Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn năm 2020

Thứ tư - 30/12/2020 04:52
Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước tính năm 2020 tăng 2,09% so với cùng kỳ. Trong mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế năm 2020, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,06%, đóng góp 0,56 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 2,35%, đóng góp 0,58 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 1,54%, đóng góp 0,75 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 2,04%, đóng góp 0,10 điểm phần trăm vào mức tăng chung.
Lạng Sơn thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2020 trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động. Tại thời điểm cuối tháng 6/2020, các tổ chức quốc tế và thể chế tài chính đều đồng loạt nhận định làn sóng lây nhiễm COVID-19 thứ hai đang diễn ra ở châu Âu và Bắc Mỹ có thể dẫn đến một đợt đóng cửa kinh doanh mới và kiệt quệ tài chính, tăng trưởng kinh tế toàn cầu suy thoái sâu trong năm 2020. Tuy nhiên, đến thời điểm giữa tháng 12, khi phần lớn các nền kinh tế tái khởi động sau phong tỏa do dịch COVID-19, dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới có những dấu hiệu khả quan hơn. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế cho rằng kinh tế toàn cầu có xu hướng phục hồi sau khi nới lỏng các biện pháp hạn chế nghiêm ngặt và các doanh nghiệp mở cửa trở lại. Theo đó, tổ chức này dự báo GDP thế giới giảm 4,2% trong năm 2020, điều chỉnh tăng 0,3 điểm phần trăm so với dự báo đưa ra vào tháng 9 năm 2020. Một số tổ chức khác như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức xếp hạng tín dụng quốc tế Fitch Ratings (FR), đều điều chỉnh tăng dự báo tăng trưởng toàn cầu trong năm 2020 so với các dự báo trước đây. Cụ thể, IMF và FRdự báo GDP thế giới năm 2020 ở mức -4,4%, và -3,7%, tăng 0,5 và 0,7 điểm phần trăm. Theo Ngân hàng Phát triển châu Á ADB, dự báo tăng trưởng của Trung Quốc đạt 2,1%, Hoa Kỳ giảm -3,5%, Khu vực đồng Euro giảm 7,4%, Nhật Bản giảm 5,4%, In-đô-nê-xi-a giảm 2,2%, Ma-lai-xi-a giảm 6,0%, Thái Lan giảm 7,8%, Phi-li-pin giảm 8,5% và Xin-ga-po giảm 6,2%.
Ở trong nước, mặc dù kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19, nhưng nhờ có các biện pháp đối phó chủ động, sáng tạo ở các cấp, kinh tế vĩ mô và tài khóa ổn định nên kinh tế Việt Nam có sức chống chịu đáng kể. Kinh tế tiếp tục phục hồi trong tháng 10, trong đó lĩnh vực sản xuất công nghiệp đã đạt được tốc độ tăng trưởng gần bằng giai đoạn trước dịch COVID-19; thặng dư thương mại hàng hóa tiếp tục tăng kỷ lục, một phần nhờ hàng xuất khẩu sang Mỹ tăng mạnh. Thặng dư thương mại hàng hóa trong 10 tháng đầu năm 2020 của Việt Nam đạt mức kỷ lục 17,7 tỷ USD, trong đó thặng dư tháng 10 đạt 1,4 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa tăng lần lượt 9,7% và 9,8% so với cùng kỳ năm trước; dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam tăng cho thấy niềm tin vào nền kinh tế được khôi phục sau đợt bùng phát dịch vào tháng 8. Khi làn sóng COVID-19 thứ hai được kiểm soát thành công.
Tỉnh Lạng Sơn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức; tình hình thiên tai (mưa đá, giông lốc), dịch bệnh, đặc biệt là đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng lớn, tác động trực tiếp đến mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội và đời sống của nhân dân. Trong bối cảnh đó, với sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, sự giám sát của HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo, điều hành tổ chức thực hiện các giải pháp kịp thời, trọng tâm, trọng điểm, tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khắc phục ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, thực hiện có hiệu quả “mục tiêu kép” theo chỉ đạo của Chính phủ, vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Xây dựng kịch bản phát triển kinh tế - xã hội để ứng phó với diễn biến từng giai đoạn của dịch và tình hình thực tế, vừa ổn định tình hình kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đời sống của nhân dân, vừa tập trung thúc đẩy các ngành, lĩnh vực có thế mạnh để bù đắp những thiệt hại do tác động của đại dịch gây ra.
Năm 2020 là năm cuối thực hiện kế hoạch 5 năm 2016 - 2020, năm diễn ra nhiều sự kiện quan trọng của cả nước và của tỉnh. Kết quả thực hiện năm 2020 có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI và tạo đà thúc đẩy phát triển cho các năm tiếp theo.
Sau một năm nỗ lực phấn đấu của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân các dân tộc, tranh thủ thời cơ, khắc phục hạn chế yếu kém, vượt qua khó khăn, thách thức, tỉnh Lạng Sơn đã đạt được những kết quả khá toàn diện trên mọi lĩnh vực. Cục Thống kê tỉnh Lạng Sơn khái quát một số kết quả phát triển kinh tế - xã hội quý IV và năm 2020 của tỉnh như sau:
1. Tăng trưởng kinh tế
1.1. Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm trên địa bàn[1] (GRDP) ước tính năm 2020 tăng 2,09% so với cùng kỳ. Trong mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế năm 2020, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,06%, đóng góp 0,56 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 2,35%, đóng góp 0,58 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 1,54%, đóng góp 0,75 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 2,04%, đóng góp 0,10 điểm phần trăm vào mức tăng chung.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: Trong 6 tháng đầu năm 2020 sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của thiên tai (giông lốc, mưa đá), thị trường tiêu thụ một số sản phẩm nông sản gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19. Công tác tái đàn lợn chậm hơn so với dự kiến do giống lợn khan hiếm, giá cao, trong năm dịch tả lợn Châu Phi xảy ra trên địa bàn toàn tỉnh. Tuy nhiên bước sang 6 tháng cuối năm khu vực này phát triển ổn định. Tiếp tục ứng dụng cơ giới hóa trong trồng trọt; chăn nuôi lợn đang dần được hồi phục sau dịch tả lợn Châu Phi.
Khu vực công nghiệp - xây dựng. Lĩnh vực sản xuất công nghiệp những tháng đầu năm hoạt động cầm chừng do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Bước sang quý IV/2020 trước tình hình dịch COVID-19 cơ bản được kiểm soát, cả nước bước sang giai đoạn vừa phòng, chống dịch bệnh vừa khôi phục và phát triển kinh tế, hoạt động sản xuất công nghiệp và xây dựng đã có tín hiệu tích cực. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 2,35% so với cùng kỳ.
Khu vực dịch vụ: Là khu vực chịu tác động lớn nhất bởi dịch COVID-19, trong thời gian giãn cách xã hội theo Chỉ thị  số 16 và 19 các quán ăn, cửa hàng kinh doanh dịch vụ hầu như bị đóng cửa; hoạt động du lịch cũng hạn chế, doanh thu giảm sâu ở hầu hết các ngành trong những tháng đầu năm và chỉ mới bắt đầu có dấu hiệu phục hồi từ quý IV/2020  khi tình hình dịch bệnh trong nước đã ổn định, nhu cầu tiêu dùng của người dân đang có xu hướng tăng sau thời gian dài thắt chặt chi tiêu bởi khó khăn do dịch bệnh và do bước vào “mùa mua sắm” lớn nhất trong năm và các đơn vị cung cấp hàng hoá, dịch vụ áp dụng các biện pháp khuyến mại, giảm giá nhằm kích cầu tiêu dùng cuối năm nên hoạt động thương mại, dịch vụ nói chung có xu hướng tăng nhưng vẫn còn khá chậm. Tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ cũng thấp hơn nhiều so với các năm trước, chỉ tăng 1,54% so với cùng kỳ năm trước.
Thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm: Tăng 2,04%, đóng góp 0,10 điểm phần trăm vào mức tăng chung.
1.2. Cơ cấu kinh tế
Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu kinh tế năm 2020
 
 
Quy mô GRDP theo giá hiện hành ước tính đạt 34.276 tỷ đồng. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 23,19%; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 22,47%; khu vực dịch vụ chiếm 49,59%; thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm chiếm 4,75%. 
2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
2.1. Nông nghiệp
Tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm toàn tỉnh thực hiện được 92,66 nghìn ha, giảm 0,39% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó:
- Vụ Đông - Xuân năm 2020 Thời tiết diễn ra phức tạp mưa nhiều, có dông, xuất hiện mưa đá, rét đậm, rét hại nên đã phần nào ảnh hưởng đến việc làm đất, sinh trưởng phát triển các loại cây trồng. Qua tổng hợp báo cáo của các Chi cục Thống kê các huyện, thành phố và từ kết quả điều tra về diện tích, năng suất, sản lượng vụ Đông - Xuân năm 2020: Tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm vụ Đông - Xuân năm 2020 thực hiện được 47.215,65 ha, tăng 1,32% so với cùng kỳ, diện tích tăng chủ yếu ở cây ớt cay, cây thạch đen và cây lúa, do ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19, nên phần lớn lao động chính trong các hộ dân ở các địa phương không thể sang Trung Quốc lao động thuê như trước, người nông dân đã mở rộng diện tích gieo trồng để có thêm thu nhập cho gia đình.
- Tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm vụ Mùa năm 2020 thực hiện 45.441,69  ha, giảm 1,99% so với cùng kỳ, giảm chủ yếu ở cây lúa (-468,55 ha), cây ngô (-328,40 ha) là do đầu vụ thời tiết nắng hạn kéo dài, ít mưa không đảm bảo nước lượng nước phục vụ sản xuất nên diện tích gieo cấy lúa mùa giảm so với vụ Mùa năm trước; một số diện tích ruộng gần các trục đường giao thông thuộc huyện Hữu Lũng, Chi Lăng người dân chuyển sang trồng cây ăn quả, ươm giống cây lâm nghiệp
Đàn gia súc trên địa bàn tỉnh phát triển ổn định; đàn lợn giảm do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi; đàn gia cầm có dấu hiệu tăng nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân.
- Ước tổng đàn trâu xuất chuồng: 27 nghìn con, tăng 2,44% so với cùng kỳ năm trước.
- Ước tổng đàn bò xuất chuồng: 8,1 nghìn con, tăng 2,46% so với cùng kỳ. Để hỗ trợ người dân trong phát triển kinh tế, một số chương trình đã được tổ chức và thực hiện có hiệu quả như dự án hỗ trợ phát triển sản xuất cho các xã nông thôn mới và chương trình 30a hỗ trợ nhân rộng mô hình giảm nghèo cho các hộ gia đình (Đình Lập, Bình Gia).
- Ước tổng đàn lợn xuất chuồng: 277 nghìn con, giảm 4,89%  so với cùng kỳ năm trước. Do ảnh hưởng dịch Covid-19 nên giá thịt lợn hơi cao, nhu cầu tiêu thụ lớn nên người dân đã tái đàn mở rộng chăn nuôi lợn, tuy nhiên tốc độ tái đàn chậm do dịch bệnh vẫn còn xảy ra tại một số địa phương, gây tâm lý e ngại cho người chăn nuôi.
- Ước tính tổng đàn gia cầm xuất chuồng: 6.610 nghìn con, tăng 6,28% so với cùng năm trước. Trên địa bàn toàn tỉnh có xu hướng phát triển chăn nuôi đàn gà, giảm chăn nuôi đàn vịt, ngan, ngỗng do điều kiện chăn thả và nhu cầu của thị trường.
2.2. Lâm nghiệp
- Diện tích rừng trồng mới tập trung năm 2020 sơ bộ thực hiện được 10 nghìn ha, tăng 0,67% so với cùng kỳ năm trước, diện tích gieo trồng tăng chủ yếu ở huyện Tràng Định, do người dân trên địa bàn huyện được hỗ trợ từ các chương trình dự án trồng rừng sản xuất thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước để thực hiện trồng rừng phát triển kinh tế hộ gia đình.
2.3. Thủy sản
Diện tích nuôi trồng thủy sản
Lạng Sơn là tỉnh miền núi với số lượng ao, hồ ít nên nuôi trồng thủy sản không phải là thế mạnh. Phương thức nuôi chủ yếu là nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến. Các hộ dân chủ yếu nuôi trồng thủy sản tại các ao, hồ phân tán nên diện tích nuôi trồng thủy sản khá nhỏ, nguồn nước mặt còn hạn chế, chủ yếu phụ thuộc vào lượng nước mưa, nên nhiều diện tích nuôi trồng thủy sản hàng năm thường không chủ động được nguồn nước, khó phát triển sản xuất thủy sản thâm canh, bán thâm canh. Ước tính diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh năm 2020 đạt 1.260,3 ha, tăng 0,85% so với cùng kỳ năm trước, tăng ở hai hình thức nuôi.
Sản lượng thủy sản
Sản lượng thủy sản cả năm sơ bộ 1.733nghìn tấn, tăng 3,93% so với cùng kỳ năm trước, tăng chủ yếu tập trung ở sản phẩm thủy sản nuôi trồng (chiếm 83,62%). Phong trào nuôi cá lồng trên địa bàn tỉnh vẫn tiếp tục có chiều hướng phát triển, có nhiều hợp tác xã nuôi trồng thủy sản phát triển, vùng nuôi tập trung như hợp tác xã cá lồng Tân Minh (huyện Văn Quan), hợp tác xã thủy sản Lê Hồng Phong (huyện Bắc Sơn)...
3. Sản xuất công nghiệp
Năm 2020 là một năm khó khăn đối với phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã. Các doanh nghiệp, hợp tác xã đa phần chịu ảnh hưởng lớn của đại dịch Covid-19. Ủy ban nhân dân tỉnh đã tổ chức Hội nghị đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, kinh doanh cho doanh nghiệp, hợp tác xã; chỉ đạo, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ quan, đơn vị của tỉnh trong công tác tháo gỡ khó khăn, phục hồi sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp. Do đó, hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã có xu hướng ổn định trở lại.
Chỉ số sản xuất của các ngành công nghiệp năm 2020 so với cùng kỳ năm trước dự ước tăng 3,93%. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 3,65%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng  1,78%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 6,89%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 3,61% so với cùng kỳ
4. Thương mại, dịch vụ
4.1. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội
Doanh thu bán lẻ hàng hóa Quý IV/2020 dự ước đạt 4.542,8 tỷ đồng, so với quý trước tăng 7,96% và so với cùng kỳ tăng 1,54%. Cả năm 2020, ước đạt 19.180 tỷ đồng, giảm 3,57% so với cùng kỳ năm trước.
4.2. Vận tải hành khách và hàng hóa
Năm 2020, do ảnh hưởng từ dịch Covid-19. Hoạt động kinh doanh vận tải trên địa bàn cũng bị ảnh hưởng lớn, đặc biệt là vận tải hành khách. Mặc dù các tháng cuối năm, số lượng khách du lịch trong ngày có cao hơn nhiều những tháng giữa năm, tuy vậy hoạt động vận tải hành khách chưa được cải thiện.
Dự ước cả năm 2020, tổng doanh thu toàn ngành đạt 1.536 tỷ đồng, giảm 2,69% so với năm 2019. Trong đó:
- Hoạt động vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 221 tỷ đồng (giảm 42,84% về doanh thu; giảm 40,61% về khối lượng hành khách vận chuyển và giảm 38,98% khối lượng hành khách luân chuyển). Nguyên nhân doanh thu và sản lượng vận tải hành khách giảm nhiều so với cùng kỳ: Trên địa bàn số lượng ô tô, phương tiện vận tải cá nhân tăng cao; do ảnh hưởng của dịch Covid-19, nên số lượng người di chuyển giữa các địa phương bằng phương tiện công cộng giảm. Trên địa bàn tỉnh duy nhất chỉ có 01 doanh nghiệp hoạt động vận tải có vốn FDI, hoạt động chủ yếu là kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng, trong năm chủ yếu do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên doanh nghiệp này dự ước doanh thu cả năm chỉ được 2,7 tỷ đồng (doanh thu bằng 17,53%; khối lượng hành khách vận chuyển bằng 14,86%; khối lượng hành khách luân chuyển bằng 15,46% so với năm trước).
- Hoạt động vận tải hàng hóa: Doanh thu vận tải hàng hóa đạt 922 tỷ đồng (tăng 9,31% về doanh thu, giảm 28,24% về khối lượng hàng hóa vận chuyển, tăng 15,56% về khối lượng hàng hóa luân chuyển so với năm 2019). Mặc dù ảnh hưởng từ dịch bệnh, hàng hóa xuất, nhập khẩu sang Trung Quốc giảm nhiều, tuy nhiên trên địa bàn có một số doanh nghiệp vẫn duy trì được nguồn hàng vận chuyển đi các nước trong khu vực Đông Nam Á (Lào, Campuchia, Thái Lan) và Trung Quốc.
- Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 390 tỷ đồng, tăng 12,71%; doanh thu hoạt động chuyển phát đạt 3 tỷ đồng, tăng 38,79% so với năm 2019.
5. Tài chính, ngân hàng
5.1. Tài chính
 Công tác quản lý thu, chi ngân sách Nhà nước trong năm 2020 đã đáp ứng kịp thời kinh phí để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng; đáp ứng được nhu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị của các cấp, các ngành và các địa phương trong tỉnh.
Tổng thu ngân sách trên địa bàn năm 2020 ước đạt 6.203 tỷ đồng, giảm 10,6% so với năm 2019. Trong đó, thu nội địa đạt 2.600 tỷ đồng, giảm 18,7% so với năm 2019, thu Hải quan đạt 3.600 tỷ đồng, giảm 2,8% so với năm 2019.
Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện năm 2020: 12.839 tỷ đồng, giảm 2,2% so với năm 2019. Trong đó: Chi cân đầu tư phát triển: 1.413 tỷ đồng, giảm 18,1% so với năm 2019. Chi thường xuyên: 7.351 tỷ đồng giảm 6,4%% so với năm 2019.
5.2. Ngân hàng
Các Ngân hàng trên địa bàn chủ động tiếp cận, làm việc với khách hàng nói chung, doanh nghiệp nói riêng để nghiên cứu, tìm hiểu về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhu cầu vốn vay, giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi của ngân hàng; thực hiện cho vay theo các chương trình cho vay ưu đãi của Chính phủ và của địa phương; triển khai các sản phẩm cho vay với lãi suất ưu đãi; thực hiện cơ cấu lại kỳ hạn trả nợ; giảm lãi suất cho vay; đánh giá lại chất lượng tín dụng và khả năng thu hồi của các khoản nợ, để có biện pháp xử lí phù hợp, hỗ trợ doanh nghiệp giảm bớt khó khăn, ổn định và phát triển.
Ước thực hiện đến ngày 31/12/2020: Tổng huy động vốn đạt 30.310 tỷ đồng, tăng 3,6% so với 31/12/2019; Dư nợ tín dụng đạt 32.848 tỷ đồng, tăng 5,1% so với 31/12/2019.
6. Chỉ số giá
6.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá bình quân 12 tháng năm báo cáo so với cùng kỳ năm trước tăng 6,06% do ảnh hưởng của một số nhóm hàng sau: (1) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 17,21%; (2) Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,13%; (3) Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,97%; (4) Nhóm giáo dục tăng 5,11%;  (5) Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,52%...
6.2. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
- Chỉ số giá vàng bình quân năm 2020 tăng 27,06% so với bình quân cùng kỳ.
- Chỉ số giá đô la Mỹ bình quân năm 2020 tăng 0,35% so với bình quân cùng kỳ.
7. Đầu tư - Xây dựng
Vốn đầu tư thực hiện, trên địa bàn tỉnh năm 2020 nhìn chung đạt kế hoạch đề ra, hoàn thành toàn bộ và bàn giao đưa vào sử dụng một số công trình, hạng mục công trình như: Nhà làm việc liên ngành và nhà Công vụ cửa khẩu Bình Nghi; Đường Hữu Nghị - Bảo Lâm thuộc hạ tầng Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn; cải tạo mở rộng Trung tâm bảo trợ tỉnh Lạng Sơn; Đường du lịch Hải Yến - Công Sơn - Mẫu Sơn; đường giao thông khu phi thuế quan; dự án hợp phần 1,  khôi phục, cải tạo đường địa phương (viết tắt là dự án LRAMP) đã bàn giao đưa vào sử dụng...
Tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công năm 2020; đôn đốc các chủ đầu tư, nhà thầu, đẩy nhanh tiến độ nghiệm thu khối lượng hoàn thành, hoàn chỉnh hồ sơ thủ tục để thanh toán vốn, không để tồn đọng kế hoạch vốn sang năm sau. Các dự án tiếp tục đẩy nhanh tiến độ gồm: Đường đến trung tâm xã Tân Yên, huyện Tràng Định; đường đến trung tâm các xã Xuân Dương - Ái Quốc (huyện Lộc Bình) và xã Thái Bình (huyện Đình Lập); dự án “Hạ tầng cơ bản phát triển toàn diện các tỉnh Đông Bắc: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn và Lạng Sơn” - Tiểu dự án tỉnh Lạng Sơn; hợp phần bồi thường hỗ trợ Tái định cư dự án Hồ chứa nước Bản Lải (hạng mục xây dựng cầu Pò Háng, xây dựng hai khu tái định cư, cải tạo nâng cấp hai đoạn đường, thu dọn lòng hồ); cải tạo nâng cấp Quốc lộ 4B(đoạn km3+700-km18); dự án Khu tái định cư dân cư Nam thành phố Lạng Sơn.
Dự ước vốn đầu tư thực hiện năm 2020 đạt 15.034 tỷ đồng, tăng 1,63%  so với cùng kỳ.
- Phân theo nguồn vốn: Vốn Nhà nước trên địa bàn ước đạt: 4.588 tỷ đồng, giảm 3,94% so với cùng kỳ. Vốn ngoài Nhà nước 10.387 tỷ đồng, tăng 4,34%  so với cùng kỳ. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 59 tỷ đồng, giảm 3,92%.
8. Các vấn đề xã hội
 8.1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội
Dân số trung bình của tỉnh năm 2020 ước tính đạt 788.706 người, tăng 0,75% so với năm 2019, bao gồm: dân số nam 403.407 người, chiếm 51,15% tổng dân số cả tỉnh, tăng 0,87% so với năm trước; dân số nữ 385.299 người, chiếm 48,85%, tăng 0,63%. Trong tổng dân số cả tỉnh năm nay, dân số thành thị 181.715 người, chiếm 23,04% tổng dân số, tăng 13,45% so với năm trước; dân số khu vực nông thôn là 606.991 người, chiếm 76,96%, giảm 2,51% so với năm trước. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2020 ước đạt 505 nghìn người, tăng 1,01% so với năm trước; trong đó lao động nữ từ 15 tuổi trở lên có 243 nghìn người, chiếm 48,15%, tăng 1,27% so với năm 2019. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc ước đạt 492 nghìn người, tăng 1,01% so với năm trước, lao động làm việc trong các ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 57,60%; ngành dịch vụ chiếm 32,80%; ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 9,60% trong tổng số lao động đang làm việc.
8.2. Tình trạng việc làm[2]
Tạo việc làm mới cho 15.000 người đạt 100% kế hoạch, Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm cho vay vốn 39,536 tỷ đồng với 1.038 dự án, tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm cho 1.038 người lao động.
8.3. Giáo dục[3]
Ngành Giáo dục đã chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện các Đề án, Kế hoạch, Chỉ thị, Nghị quyết của HĐND, UBND tỉnh. Thực hiện 09 nhiệm vụ trọng tâm và 05 nhóm giải pháp Bộ GDĐT giao, các nhiệm vụ trọng tâm UBND tỉnh giao đảm bảo tiến độ; Ban hành các văn bản thực hiện nhiệm vụ trọng tâm tới toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh sinh viên trong toàn ngành; triển khai kịp thời các văn bản chỉ đạo của Bộ GDĐT, của tỉnh, văn bản hướng dẫn của ngành tới các đơn vị trực thuộc; thực hiện nghiêm túc  các văn bản chỉ đạo về các biện pháp cấp bách phòng, chống Covid -19. Kịp thời ứng phó với các diễn biến của dịch bệnh, điều chỉnh linh hoạt kế hoạch giáo dục. Tổ chức dạy học trực tuyến, dạy học trên truyền hình đạt kết quả bước đầu.
Công tác rà soát., sắp xếp, đổi tên trường sau khi sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã đảm bảo tiến độ. Chất lượng giáo dục ổn định. Tính đến thời điểm tháng 9/2020 toàn tỉnh có 232 trường học đạt chuẩn quốc gia, tăng 21 trường so với năm 2019 (vượt 06 trường so với kế hoạch năm 2020). Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT năm 2020 đạt 97,09% (tăng 6,86% so với năm 2019, tăng phổ điểm các môn thi). Tổ chức tốt việc khai giảng năm học 2020-2021.
8.4. Y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng[4]
Tại Lạng Sơn, tình hình dịch COVID-19 đang được kiểm soát tốt, trong năm 2020 ghi nhận 04 ca mắc Covid-19 trong cộng đồng. (đã điều trị khỏi);
Công tác khám chữa bệnh được triển khai thực hiện đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân, thực hiện tốt công tác phòng chống dịch COVID-19. Các cơ sở khám, điều trị bệnh công lập và ngoài công lập thực hiện tốt chức năng chuyên môn, không sai sót, không xảy ra tai biến trong khám, điều trị bệnh.
8.5. Văn hoá,  thông tin, thể dục thể thao[5]
Thực hiện chỉ đạo về công tác phòng, chống dịch COVID-19, trên địa bàn toàn tỉnh đã nghiêm túc thực hiện việc dừng các lễ hội có số lượng lớn người dân và du khách tham gia cũng như các hoạt động văn hóa, văn nghệ, lễ kỷ niệm, ngày truyền thống, các chương trình vui chơi, giải trí tập trung đông người. Hoạt động văn hóa, nghệ thuật trong năm tập trung vào chào mừng các ngày Lễ lớn, các sự kiện trọng đại của đất nước, của tỉnh.
8.6. Môi trường
 Tính chung cả năm 2020 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 7 vụ cháy (giảm 3 vụ so với năm 2019). Tổng giá trị thiệt hại trên 26,3 tỷ đồng (giá trị thiệt hại năm 2019 là trên 6 tỷ đồng) không có người chết và có 1 người bị thương.
8.7. Trật tự - An toàn giao thông[6].  
Năm 2020, tình hình trật tự an toàn giao thông có nhiều chuyển biến tích cực, tai nạn giao thông được kiềm chế. Tính từ tháng 01/2020 đến 15/12/2020, trên địa bàn tỉnh xảy ra 52 vụ, làm chết 52 người và bị thương 20 người; so với năm trước, số vụ tại nạn giao thông giảm 4 vụ, giảm  7 người chết, giảm 3 người bị thương.
Nguyên nhân chủ yếu gây ra tai nạn giao thông: Chủ yếu là do ý thức kém của người tham gia giao thông như: uống rượu bia, chạy quá tốc độ, đi sai phần đ­ường, không chú ý quan sát.... Ban An toàn giao thông các cấp phối hợp với các cơ quan chức năng tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân về chấp hành Luật giao thông đường bộ.
8.8. Thiệt hại do thiên tai
Trong năm 2020 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn xảy ra 7 vụ thiệt hại do ảnh hưởng thiên tai. Ước tính thiệt hại như sau:
- Thiệt hại về người: 01 người chết và 01 người bị thương.
- Nhà bị thiệt hại: 8.405 (nhà)
- Diện tích lúa bị thiệt hại: 209,2 (ha)
- Diện tích hoa màu bị thiệt hại: 606,14 (ha)
- Gia súc bị chết, cuốn trôi: 03 (con)
- Gia cầm bị chết, cuốn trôi:121 (con)
Ước tổng thiệt hại trên địa bàn tỉnh trên 66.477 triệu đồng./.
 

[1]Số liệu do Tổng cục Thống kê công bố ngày 30/11/2020, thực hiện theo Quyết định số 715/QĐ-TTg ngày 22/5/2015 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt Đề án đổi mới quy trình biên soạn số liệu Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
  [2] Nguồn: Sở Lao động, Thương binh và xã hội tỉnh.
[3]  Nguồn: Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh.
[4] Nguồn: Sở Y tế tỉnh.
[5] Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh.
[6] Nguồn: Ban An toàn giao thông tỉnh

Tác giả bài viết: Cục Thống kê tỉnh Lạng Sơn

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây