách xã hội, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp giảm đáng kể, chỉ đạt từ 40% - 50% công suất.
Hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp đã đi vào hoạt động ổn định, sản xuất đạt từ 70 - 90% công suất. Kết quả sản xuất ngành công nghiệp dự ước tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2020 như sau:
7.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 6/2020 so với tháng trước:
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 6 tăng 4,81% so với tháng trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,91%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,89%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 6,88%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 3,48%.
Trong công nghiệp khai khoáng, ngành khai thác than cứng và than non (sản phẩm than) tăng 1,90%; khai khoáng khác (sản phẩm đá xây dựng khác) tăng 1,92%. Ngành công nghiệp chế biến chế tạo các ngành công nghiệp cấp 2 chiếm tỷ trọng lớn đều có xu hướng sản xuất tăng so với tháng trước: Chế biến thực phẩm tăng 4,76%; sản xuất, chế biến gỗ dự ước tăng 8,53%; sản xuất sản phẩm khoáng phi kim loại khác tăng 0,65%. các ngành còn lại cũng có xu hướng tăng so với cùng kỳ. Ngành sản xuất và phân phối điện có chỉ số tăng trong đó sản lượng điện sản xuất tăng 6,76% phục vụ nhu cầu sử dụng điện của các cơ sở sản xuất kinh doanh; điện thương phẩm tăng 7,56% so với tháng trước do tháng 6 thời tiết nắng, nóng nên nhu cầu sử dụng thiết bị điện cao, ngoài ra mức năng lượng tiêu thụ điện phụ thuộc vào điều độ của Tổng công ty điện lực Việt Nam. Ngành xử lý và cung cấp nước cung cấp đủ nhu cầu nước sinh hoạt của dân cư so với tháng trước tăng 5,7%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 1,29% so với tháng trước.
7.2. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 6/2020 so với cùng kỳ:
So với cùng kỳ năm trước, sản xuất công nghiệp tháng 6 năm 2020 tăng 4,97%. Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 5,99%; Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,48%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 3,57%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 1,41% so với cùng kỳ.
Trong ngành công nghiệp khai khoáng, hoạt động khai thác than tăng 4,46%; hoạt động khai thác đá tăng 7,69%. Một số sản phẩm sản xuất tăng so với tháng cùng kỳ trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo như: sản xuất gỗ dán tăng gấp 2 lần; gỗ bóc tăng 1,2%; clanker xi măng tăng 2,4%; xi măng Portland đen tăng 3,24%; đá mài tăng 10,28%; sản phẩm in tăng 7,71%; sản xuất đồ uống nước tinh khiết tăng 11,1%...
Ngành công nghiệp điện, sự tăng giảm sản lượng phụ thuộc vào lệnh điều độ sản xuất của Tổng Công ty Điện lực. Sản lượng điện sản xuất tháng 6/2020 tăng 4,03%; điện thương phẩm tăng 0,43% so với cùng kỳ.
So với cùng kỳ năm trước, ngành khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 0,6%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 3,25% so với cùng kỳ.
7.3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ:
6 tháng đầu năm chỉ số sản xuất chung ngành công nghiệp tăng 2,83% so với cùng kỳ. Ngành công nghiệp khai thác tăng 3,67%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 1,17%, trong đó hầu hết ngành công nghiệp cấp 2 đều có xu hướng giảm so với cùng kỳ; trừ một số sản phẩm thiết yếu cung ứng, phục nhu cầu trong dân cư như: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 4,85%; sản xuất đồ uống tăng 16,60%, dệt tăng 5,63%; in, sao chép bản ghi tăng 3,13%, sản xuất nội thất tăng 4,51%. Ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 6,56%; Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 4,68% (hoạt động khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 5,11%, hoạt động thu gom rác thải tăng 4,72% so với cùng kỳ năm trước).
7.4. Chỉ số tiêu thụ, tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:
Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 6/2020 tăng 14,81% so với tháng trước. Trong đó, chế biến thực phẩm tăng 40,44%; chế biến gỗ tăng 7,65%; sản xuất máy bơm nước tăng 7,64%. Cộng dồn 6 tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến chế tạo dự ước giảm 9,22%, trong đó chỉ có 3 ngành cấp 2 đạt tăng trưởng trong tiêu thụ gồm: sản xuất nước uống; in, sao chép bản ghi và sản xuất máy bơm. Ngoài ra, các sản phẩm khác tiêu thụ đều giảm so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng của dịch bệnh trong những tháng đầu năm, khiến số lượng đơn đặt hàng sản phẩm giảm, một phẩn do thị trường tiêu thụ trong nước chưa được mở rộng, các sản phẩm công nghiệp trên địa bàn ít hoặc chưa có thị trường xuất khẩu do đó tiêu thụ cũng ảnh hưởng giảm.
Chỉ số tồn kho ngành chế biến chế tạo tháng 6/2020 nhìn chung giảm so với tháng trước (giảm 8,87%), giảm so với cùng kỳ (giảm 0,16% so với tháng 6/2019) doảnh hưởng của dịch bệnh. Hiện nay, các doanh nghiệp trên địa bàn vẫn còn khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị trường đầu ra. Do đó, các ngành, các cấp các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh cần có những định hướng, chính sách giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, từ đó tăng gia sản xuất nâng cao năng suất lao động. Cùng với đó, cần có sự hỗ trợ của các ngành chức năng, các huyện, thành phố tích cực tìm biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp giải phóng hàng tồn kho, đẩy mạnh tuyên truyền và hưởng ứng mạnh mẽ cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, tập trung cải cách thủ tục hành chính trên các lĩnh vực… 
7.5. Chỉ số sử dụng lao động:
Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 6/2020 tăng 1,58% so với tháng trước và tăng 0,35% so với cùng kỳ. Trong đó, so với cùng kỳ ngành khai khoáng chỉ số sử dụng lao động giảm 3,63%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,65% chủ yếu tăng ở lao động khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Công ty Cổ phần Kim Loại Màu Bắc Bộ tăng 35% lao động để đảm bảo sản xuất); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 2,45%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,18%. Bình quân 6 tháng đầu năm 2020, chỉ số sử dụng lao động giảm 1,48% so với cùng kỳ năm trước.
 
8. Thương mại, dịch vụ
8.1. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh tháng 6/2020 ước đạt 1653 tỷ đồng, tăng 10,55% so với tháng trước và tăng 0,74% so với cùng kỳ. Trong đó: Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 6/2020 ước đạt 1.447 tỷ đồng, tăng 7,29 % so với tháng trước và giảm 0,83% so với cùng kỳ. Cụ thể: Nhóm lương thực, thực phẩm tăng 6,25% so với tháng trước và giảm 4,41% so với cùng kỳ; hàng may mặc tăng 4,94% so với tháng trước và tăng 2,03% so với cùng kỳ; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 9,78% so với tháng trước và tăng 18,63% so với cùng kỳ; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 10,06% so với tháng trước và giảm 10,52% so với cùng kỳ; ô tô các loại tăng 1,09% so với tháng trước và tăng 5,95% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 6/2020 ước đạt 172 tỷ đồng, tăng 49,29% so với tháng trước và tăng 16,86% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ khác ước tăng 8,32% so với tháng trước và giảm 1,83% so với cùng kỳ.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý II/2020 ước đạt 4.427 tỷ đồng, giảm 9,55% so với quý trước và giảm 11,47% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Tổng mức bán lẻ hàng hóa quý II/2020 ước đạt 3.977 tỷ đồng, giảm 10,74% so với cùng kỳ (quý I giảm 4,99%, so với quý cùng kỳ). Một số nhóm hàng có mức giảm cao so với cùng kỳ như: hàng lương thực, thực phẩm giảm 12,19%; hàng may mặc giảm 10,57%; xăng dầu các loại giảm 27,16%; nhóm hàng hóa khác giảm 12,62%; gỗ và vật liệu xây dựng giảm 15,07%;.... Nhóm hàng hóa tăng, gồm: Đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 0,85%; Ô tô các loại tăng 0,89%; Nhiên liệu khác (Trừ xăng, dầu) tăng 0,97%; Đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 1,83%; Sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và xe có động cơ tăng 9,77%.
Doanh thu lưu trú và dịch vụ ăn uống quý II/2020 ước đạt 354 tỷ đồng giảm 18,25% so với cùng kỳ (quý I giảm 14,61 so với quý cùng kỳ) là do ảnh hưởng của dịch COVID-19 nên lượng khách đi du lịch trong nước và nước ngoài trên địa bàn tỉnh giảm mạnh trong các dịp ngày nghỉ lễ so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ khác quý II/2020 ước đạt 93 tỷ đồng, giảm 14,27% so với cùng kỳ.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt 9.316 tỷ đồng, giảm 8,64% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 8374 tỷ đồng, giảm 7,81% so với cùng kỳ; dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 732 tỷ đồng, giảm 16,94% so với cùng kỳ; du lịch lữ hành ước đạt 5 tỷ đồng, giảm 18,68% so với cùng kỳ; dịch vụ khác ước đạt 205 tỷ đồng, giảm 9,03% so với cùng kỳ.
8.2. Vận tải hành khách và hàng hóa
Hoạt động vận tải có dấu hiệu phục hồi sau khi Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo giảm giãn cách xã hội. Tính chung 6 tháng đầu năm, lượng hành khách vận chuyển giảm 39,9% và hàng hóa vận chuyển giảm 24,32% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu toàn ngành vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải của tỉnh quý II/2020 có tốc độ tăng cao hơn so quý I/2020 nhưng vẫn giảm 5,97% so với quý II/2019. Dự ước, doanh thu toàn ngành vận tải quý II/2020 đạt 364 tỷ đồng, 4,46% so với cùng kỳ. Dự ước 6 tháng đầu năm, doanh thu toàn ngành vận tải ước đạt 676 tỷ đồng, giảm 9,02% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể:
- Dự ước quý II/2020:
Vận tải hành khách: doanh thu đạt 47,7 tỷ đồng, khối lượng vận chuyển đạt 1.297 nghìn khách; khối lượng luân chuyển đạt 57.512 nghìn khách.km. So với cùng kỳ năm trước doanh thu giảm 48,58%, khối lượng hành khách vận chuyển giảm 41,49%, khối lượng hành khách luân chuyển giảm 48,79%; so với quý trước: doanh thu giảm 28,35%, khối lượng hành khách vận chuyển giảm 19,03%, khối lượng hành khách luân chuyển giảm 28,37%.
Vận tải hàng hóa: doanh thu đạt 229,8 tỷ đồng, khối lượng vận chuyển đạt 1.004 nghìn tấn; khối lượng luân chuyển đạt 134821 nghìn tấn.km. So với cùng kỳ năm trước doanh thu tăng 8,48%, khối lượng hàng hóa vận chuyển giảm 35,4%, khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng 14,86%; so với quý trước: doanh thu tăng 32,8%, khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng 14,59%, khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng 49,05%.
Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải: doanh thu đạt 85,63 tỷ đồng tăng 4,44% so với cùng kỳ năm trước và tăng 18,36% so với quý trước.
Hoạt động bưu chính chuyển phát: doanh thu đạt 700 triệu đồng tăng 97,82 % so với cùng kỳ năm trước và tăng 118,84% so với quý trước.
- Dự ước 6 tháng đầu năm 2020:
Vận tải hành khách: doanh thu đạt 114 tỷ đồng, khối lượng vận chuyển đạt 2.899 nghìn khách; khối lượng luân chuyển đạt 137.800 nghìn khách.km. So với cùng kỳ năm trước doanh thu giảm 40,56%, khối lượng hành khách vận chuyển giảm 39,9%, khối lượng hành khách luân chuyển giảm 43,07%.
Vận tải hàng hóa: doanh thu đạt 403 tỷ đồng, khối lượng vận chuyển đạt 1.881nghìn tấn; khối lượng luân chuyển đạt 225.272 nghìn tấn.km. So với cùng kỳ năm trước doanh thu tăng 4,55%, khối lượng hàng hóa vận chuyển giảm 24,32%, khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng 5,76%.
Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải: doanh thu đạt 159 tỷ đồng giảm 4,1% so với cùng kỳ năm trước.
Hoạt động bưu chính chuyển phát: doanh thu đạt 1tỷ đồng tăng 116,62 % so với cùng kỳ năm trước.

9. Các vấn đề xã hội
9.1. Đời sống dân cư
Trong 6 tháng đầu năm 2020, đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn cơ bản ổn định không có biến động lớn, giá cả một số mặt hàng được bình ổn, cung ứng đầy đủ nguồn hàng chính sách và các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu. Trong dịp Tết Nguyên đán, lãnh đạo cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp trên địa bàn tỉnh đã tổ chức thăm, chúc Tết các tập thể, đơn vị, gia đình chính sách, người có công với cách mạng. Các cấp, các ngành của tỉnh, các tổ chức, cá nhân hảo tâm đã tổ chức nhiều đoàn thăm hỏi, tặng quà cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo đảm bảo công tác an sinh xã hội trên địa bàn.
Chính sách bảo đảm an sinh xã hội thường xuyên được quan tâm, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách đối với người có công, hộ nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội; chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững được thực hiện đồng bộ gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới; chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế được thực hiện đầy đủ. Các chính sách về dân tộc, tôn giáo được thực hiện kịp thời, đúng quy định; đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc từng bước được cải thiện, không để phát sinh những vấn đề “nổi cộm” về tôn giáo.
9.2. Tình trạng việc làm[3]
Trong 6 tháng đầu năm ước tạo việc làm mới cho 5.100 người, ước đạt 36,4% so với kế hoạch, Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm cho vay vốn là 151,4 tỷ đồng với 106 dự án.
Hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện đúng quy định về tuyển dụng lao động nước ngoài, có phương án thay thế người nước ngoài trong thời gian bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19. Chấp thuận nhu cầu sử dụng 24 lao động nước ngoài của 07 doanh nghiệp; cấp 02 giấy phép lao động và cấp lại 06 giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc tại 05 doanh nghiệp, đơn vị.
          Trung tâm Dịch vụ việc làm: Tư vấn việc làm, học nghề, chính sách pháp luật lao động cho trên 6.965 người, số người được giới thiệu việc làm là 650 người, tổ chức 32 phiên giao dịch việc làm. Số người nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiêp: 1.860 người; Số người có quyết định hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiêp: 1.276 người; Số kinh phí chi trả hơn 11,4 tỷ đồng. Công tác tuyển sinh và đào tạo được 5.092 người đạt 38% so với kế hoạch, trong đó: Cao đẳng 266 người; Trung cấp 1.748 người; Sơ cấp và đào tạo thường xuyên 3.078 người. Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh đạt 53,45%.
9.3. Giáo dục[4]
Việc nghỉ học của học sinh, sinh viên do dịch COVID-19 đã ảnh hưởng nhất định đến chất lượng dạy và học, kéo dài thời gian kết thúc năm học. Để đảm bảo khi học sinh quay trở lại học tại trường, Ngành giáo dục đã tập trung triển khai nhiều giải pháp để đảm bảo chất lượng học tập cho học sinh.
Toàn tỉnh hiện duy trì 693 đơn vị trường học. Tổng số trẻ/học sinh/sinh viên 198.337. Tổng số cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên toàn ngành 20.874 người, trong đó: Cán bộ quản lí  1835, giáo viên 14.782 và nhân viên 4.257.
Huy động trẻ vào học lớp 1 đạt 99,9%. Tuyển sinh lớp 6 đạt 99,9% số học sinh hoàn thành chương trình tiểu học. Tuyển sinh lớp 10 đạt 88,5% số tốt nghiệp Trung học cơ sở, trong đó 72,5% trúng tuyển các trường Trung học phổ thông công lập, 20,5% vào học giáo dục thường xuyên. Tuyển sinh trường Cao đẳng Sư phạm được 09 lớp trình độ cao đẳng (271 sinh viên), 01 lớp cao đẳng liên thông (60 học viên).
Rà soát, sắp xếp các phòng chuyên môn thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo theo hướng tinh gọn, hiệu quả; phối hợp với Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố chỉ đạo sắp xếp trường, điểm trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, phù hợp với việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã cơ bản ổn định từ năm học 2020 - 2021.
Chuẩn bị tốt các điều kiện thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới, triển khai chương trình, sách giáo khoa lớp 1. Hoàn thành biên soạn Chương trình giáo dục địa phương cấp tiểu học, trung học cơ sở. Tổ chức tốt kỳ thi Trung học phổ thông quốc gia, phấn đấu tỷ lệ tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2020 đạt trên 92%, nâng phổ điểm môn Tiếng Anh, môn Toán lên 0,2% so với năm 2019.
Nâng cấp đồng bộ các phòng họp trực tuyến của ngành trong năm 2020; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý giáo dục và đào tạo[5].
Ngành giáo dục đã tổ chức tham gia kỳ thi chọn học sinh giỏi lớp 12 cấp tỉnh và kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia Trung học phổ thông năm học 2019 -2020 nghiên túc, đúng quy chế, đúng kế hoạch[6]. Tổ chức kỳ thi học sinh giỏi lớp 9- 11 cấp tỉnh năm học 2019 - 2020[7]
Ban hành các văn bản hướng dẫn thi học kì II đối với các cấp học trong đó hướng dẫn, quy định cụ thể về môn thi, hình thức thi, quy trình tổ chức thi làm căn cứ để các nhà trường tổ chức ôn tập và tổ chức thi theo kế hoạch.
9.4. Y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng[8]
Trong tháng 6, Sở Y tế chỉ đạo toàn ngành tiếp tục bảo đảm duy trì thực hiện các biện pháp chống dịch COVID-19 hiệu quả. Công tác phòng, chống dịch COVID-19 từ khu vực cửa khẩu biên giới đến nội địa: Đẩy mạnh tuyên truyền, nắm chắc thông tin, hướng dẫn cộng đồng thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe; chỉ đạo các đơn vị, cơ sở y tế thực hiện nghiêm các quy trình chuyên môn, kỹ thuật, giám sát phòng, chống dịch; có phương án tiếp nhận, cách ly điều trị bệnh nhân; chế độ thông tin, báo cáo dịch; đảm bảo tối đa về thuốc, trang thiết bị và vật tư y tế cho công tác phòng chống dịch COVID-19.      Kết quả thực hiện:
Duy trì công tác truyền thông qua các hoạt động tư vấn Khám sức khỏe, thăm hộ gia đình về phòng chống dịch COVID-19.
Tại khu vực cửa khẩu: duy trì thực hiện tờ khai y tế bắt buộc, và tờ khai y tế điện tử, kiểm tra thân nhiệt 100% khách xuất nhập cảnh, tuyên truyền hướng dẫn thực hiện cách ly theo quy định đối với các trường hợp cách ly tại khu cách ly của tỉnh và cách ly tại khách sạn. Tiến hành phun khử khuẩn diện rộng hàng ngày tại các cửa khẩu, các khu vực làm việc, bến bãi được 41 lần. Thực hiện Quy trình kiểm dịch người và phương tiện qua cửa khẩu đảm bảo vừa lưu thông hàng hóa vừa đúng quy trình phòng dịch bệnh COVID-19 theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Kiểm tra, giám sát 38.348  lượt người nhập cảnh và 35.190 lượt người xuất cảnh. Kiểm tra, giám sát và phun khử khuẩn 25.684 lượt ô tô xuất, nhập cảnh. Kiểm tra, giám sát 794 toa tàu hàng xuất/ nhập cảnh. Thu phí kiểm dịch trong tháng hơn 1,995 tỷ đồng. Cộng dồn 6 tháng: kiểm tra, giám sát cho 429.996 lượt người nhập cảnh và 436.929 lượt người xuất cảnh. Kiểm tra, giám sát 138.236 lượt ô tô xuất/nhập cảnh. Kiểm tra, giám sát 2.689  lượt toa tàu xuất/ nhập cảnh. Thu phí kiểm dịch trong 6 tháng hơn 9,543 tỷ đồng.
Tại nội địa (tính đến ngày 15/6/2020):
- Tại các khu cách ly của tỉnh: Cách ly 100% người từ vùng có dịch COVID-19 về; tổng số được cách ly tại 03 khu cách ly của tỉnh là 6.524 người (trong đó đã hoàn thành cách ly đủ 14 ngày là 5.891 người, hiện còn 633 người).
- Tại các cơ sở y tế trong tỉnh: Cách ly là 405 người (trong đó đã hoàn thành cách ly đủ 14 ngày là 374 người, hiện còn cách ly 31 người).
- Đã triển khai xét nghiệm sàng lọc COVID-19tại tỉnh Lạng Sơn từ ngày 3/4/2020 bằng xét nghiệm sinh học phân tử (Real-time PCR). Lấy mẫu xét nghiệm sàng lọc COVID-19 là 6.224 mẫu (5.969 mẫu kết quả âm tính, 255 mẫu đang đợi kết quả). Thực hiện xét nghiệm cho lái xe trong tháng 6/2020 là 0 mẫu, cộng dồn là 803 mẫu, 100% âm tính.
- Tại các trường học: Tổ chức phun tiêu độc khử trùng tại 100% các trường học trên địa bàn tỉnh. Tổ chức 02 lớp tập huấn về công tác y tế trường học, phòng chống dịch COVID-19 cho cán bộ ngành giáo dục, nhân viên y tế trường học của các trường trên địa bàn tỉnh, tổng 150 người tham dự.
- Số lượt kiểm tra tại 07 chốt kiểm dịch y tế liên ngành do tỉnh tổ chức:  Phương tiện được kiểm tra 114.277 lượt; người được kiểm tra y tế 191.913 lượt.
- Tại cộng đồng: Rà soát, cách ly, quản lý những người tiếp xúc gần từ các ổ dịch trong nước: Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội là 654 người Lạng Sơn; công ty Trách nhiệm hữu hạn Samsung Display Việt Nam tại tỉnh Bắc Ninh 44 người. Thực hiện theo dõi y tế đối với các trường hợp về từ vùng dịch là 14.786 người hiện đã qua 14 ngày.
Tiếp nhận tài trợ và chuẩn bị nhiều vật tư phục vụ cho công tác phòng, chống dịch COVID-19.
Thực hiện tốt công tác phòng, chống các loại dịch bệnh trên địa bàn tỉnh. Trong tháng không có dịch bệnh lớn xảy ra trên địa bàn tỉnh. Không có tử vong do mắc bệnh truyền nhiễm. Bệnh truyền nhiễm được kiểm soát tốt. Cụ thể bệnh truyền nhiễm trên địa bàn tỉnh trong tháng một số loại bệnh có số ca mắc tăng, cũng có những bệnh có số ca mắc giảm so với cùng kỳ năm 2019[9].
Cộng dồn 6 tháng đầu năm: Bệnh truyền nhiễm trên địa bàn tỉnh được kiểm soát tốt, không có dịch lớn xảy ra, một số loại bệnh có số ca mắc tăng, cũng có những bệnh có số ca mắc giảm so với cùng kỳ năm 2019.[10]
Công tác khám chữa bệnh được triển khai thực hiện đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân. Các cơ sở khám, điều trị bệnh công lập và ngoài công lập thực hiện tốt chức năng chuyên môn, không sai sót, không xảy ra tai biến trong khám, điều trị bệnh[11].
Đẩy mạnh hoạt động của các chương trình mục tiêu quốc gia và các dự án: Tăng cường đảm bảo công tác an toàn thực phẩm, phòng chống ngộ độc thực phẩm[12]; công tác Dân số Kế hoạch hóa gia đình[13]; phòng chống HIV/AIDS[14]; dự án Tiêm chủng mở rộng[15]; …. 
9.5. Văn hoá,  thông tin, thể dục thể thao[16]
 Thực hiện chỉ đạo về công tác phòng, chống dịch COVID-19, trên địa bàn toàn tỉnh đã nghiêm túc thực hiện việc dừng các lễ hội có số lượng lớn người dân và du khách tham gia cũng như các hoạt động văn hóa, văn nghệ, lễ kỷ niệm, ngày truyền thống, các chương trình vui chơi, giải trí tập trung đông người. Hoạt động văn hóa, nghệ thuật 6 tháng đầu năm tập trung vào chào mừng các ngày Lễ lớn, các sự kiện trọng đại của đất nước, của tỉnh.
9.6. Môi trường
Trong tháng 6, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 01 vụ cháy[17] giá trị thiệt hại ước tính khoảng 80 triệu đồng; không có vi phạm môi trường. Lũy kế 6 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy, không có người chết, có 01 người bị thương, ước tổng thiệt hại khoảng 137 triệu đồng; phát hiện và xử lý 07 vụ vi phạm về môi trường với tổng số tiền xử phạt là 227 triệu đồng.
9.7. Trật tự - An toàn giao thông[18]. 
Ban an toàn giao thông phối hợp với các cơ quan chức năng tăng vường công tác tuyên truyền. Lực lượng cảnh sát giao thông, Thanh tra giao thông vận tải tăng cường, tập trung kiểm tra các phương tiện vận tải, xe quả tải trọng xử lý vi phạm trên các tuyến quốc lộ và các bến xe, đặc biệt là tuyến quốc lộ 1 đi qua địa bàn tỉnh.
Trong tháng 6, đã xảy ra 3 vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng làm 3 người chết. Như vậy, 6 tháng đầu năm 2020 (số liệu từ 16/12/2019đến 15/6/2020) trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã xảy ra 19 vụ tai  nạn giao thông (giảm 05 vụ so với cùng kỳ) hậu quả làm chết 19 người (giảm 07 người so với cùng kỳ) và bị thương 07 người (giảm 04 người so với cùng kỳ). Nguyên nhân chủ yếu là do người điều khiển phương tiện giao thông sử dụng chất kích thích, ý thức chấp hành luật giao thông kém, không làm chủ được tốc độ...
 
9.8. Thiệt hại do thiên tai
Trong tháng 6/2020 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã xảy ra giông lốc, sét và mưa đá tại huyện Tràng Định, Bình Gia, Hữu Lũng gây thiệt hại nặng nề về nhà cửa và hoa màu. Ước tính thiệt hại như sau:
- Thiệt hại về nông, lâm, diêm nghiệp ước giá trị thiệt hại là 10,3 tỷ đồng, cụ thể:
- Thiệt hại về công nghiệp: 250 triệu đồng.
- Thiệt hại về người: không có thiệt hại.
- Về nhà cửa: 3.614 nhà, ước tính thiệt hại 2,4 tỷ đồng.
Ước tổng thiệt hại trên địa bàn tỉnh trên 12,9 tỷ đồng.
6 tháng đầu năm 2020, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn xảy ra hiện tượng sương muối, sương mù, rét hại và giông lốc, sét, mưa đá. Ước tính tổng thiệt hại trên 62 tỷ đồng.
Khái quát lại, trong bối cảnh dịch Covid-19 bùng phát mạnh mẽ, diễn biến phức tạp trên toàn cầu, kinh tế - xã hội của tỉnh duy trì được ổn định là nhờ sự chỉ đạo, điều hành kịp thời, quyết liệt của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh và nỗ lực của các cấp, các ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân tỉnh Lạng Sơn. Kinh tế 6 tháng đầu năm nay tuy chỉ đạt mức tăng trưởng 0,47%, thấp so cùng kỳ năm trước nhưng trong bối cảnh hiện nay, đây là mức tăng trưởng khá. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu và dịch bệnh nhưng duy trì được mức tăng trưởng dương. Thị trường và giá cả được kiểm soát, cung cầu hàng hóa được bảo đảm. Tuy nhiên, bước sang quý III, kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức, chịu tác động đan xen nhiều mặt bởi tình hình kinh tế quốc tế ngày càng phức tạp, khó lường. Dịch COVID-19 đang diễn biến rất nhanh, khó dự báo, có nguy cơ ảnh hưởng nặng nề đến tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Các ngành thương mại, du lịch, vận tải và xuất nhập khẩu gặp nhiều khó khăn do chịu tác động trực tiếp của dịch bệnh. Áp lực kiểm soát lạm phát, tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm tăng cao sẽ ảnh hưởng đến an sinh xã hội. Do đó, kinh tế tỉnh Lạng Sơn năm 2020 đối mặt với nhiều khó khăn, việc đạt mục tiêu tăng trưởng trên 8% là thách thức lớn, cần có sự chung sức, đồng lòng của Cấp ủy, chính quyền các cấp, doanh nghiệp và người dân.
 
10. Đề xuất giải pháp
Dịch COVID-19 tuy đã cơ bản được khống chế ở Việt Nam nhưng còn diễn biến phức tạp trên thế giới. Lạng Sơn có đường biên giới tiếp giáp với Trung quốc, vì vậy các ngành thương mại, du lịch, vận tải và xuất nhập khẩu tiếp tục gặp khó khăn do chịu tác động trực tiếp của dịch bệnh, doanh nghiệp đứng trước nguy cơ thiếu nguyên liệu sản xuất, thu hẹp quy mô và tạm dừng hoạt động. Áp lực kiểm soát lạm phát, tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm tăng cao sẽ ảnh hưởng đến an sinh xã hội. Do đó, cần tiếp tục thực hiện quyết liệt các giải pháp phòng, chống dịch COVID-19, không để dịch lây lan, bảo đảm an toàn sức khỏe cho người dân.
Để hoàn thành cao nhất mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2020, trong những tháng cuối năm 2020 các cấp, các ngành tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, đồng thời khắc phục những khó khăn, thách thức phía trước để có các giải pháp khắc phục, trong đó tập trung vào những nội dung chủ yếu sau:
Một là, triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch tả lợn Châu Phi, không để phát sinh ổ dịch mới, để người chăn nuôi yên tâm tái đàn phục vụ nhu cầu tiêu dùng và giảm giá thịt lợn góp phần kiểm soát lạm phát; thực hiện các giải pháp kiểm soát dịch bệnh ở gia súc, gia cầm, ổn định sản xuất. Khuyến khích đầu tư các vùng trồng cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm, trồng và chăm sóc theo quy trình kỹ thuật đem lại hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo truy xuất nguồn gốc phục vụ nguồn cung nông sản xuất khẩu.
Hai là, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công kế hoạch năm 2020, tập trung xử lý các điểm nghẽn, nút thắt về đất đai, thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn cho các dự án đặc biệt là các dự án trọng điểm, quy mô lớn, có sức lan tỏa nhằm thực hiện đột phá chiến lược về kết cấu hạ tầng, nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế như dự án: Cao tốc Bắc Giang – Lạng Sơn đoạn Chi Lăng – Hữu Nghị, dự án khu du lịch Mẫu Sơn ...
Ba là, tập trung thực hiện các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển trong bối cảnh dịch COVID-19, thực hiện cải cách môi trường đầu tư, sản xuất kinh doanh và tiếp tục kiến tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển. Tiếp tục cải cách quy trình, thủ tục để doanh nghiệp tiếp cận các chính sách hỗ trợ đơn giản, thuận tiện, kịp thời. Đồng thời, vận động người dân ưu tiên dùng hàng trong nước, ủng hộ doanh nghiệp sản xuất, tiêu thụ sản phẩm trong giai đoạn khó khăn.
Bốn là, tăng cường xúc tiến, quảng bá du lịch, có chính sách thu hút hiệu quả khách du lịch; Quản lý, kiểm soát chặt chẽ chất lượng kinh doanh dịch vụ du lịch, lưu trú; Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu cho sản phẩm nông sản.
Năm là, theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết, chủ động phương án phòng chống thiên tai, cảnh báo mưa lũ, sạt lở nhằm hạn chế tối đa thiệt hại. Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, lao động, việc làm. Thực hiện tốt công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống. Tăng cường công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ./.
 
 
 
CỤC THỐNG KÊ TỈNH LẠNG SƠN

[1]Số liệu do Tổng cục Thống kê công bố ngày 30/5/2020, thực hiện theo Quyết định số 715/QĐ-TTg ngày 22/5/2015 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt Đề án đổi mới quy trình biên soạn số liệu Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
[2]Gồm: Nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, hỗ trợ doanh nghiệp vừa nhỏ, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
[3] Nguồn: Sở Lao động, Thương binh và xã hội tỉnh.
[4]  Nguồn: Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh.
[5] Tổ chức khảo sát lắp đặt phòng họp trực tuyến tại 03 trường PTDTNT liên cấp THCS&THPT (Lộc Bình, Tràng Định, Bình Gia) và hoàn thành việc triển khai nâng cấp phòng họp trực tuyến tại phòng họp của Sở GDĐT đưa vào khai thác, sử dụng từ giữa tháng 3/2020. Triển khai xây dựng Cổng thông tin điện tử ngành GDĐT Lạng Sơn.
[6] Kết quả kỳ thi chọn HSG các môn văn hóa lớp 12 cấp tỉnh năm học 2019 - 2020: tổng số ĐKDT 1227, dự thi 1225, đạt giải 562, trong đó: giải Nhất 9 (1.6%), giải Nhì 44 (7.8%) giải Ba 150 (26.7%), giải Khuyến khích 359 (63.9%). Tổ chức thành công kỳ thi HSG quốc gia năm học 2019 - 2020 với sự tham gia của 54 thí sinh thuộc 9 môn văn hóa. Kết quả: số học sinh đạt giải: 11/54 (20.4 %), trong đó có 01 giải Nhì, 02 giải Ba, 08 giải Khuyến khích.
[7] Lớp 9 cấp tỉnh có 557 học sinh tham gia (số đạt giải 253 đạt 45,4% trong đó giải nhất 04 (1,6%); giải nhì 25 (9.9%); giải ba 73 (28,9%); giải KK 151 (59,7%). . Lớp 11 cấp tỉnh có 1335  học sinh tham gia (số đạt giải 630 đạt 47,2% trong đó giải nhất 00 (0,8%); giải nhì 47 (7,5%); giải ba 146 (23,2%); giải KK 432 (68,6%).
[8] Nguồn: Sở Y tế tỉnh.
[9] Các ca bệnh có số ca mắc cao so với cùng kỳ năm 2019: Adeno Virut 24 ca (tăng 15 ca); Lỵ amip 04 ca (tăng 02 ca). Các ca bệnh có số mắc giảm hoặc tương đương so với cùng kỳ năm 2019:Cúm 743 ca (giảm 109 ca); Lao phổi 19 ca (giảm 33 ca); Lỵ trực trùng 02 ca (giảm 10 ca); Quai bị 06 ca (giảm 33 ca); Sởi 0 ca (giảm 15 ca); Sốt xuất huyết 0 ca (giảm 02 ca); Tay chân miệng 0 ca (giảm 06 ca); Thủy đậu 10 ca (giảm 41 ca); Tiêu chảy 212 (giảm 41 ca); Viêm gan Virut B 01 ca (giảm 01 ca), Viêm gan virut C: 0 ca ( giảm 01 ca), Viêm não Nhật Bản 0 ca (giảm 01 ca).
[10] Cộng dồn 6 tháng: Các bệnh có số ca mắc cao so với cùng kỳ năm 2019: Adeno virut 102 ca (tăng 48 ca); Lỵ a mip 16 ca (tăng 03 ca); Tiêu chảy 1104 ca (tăng 28 ca); Viêm gan Virut khác 18 ca (tăng 15 ca); Viêm gan B tử vong tăng 01 ca (2019 không có ca tử vong do Viêm gan B). Các ca bệnh có số mắc giảm hoặc tương đương so với cùng kỳ năm 2019:Cúm 3485 ca (giảm 334 ca);Ho gà 01 ca (giảm 04 ca); Lao phổi 174 ca (giảm 99 ca); Lỵ trực trùng 11 ca (giảm 12 ca); Quai bị 22 ca (giảm 75 ca); Rubella 0 ca (giảm 07 ca); Sởi 02 ca (giảm 39 ca); Sốt xuất huyết 0 ca (giảm 02 ca); Tay chân miệng 04 ca ( giảm 11 ca); Thủy đậu 114 ca ( giảm 116 ca); Viêm gan vi rút B 02 ca (Mắc giảm 06 ca; tử vong tăng 01); Viêm gan vi rút C 0 ca (gảm 03 ca); Viêm não Nhật Bản B 0 ca ( giảm 01 ca).  Có 01 ca tử vong do bệnh truyền nhiễm. (Bệnh nhân 70 tuổi, điều trị Xơ gan, viêm gan virut B tại Bệnh viện Bạch Mai, tử vong ngày 06/4/2020).
[11] Kết quả khám và điều trị Y tế công lập cả 3 tuyến trong tháng: Khám: 126.100 lượt người; điều trị nội trú và lưu trú: 11.091 lượt bệnh nhân; điều trị ngoại trú: 10.626 lượt bệnh nhân. Cộng dồn 6 tháng: Khám: 593.150 lượt người, đạt 41,3% kế hoạch năm; điều trị nội trú và lưu trú: 68.434 lượt bệnh nhân, đạt 48,6% kế hoạch năm; điều trị ngoại trú: 67.202 lượt bệnh nhân, đạt 146,8% kế hoạch năm (chi tiết tại phụ lục 6).
Tổng số khám bệnh trong tháng của các phòng khám đa khoa ngoài công lập được 21.080 lượt, trong đó số khám bảo hiểm y tế 15.490 lượt; Chuyển viện: 645 lượt; Tổng số khám sức khỏe là: 1.104 lượt (trong đó, khám sức khỏe theo Thông tư 14/2013/TT-BYT: 428 lượt, Khám sức khỏe lái xe: 676 lượt). Cộng dồn 6 tháng: khám được 136.975 lượt, trong đó số khám bảo hiểm y tế 98.257 lượt; Chuyển viện: 4.016 lượt; Tổng số khám sức khỏe là: 10.812 lượt (trong đó: khám sức khỏe theo Thông tư 14/2013/TT-BYT: 3.378 lượt, Khám sức khỏe lái xe: 7.434 lượt).
[12] Trong tháng, không có vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra trên địa bàn tỉnh. Từ tháng 01 đến tháng 6/2020: Cấp Giấy Chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP: 32 cơ sở; tiếp nhận hồ sơ tự công bố sản phẩm 140 sản phẩm. Giám sát mối nguy ô nhiễm thực phẩm: Tổng số mẫu đã lấy: 300 mẫu thực phẩm, test nhanh 570 chỉ tiêu. Số mẫu không đạt yêu cầu: 16 mẫu, đã xử lý theo quy định của pháp luật. Số cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc ngành y tế quản lý được kiểm tra là 2.050/3.174 cơ sở, đạt 64,6% trên tổng số và đạt 68% kế hoạch
[13] Trong tháng: có 985 trẻ mới sinh, trong đó trẻ nam là 525 trẻ nữ là 460 (tỷ số giới tính khi sinh 114,1/100). Trẻ mới sinh là con thứ 3 trở lên là 8 trẻ chiếm 0,8 %. Cộng dồn 6 tháng: Có 4.155 trẻ mới sinh, trong đó trẻ nam là 2.215 trẻ nữ là 1.940 (tỷ số giới tính khi sinh 114,2/100). Trẻ mới sinh là con thứ 3 trở lên là 415 trẻ chiếm 9,99%.
[14] Tổng số bệnh nhân được quản lý là 845/916 ( đạt 92,2%), trong đó sbệnh nhân hiện đang quản lý và dùng thuốc ARV: 722 bệnh nhân ddatj 72,2% ; điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con; Duy trì 10 cơ sở điều trị và 9 điểm cấp phát thuốc thực hiện điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế với tổng số 1.598 bệnh nhân
  [15] Sau khi hết thực hiện giãn cách xã hội trong tình hình dịch bệnh Covid-19, số trẻ tạm hoãn tiêm những tháng trước đã thực hiện tiêm bù do đó tỷ lệ tiêm đầy đủ các loại vắc xin của trẻ dưới 1 tuổi tăng cao. Số trẻ dưới 1 tuổi được tiêm đầy đủ các loại vắc xin tháng 5 từ 01/5 đến 31/5 là 1.904/1.176 trẻ (đạt 161,9%), số liệu cộng dồn (01/01-31/5/2020) là 4.916/5.880 trẻ (đạt 83,6%) (cùng kỳ  năm 2019 là 49%); Số trẻ em được tiêm vắc xin phòng bệnh viêm gan B < 24 giờ trong tháng 770/930 trẻ (đạt 82,8%), số cộng dồn là 4.114/4.859 (đạt 84,7%) (cùng kỳ  2019 là 75,9%). Số phụ nữ có thai tiêm đủ AT2+ trong tháng 967/930 người đạt 104%, số cộng dồn là 3.015/4.879 (đạt 61,8%) (cùng kỳ là 67,9%).
       Cộng dồn 6 tháng tỷ lệ tiêm đầy đủ các loại vắc xin của trẻ dưới 1 tuổi  toàn tỉnh đat 83,6% ( cùng kỳ năm 2019 chỉ đạt 49% ).
[16] Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh.
[17] 01 vụ cháy nhà tại thành phố Lạng Sơn
[18] Nguồn: Ban An toàn giao thông tỉnh

Tác giả bài viết: Cục Thống kê tỉnh Lạng Sơn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây